Đàm Trung Phán

Những bài viết …..

QUAN ÂM THỊ KÍNH – Ngô Tằng Giao

THUYỀN ĐỜI – Thay Lời Kết – Đàm trung Phán

THAY LỜI KẾT

Bài viết của Giáo Sư ĐÀM TRUNG PHÁN


Giáo sư Đàm Trung Phán sinh năm 1942 tại Bắc Ninh, Việt
Nam. Du học tại Úc Ðại Lợi và định cư tại Canada từ năm
1969.

  • 1970 đến 2002 tại Centennial College, Toronto,
    Canada: Giáo Sư thực thụ và Giáo Sư Trưởng Phòng của
    Ngành Công Chánh, Giáo Sư thực thụ và đồng sáng lập viên
    ngành Bảo Vệ Môi Sinh.
  • 1993: Nhận giải thưởng “New Pioneers’ Award” (giải
    thưởng “Tiền Phong”) của chính phủ Canada cho những
    đóng góp về giáo dục và các công tác thiện nguyện giúp
    những người di dân mới tới và cộng đồng Việt Nam vùng
    Toronto.
  • 2001: Nhận giải thưởng “Teaching Excellence” (giải
    thưởng “Giảng Dậy Xuất Sắc”) do Centennial College tại
    Canada và University of Texas at Austin tại Hoa Kỳ trao
    tặng.
  • Cựu Chủ Tịch Hội Phụ Huynh Học Sinh Việt Nam vùng
    Toronto. Đồng sáng lập viên và cựu Chủ Tịch Hiệp Hội Chuyên
    Gia Việt Nam vùng Ontario. Sáng lập viên và cựu Giáo Sư
    Hướng dẫn của Civil Club, Environmental Protection Club,
    Vietnamese Alumni and Students’ Club of Centennial
    College.
  • 2002: Về hưu non và trở thành Hội Viên của “Canada
    Speakers’ Bureau” (Hội các diễn giả của Chính Phủ
    Canada).
  • Bắt đầu viết văn, làm thơ từ năm 1989 và sau năm
    2000, bắt đầu đóng góp bài vở bằng tiếng Việt và tiếng Anh
    cho các Websites, báo chí Việt Nam và Canada.
    https://damtrungphan.wordpress.com/

Năm 1982, khi ĐTP mới vừa tròn 40 tuổi, được gặp lại
một anh bạn thân tại văn phòng nha sĩ. Chúng tôi trò truyện với
nhau được vài phút thì anh bạn tôi phải vào… “ngồi trên ghế
điện” để… “mần răng”. Ngay sau đó, một ông Việt Nam, cỡ
tuổi trên 50 đến ngồi cạnh tôi và bắt chuyện.

  • Chú là dân Bắc kỳ di cư phải không?
  • Dạ phải, mà tại sao ông lại hỏi tôi như vậy?
  • Chú ơi tôi là một dân Nam kỳ, mới từ đảo bên Mã Lai
    sang đây. Nghe chú nói tiếng Bắc, tôi nhớ lại hồi năm 1954
    khi người Bắc mới di cư vô Nam. Tụi tôi la ó dân Bắc kỳ di
    cư quá xá: “Nước nhà đã hòa bình rồi mà tại sao lại bỏ đất
    Bắc mà di cư vô Nam làm chi? Sau năm 1975, dân Nam Kỳ
    chúng tôi đã phải sống với Cộng Sản và mới biết chế độ
    Cộng Sản Việt Nam nó ra sao. Bây giờ gặp chú – một dân
    Bắc kỳ di cư – ở đây, tôi muốn nói lời xin lỗi muộn màng của
    tôi cũng như một số người bạn Nam Kỳ khác tới những
    người Bắc Di Cư 54 vì tụi tôi cứ tưởng là Việt Nam đã được
    hòa bình. Tụi tôi đã lầm to. Sau năm 1975, tụi tôi đã phải đi
    tù cải tạo rồi sau đó phải bỏ nước ra đi!
    Tôi vui vẻ bắt tay ông, trong lòng thấy thương tiếc cho
    dân mình. Cũng không quên cho ông biết tên và số điện thoại
    của tôi, để sẵn sàng giúp ông làm quen với đời sống tại miền
    “đất lạnh tình nồng” Canada này.
    Năm 2020, không ngờ “Thuyền Đời” đã đưa đẩy để Bắc
    kỳ di cư Đàm Trung Phán (ĐTP) “gặp được” Thuyền nhân
    Bùi Đức Tính (BĐT) qua Internet.
    Hôm nay, một ngày đầu tháng Sáu cuối Xuân 2022 tuyệt
    vời tại thành phố Mississauga, tôi bắc ghế ra balcony để ghi
    lại những cảm nhận riêng tư khi ĐTP đọc “Thuyền Đời” của
    BĐT.

Khi đang viết những dòng này, ĐTP đã chập chững đi
vào tuổi 80: mắt yếu, tai nghe không rõ và trong vòng 18
tháng đã bị đời đánh mất 6 người thân vì bệnh tật, già yếu và
biến cố COVID… Tôi ngồi thả hồn về Hà Nội của năm
1954.
… Hà Nội chập chờn, Hà Nội se lạnh và Hà Nội trong bối
cảnh của “nửa gia đình ở lại Hà Nội, nửa gia đình di cư vào
Nam!” nhất là sau tháng 6, 1954.
Lúc này thân mẫu chúng tôi không được khỏe cho lắm.
Năm 1952, bà cụ đã phải bỏ hết ruộng vườn, nhà cửa tại làng
quê chúng tôi ở Bắc Ninh để ra Hà Nội đoàn tụ với thân phụ
và anh chị em chúng tôi và nhất là để tránh cái vụ bị đấu tố.
Cha mẹ chúng tôi dốc hết số tiền dành dụm được để mua một
căn nhà ở Hà Nội. Chúng tôi được sống hạnh phúc từ năm
1952 đến năm 1954 tại Hà Nội vì không còn bị Việt Minh
Cộng Sản dòm ngó!
Ngày cuối cùng trước khi Hà Nội bị tiếp thu, gia đình
chúng tôi leo lên máy bay để vào Nam bằng Tàu Bay, trong
khi đó còn nhiều người Bắc vào Nam bằng Tàu Thủy…” Tàu
đời” (tàu bay, tàu thủy) đã mang một triệu người Bắc di cư
vào Nam. Không nghe thấy cái vụ bị đắm tàu, có ai bị Hải
tặc/Không tặc hãm hại.
Miền Nam Việt Nam sống trong tự do, hạnh phúc mặc dù
hay bị quân đội Cộng sản Bắc Việt quấy phá.
Thế rồi, sau ngày 30/04/1975, “Thuyền Đời” (tạm dịch
sang tiếng Anh là “The Boat of Life”) đã mang hàng triệu
người Việt vượt biên, vượt biển để đi tìm tự do.
Tác phẩm “Thuyền Đời” gồm có 23 tiết mục (tạm coi như
các chương sách ngắn) mô tả đời sống của dân chúng miền
Nam sau biến cố 30/4/1975.
Tác giả BĐT đã phác họa “Thuyền Đời” như sau:
“Thuyền và Đời như những cuộc tình được ơn trên ban
bố, định phần. Thuyền đời ôm ấp, chuyên chở số phận con
người qua năm tháng.”

Nếu ĐTP là đạo diễn của cuốn phim “Thuyền Đời”, tôi sẽ
chia ra 2 đoạn chính của cuốn phim như sau:

  • Phần đầu mô tả cuộc sống của Miền Nam Việt Nam sau
    biến cố 30/4/1975 (đoạn 1 cho đến hết đoạn 14).
  • Phần cuối mô tả chiếc tàu 3932? bị hải tặc Thái Lan tấn
    công bằng 2 chiếc thuyền to để rồi 56 người bị mất mạng và
    17 người sống sót vì đã may mắn “được sóng biển” đưa đẩy
    họ trôi dạt vào bờ rồi sống trong trại tỵ nạn trước khi được đi
    định cư.
    Trong nhiều cuốn sách viết về Thuyền Nhân Việt Nam,
    nhất là cuốn “Running on Empty”/ “Còng Lưng Vẫn Gánh”,
    ĐTP chúng tôi chưa có cơ hội để đọc được cảnh “hải chiến”
    hãi hùng với hải tặc và cảnh một số ít người sống sót vì họ đã
    may mắn bám vào một mảnh ván rồi được sóng biển cuốn họ
    vào bờ.
    Xin trích vài đoạn văn của tác giả BĐT:
    “Ngó sang thằng lái tàu, thấy nó cũng đang quay sang
    nhìn tôi. Cái gì đó đang sôi sục trong dòng máu, uất ức tràn
    dâng. Nóng bức, bực bội, tôi lột phăng cái áo quăng mạnh
    xuống mui ghe. Ghe nghiêng lắc. Cơn gió thốc cuốn cái áo
    bay vụt đi…”
    “Chết mẹ rồi! Thằng Hiến… Nó rớt xuống biển!
    “Ánh sáng chan hòa; tôi bay vào chốn thiên đàng? Bỗng
    dưng tôi bị va đập mạnh. Thật mạnh. Đau rát. Cảm giác ấy
    là thực, là mình còn sống hay chỉ là những nhận thức sau
    cùng, thấy đau đớn khi vĩnh viễn rời xác thịt của trần thế để
    vào thế giới của xác hồn? Ánh sáng tự dưng tắt ngòm…”
    Đã có hàng vạn người vượt biên bị tử vong như vậy. Chết
    trong đau đớn, nghiệt ngã, uất hận vì Cộng sản, vì những con

thú hải tặc Thái Lan… ĐTP tin rằng vì họ đã bị chết bất đắc
kỳ tử cho nên vong hồn của họ vẫn chưa được siêu thoát…
Xin mời bạn đọc vào đọc bài thơ dưới đây (được cố GS
Đàm Trung Pháp dịch sang Anh ngữ) mà ĐTP chúng tôi đã
mô tả trong 3 đợt mơ khác nhau. Mỗi một đợt mơ lập đi lập
lại từ 7 cho tới 10 lần…

TRI ÂN, TƯỞNG NIỆM, CỘI NGUỒN

Bài thơ này
Đã được phôi thai trong rất
nhiều đêm.
Trong cơn ngủ say,
Tôi đã thấy
Bập bềnh trong đầu óc
Một ngôi mộ bằng granite
mầu hồng
Lững lờ trôi trong không
gian.
Tôi không hề sợ hãi
Bình thản mà ngắm nhìn
nấm mồ
Nổi trôi trong đầu óc.
Một nấm mồ mầu hồng
Bồng bềnh trong nhiều
đêm khác nhau.
Thế rồi,
Trong đầu óc đã hiện ra
Một màn đêm tối đen
Ở phía dưới
Với phần xám xịt
Ở phía trên.
Trong cái màn đêm đó,
Là những đốm lờ mờ

Trông giống như những
que củi ngắn
Lững lờ, bập bềnh trôi
Trong khoảng trống không
gian vô định.
Tôi không hề sợ hãi
Nhưng cảm nhận thấy lòng
buồn vô hạn
Cảnh vật này
Đã theo tôi
Tự đêm này qua đêm khác.
Thế rồi,
Lại có nhiều đêm
Trong giấc ngủ bình
thường,
Lúc trời sắp rạng đông.
Những xác người
Không có đầu lâu
Bập bềnh trôi theo giòng
nước.
Xót xa vô cùng
Giấy bút nào tả được
Nỗi niềm xót thương này.
Những giấc mơ
Tiếp tục theo tôi

Đêm này qua đêm khác.
Tôi chợt hiểu và nguyện
cầu:
“Hỡi các oan hồn mất xác
lúc vượt biên,
Tôi hứa sẽ làm
Một điều gì đó
Để các vong linh vất
vưởng
Có nơi trở về hội tụ
Để dương gian tưởng
nhớ.”
Chúng tôi đi xin miếng đất
Xây dựng tượng đài
Để tri ơn Canada và thế
giới
Đã cưu mang mạng sống
Thuyền Nhân.
Cho các vong linh người bị
chết oan nghiệt

Có nơi hội tụ.
Để dương gian
Cầu nguyện cho các oan
hồn
Được vãng sinh
Để nhắc nhở con cháu sau
này
Không nên sống bạo tàn
Cho đời sống dương gian
Được an bình, êm ấm.
Hỡi Thế Giới Tâm Linh:
Chúng tôi xin thắp nén
hương lòng

Cầu nguyện cho các vong
linh
Sớm được siêu thoát.
Cát bụi ai cũng sẽ trở về,
Vong linh vất vưởng người
đời nhớ cho
Công bằng, bác ái, tự do
Xin người dương thế sống
cho nhân hòa.

Phải chăng đây là một tín hiệu của các vong hồn
thuyền nhân đã tử nạn trên biển cả như Hiến, như các
thuyền nhân … trong Thuyền Đời? Muc đích là họ
muốn nhờ chúng ta giúp cho họ sớm được vãng sanh?
Đàm Trung Phán
6/6/2022
Mississauga, Canada.

Sách có thể mua được qua AMAZON.COM hay AMAZON.CA:

https://www.amazon.com/s?k=thuyen+doi+book&i=stripbooks&crid=U5GUKRUIFL6W&sprefix=thuyen+doi+book%2Cstripbooks%2C116&ref=nb_sb_noss

(Hoa kỳ)

https://www.amazon.ca/dp/B0B7QT4YF4/ref=sr_1_1?crid=212WJCRECV0FM&keywords=thuyen+doi+book&qid=1659276244&sprefix=thuyen+doi+book%2Caps%2C108&sr=8-1

(Canada )

MẤT TÍCH – FOREVER DISAPPEARED

LeTamAnh

Đàm Trung Phán

MẤT TÍCH

FOREVER DISAPPEARED

Có những chiều ta ngồi nghe em hát

Many afternoons, listening to your singing

Có những chiều ta ngồi ngắm em đan

Watching you peacefully knitting in the evenings

Dư hương ngày cũ giờ đã phai tàn

Remained now only days of by-gone memories

Mất em tháng tư thiên đường sụp nát

I lost you in April, in our destroyed paradise

Con Lộ 7 khi tinh cầu rung xác,

Highway 7, in the trembling world

Đoàn hùng binh bỗng biến mất sau rừng.

Heroic platoons suddenly disappeared into the jungle.

Tiếng pháo rềnh rầm rập bước chân chen

Loud noise after load noise as caused by running people

Em mất hút trong dòng người xoáy dốc!

Swallowed then disappeared was my Darling in people’s whirlwind!

Ta bới đào tìm em mòn khô khốc,

Digging up, I searched for you dried up somewhere.

Kiếp lưu đày qua các trại tù xa

Me, locked up in isolated prisons far away from civilization

Nào Z30 rồi chuyển đến Hồng Ca

From Z30, transferred to Hong Ca

Hoàng Liên Sơn, Tháp Bà , Vĩnh Phú!

Hoang Lien Son, Thap Ba, Vinh Phu!

Bóng dáng em theo anh mòn phố củ,

Your shadow following me back to our old street

Linh hồn em vẫn tồn tại quan hà.

Your soul still exists, where ever we go.

Sốt rét rừng Suối Lệ Ngọc đường xa,

Le Ngoc jungle, so far away, famous with malaria.

Anh cứ nhớ hồn run lên lạnh lẽo.

Missing you, my soul trembled in cold shivers

Năm tháng tha hương tuôn trào khắp nẻo,

Living as an expatriate, tears coldly follow me wherever I go.

Anh vẫn hoài tưởng nhớ bóng dáng em

Me, still searching for your look, your body, my sweetest darling.

Ba mươi tháng tư như vẫn chưa quên,

How could I ever forget April 30?

Ngày đất mẹ và em cùng mất tích!

The day when our motherland and you forever disappeared!

Việt ngữ: Letamanh

Anh ngữ: Đàm Trung Phán

2022

&&&

NÓI VỚI TUỔI TRẺ VIỆT!

(Của một lính già)

MY WORDS TO THE YOUNG VIETNAMESE GENERATION

(FROM AN OLD VIETNAMESE SOLDIER)

Sương gió cuộc đời vương níu ta

Dew and wind follow my life

Giã từ mùi mẹ thoáng hương xa

Bidding goodbye to my mother’s scent, far and far away.

Ngàn trùng cách trở quê yêu dấu

My beloved coutry, thousands of miles away.

Thoáng chốc thời gian tóc đươm hoa

My hair has changed its colour with time

Màu hoa trắng điểm mái tóc xưa

White-flowered spots can be found on my hair of yesteryears.

Nhớ quá xóm thôn nhớ rừng dừa

Longin for my village, missing the coconut forest.

Nhớ ngôi trường nhỏ thời tiểu học

Missing my small public school with years of our young time

Chân đất đến trường buổi sớm mưa!

Bare feet to the school, early in the rainy morning.

Bài học “Bác Hồ” tắm đêm đông(?)

The lesson about “Uncle Lake” taking a bath on a winter night (?)

Paris “nướng gạch” thay chăn bông(?)

Spending Paris nights with his “baked brick” instead of a warm blanket (?)

Kác Mác – Lenin trùm dân Việt

Karl Marx-Lenin, chief gangsters of the Vietnamese.

Gần thế kỷ qua chết đầy đồng

Dead bodies filled up the paddy field, last century.

Ta học được gì thời niên thiếu

What have we learned, in our young years?

“Đấu tố” san bằng ác tuyệt chiêu

Land reform atrocity, communists’ cruel way to kill people.

Muôn năm “Xô Viết và Trung Quốc”

Long live “Soviet Union and Red China!”

“Mỹ cút Nguỵ nhào” tổ quốc tiêu!

“Americans downed”, our fatherland destroyed!

Lý – Lê – Trần –  Lê Lợi – Quang Trung

Lý-Lê-Trần-Lê Lợi-Quang Trung dynasties

Dựng xây đất nước chí kiêu hùng

Had built up our proud and heroic country

Con cháu đời này đem dâng hiến

People of nowadays offer to sell it unfortunately

Dân tộc Việt Nam bước đường cùng

Vietnamese people now facing the dead end.

Ta đã một thời lăn lóc qua

I had spent years of miseries

Cùng chung giữ nước quyết xông pha

Trying to defend our country through our tough agonies

Gươm rơi súng rụng trong tù ngục

Swords broke, guns fell down and ended up in prisons

Tị nạn tha hương mất quê nhà

Living as expatriates, far away from our lost country

Tội đồ dân tộc bán quê hương

Criminals have sold our land

Đất mẹ giờ đây lắm đoạn trường

Motherland submerged in sorrows.

Hán hoá – đoạ đày dân vô cảm

Sinicization, ruthlessly emprisoning our people.

Đạo đức suy đồi lắm tang thương!

Ethics, and morale lessons disappeared, and life is full of miseries.

Ôi thôi! Nhìn lại đã quá già

Alas! I am too old, a soldier

Sức cùng lực kiệt chí rời xa

Gone is my strength, strong will evades me.

Tuổi trẻ đâu rồi kề vai gánh!

Young generation: get yourself united, and carry out your task!

Thoát Cộng – Thoát Tàu ắt chẳng xa

Break loose from communism and China. Now, not too far away!

Việt ngữ: Letamanh

Anh ngữ: Đàm Trung Phán

Feb. 2022

PANAMA: BẨY NGÀY ÐỔ MỒ HÔI HỘT

Lãng Xẹt

http://www.pbase.com/tamlinh/panama_trip    

Tôi đang ngồi trong balcony của căn phòng chúng tôi tại khu nghỉ mát Decameron, Panama khi bắt đầu ghi chép những dòng chữ này.

Trước mặt balcony là bãi biển và Pacific Ocean. Sáng nay tôi thức dậy sớm, lúc trời còn tờ mờ sáng trong cái làn hơi sương , và bắt đầu tập Dịch Cân Kinh, sau đó ngồi Thiền Thở. Thấy đời thanh thản lạ thường và thay vì đi tản bộ dọc theo bờ biển, tôi lấy giấy bút ra ghi chép lại chuyến viễn du miền Trung Mỹ này.

Hotel Decameron tọa lạc trên một ngọn đồi chạy dọc theo bờ biển, có tất cả 600 phòng ngủ. Từ Panama City, xe bus phải chạy khoảng 2 tiếng mới tới được Hotel, địa danh mang tên Playa Blanca Farallón, một nơi nổi tiếng về phong cảnh hữu tình và khí hậu tốt.

1.


Hai tuần lễ trước khi viễn du, Lãng Xẹt tôi bận bù đầu cho hai cái projects phải làm cho xong mà dead line lại là 2 ngày trước khi ra đi. Lại bị cái màn bắp thịt lưng bên phải đau cứng vì “stress” mỗi khi có những “dead line” mà thì giờ lại không có nhiều để làm cho xong công việc. Nhưng kỳ này, Xẹt tôi “khôn” hơn: hễ cứ sờ chỗ bắp thịt nào đau, bèn bóp và ấn mạnh chỗ đó nhiều lần rồi bỏ đi bách bộ cho quên cái dead line! Lạ lùng thay: sau khi hoàn tất công việc, cái đau của bắp thịt cũng đi luôn! Tôi sắp xếp hành lý trong niềm vui thú.

Sáng sớm ngày thứ bẩy 31/7/2004, con chúng tôi lái xe đưa Lãng Xẹt và Bà Cai ra phi trường Pearson International để “check in” và gặp 22 nhân vật khác trong cái “Mission Possible” này. Vì vấn đề cẩn mật, Xet tôi chỉ xin giới thiệu các “code names” mà thôi; các code names đi theo cặp, ai mà đi xé lẻ một mình, đựợc gọi là “Cô” hay “Cậu” : Alpha, Beta (aka Lãng Xẹt), Gamma, Delta, Epsilon, New (cũ rồi, chẳng mới gì hết đâu!), Mew ( không phải là dân Mèo Mướp, khổ lắm, đã nói rồi mà !) , Pi ( Pai = Cái bánh ngọt mà thiếu chữ e), Theta (đến từ California), Cô Ella, Cô Scarborough Fair, Doremi ( mang theo cây đàn Guitar), Language ( phiên dịch từ chữ Lãng Huýt, aka Hà Bá đến từ Montreal). Kiểm điểm lại, đúng là 24 mạng cả thấy, OK, không thiếu một mạng nào!

Lãng Xẹt tôi xin kể tiếp.

Sau khi đã làm xong tất cả các thủ tục “check in” và điền xong đơn từ để nhập cảnh Panama, các code names nữ bắt đầu trao đổi món ăn lót lòng với nhau: nào là bánh khúc, bánh bao, nào là bắp luộc và kẹo đậu phụng. Xẹt tôi ngồi rung đùi vui vẻ vì thấy mình đang sống giống y chang như lời một ông thầy tử vi tướng số đã tiên đoán cuộc đời Lãng Xẹt:

– Tôi thấy anh được các bà, các cô và thức ăn vây quanh anh rất là kỹ càng!

Hóa ra là “Thân Cư Thê” là như thế, mà có lẽ đây là cái ngôi sao sáng giá nhất trong cái lá Tử Vi của Xẹt (không có vợ thì chỉ có màn …mì gói, chẳng nên cơm cháo gì). Thế là cả bọn hết cả lo đói bụng nếu mà hãng máy bay “quên” không cho “Mission Possible” ăn trưa! Beta Lãng Xẹt bèn lấy Digital Camera chụp vài “pô” làm kỷ niệm.

2.


Máy bay Boeing 737 đầy người, hết cả chỗ ngồi và tương đối “nhỏ con”. Chỉ có 2 cái toilets, một cái đằng trước, một cái đằng sau cho cả nam lẫn nữ và lối đi rất là hẹp. Nếu chẳng may gặp một ông tây, bà đầm nào đang đi tới, “quân ta” phải dén người vào giữa hai hàng ghế mới có thể tránh họ được. Bay được một tiếng, Beta thấy lỗ mũi bên phải bắt đầu bị tắc nghẽn, sau đó là “thò lò mũi xanh”: Welcome to my Allergy! Lý do chắc là vì hơi lạnh của hệ thống điều hòa không khí đang tới tấp tấn công hệ thống hô hấp của Lãng Xẹt . Bèn lôi Tylenol ra uống một viên để tránh cái vụ “củm cám”, cảm cúm mất vui trong “Bẩy Ngày Ngà Ngọc”! Sau 5 giờ bay, chúng tôi tới phi trường Panama City.

Phi trường này không đông đúc như các phi trường của Bắc Mỹ nên máy bay không cần phải chờ đợi khi vào phi đạo. Các thủ tục giấy tờ nhập cảnh cũng rất là mau lẹ, chẳng bù với những lần đợi chờ tại các phi trường ở Bắc Mỹ.

Hãng Du Lịch Decameron ra đón ngay tại Phi Trường với tấm bảng Decameron to chình ình. Du khách theo các tour guide đi ra 3 cái xe bus đang chờ ở ngoài Terminal. Ðiều làm tôi ngỡ ngàng là cái kính tôi đang đeo bị mờ ngay sau khi ra khỏi cái Terminal Building, trái ngược lại những lần tôi bước từ ngoài vào trong nhà ở Canada trong những tháng mùa đông (kính mắt đang lạnh sẽ làm đọng nước khi gặp hơi ấm trong môi trường ấm áp, nóng nực).

Ngồi trên xe Bus, tôi thấy thảo mộc xanh tươi mát, đúng là thảo mộc của miền nhiệt đới nhiều nắng và mưa nhiều. Tôi thấy biết bao nhiêu là cây soài hoang mọc bên đường. Tôi còn thấy nhiều cây có quả đỏ, mấy hôm sau tôi mới biết đây là những cây chôm chôm Trung Mỹ. Tôi cũng chợt thấy hai bụi hoa Antigone, loại hoa mà tôi đã thường thấy tại quê tôi thuộc xứ Bắc của một thời rất xa xôi hồi còn bé. Ngoài ra còn có các hoa và thảo mộc khác mà tôi chưa từng thấy. Rất tiếc là xe đi quá nhanh nên tôi không chụp được một tấm hình nào.

3.

Khi xe tới khách sạn lúc trời chập tối, ai nấy đều thấy thấm mệt vì xe bus không có êm như xe bus tại Bắc Mỹ. Tôi lại chưa quen với cái oi bức và “humidity” của miền nhiệt đới nên cảm thấy khó chịu trong người. Chúng tôi được nhân viên của Hotel Decameron ra đón rất ân cần. Mỗi người được mời một ly nước ổi thật là tuyệt vời, sau đó chúng tôi được chỉ dẫn lên phòng của từng người và hẹn nhau đi ăn ở đâu.

Hóa ra tại ngay phi trường, mỗi cặp chúng tôi đã được phát 3 cái “tags” để buộc vào valises. Trên cái “tag” đã ghi số phòng và các “tags” này sẽ còn là những tín hiệu để hãng du lịch Nolitour World mang thẳng hành lý của chúng tôi ra phi trường trên đường về lại Toronto để chúng tôi không phải bận tâm về hành lý.

Sau khi hành lý đã được mang đến tận phòng, tôi tắm rửa và thay quần áo cho thoải mái; cái mệt nhọc hầu như đã biến đi đâu mất rồi! Tất cả mọi người trong “Mission Possible” gặp nhau tại phòng ăn Atlantis, nơi “chuyên trị” Buffet: khách tự đi lấy đồ ăn nhưng chỗ ngồi có khăn bàn, khăn ăn bằng vải đỏ và waiters / waitresses mang nước ngọt, rượu và cà phê hay trà cho khách . Tương đối, các món ăn, đồ tráng miệng và hoa quả cũng tương tự như trong các Buffet Restaurants tại Dominican Republic, Venezuela, Bahamas nhưng về phẩm chất, tôi thấy nơi này thua các nơi “nghỉ nóng” kia. Ðặc biệt là tại các vùng Trung Mỹ và Nam Mỹ mà tôi đã thăm viếng, món Fish Soup thì tuyệt trần đời, nhất là ở Venezuela, họ nấu Fish Soup với Cá biển, Chuối (Plantain), Khoai Sọ … ăn hoài mà vẫn không thấy chán. Một chút gì khá giống hương vị quê nhà!

4.


Hotel Decameron có tất cả 3 phòng ăn Buffets và 6 phòng ăn theo kiểu “à la carte” chuyên nấu đồ biển, đồ ăn Thái, đồ ăn miền Ðịa Trung Hải, đồ ăn Ý, Steak House và đồ ăn Nhật. Ngoài ra, còn có hai cái Snack Houses cho những ai đi chơi xa không về kịp để ăn Lunch hay Dinner, mở cửa từ 2 giờ trưa đến 5 giờ chiều và từ 11 giờ đêm tới 2 giờ sáng, theo thói “ăn chơi” của du khách đi nghỉ hè .

Rút từ kinh nghiệm của những lần đi chơi kỳ trước, trong 6 tối còn lại của “7 ngày ngà ngọc”, các code names đã ghi tên để mỗi đêm tất cả mọi người cùng đi ăn theo lối “à la carte”. Tới phòng ăn, các cô hostess ra chào đón chúng tôi và đưa chúng tôi ngồi vào bàn. Họ đưa thực đơn để khách chọn món ăn. Trong khi chờ đợi, khách tự ý đi lấy soup và salad. Waiters và waitresses mang nước lạnh, nước trái cây và rượu đến mời khách. Món ăn Nhật thật là dở, món Thái rất là đặc biệt và khoái khẩu, Bouillabesse của Pháp thì chẳng có gì là đặc sắc cho lắm. Giá có món Phở và Rau muống xào, chắc “quân ta” sẽ hỉ hả hơn!

Cái tiện lợi khi mua vé “package tour” là chúng tôi được bao tất cả mọi thứ nên chúng tôi chẳng phải mang theo túi tiền mỗi khi đi ăn, uống. Không gì sướng bằng khi trời đang nóng chẩy mỡ mà chạy ngay ra cái bar rượu bên cạnh hồ bơi để uống một ly nước cam hay ly bia. Thường thì tôi nốc luôn một lúc 2 ly nước cam, mới thấy giải nhiệt và xuống hồ tắm bơi tiếp.

Tắm biển ở nơi này khá nguy hiểm. Họ đã báo động là khi nào bãi biển cắm cờ đỏ, mình không nên xuống biển tắm vì sóng biển có thể cuốn người ra ngoài khơi. Một cặp suýt chết chìm vì bị sóng kéo ra khơi, may mà người Life Guard cứu họ kịp thời. Thật là hú vía. Có một lần, tôi đã bị sóng biển tại Bondi Beach ở Sydney cắm đầu tôi vào cát, may mà Xẹt tôi lấy tay tự đào cát kíu lấy mình, từ đó, tôi thấy ớn xương sườn mỗi khi thấy sóng to ập vào bờ và kéo người ra khơi “đi chơi” với sóng!

5.


Sáng sớm nay, ngày thứ năm của tuần lễ đi nghỉ hè, trời bỗng nhiên ập xuống một trận mưa hè. Tôi ngưng viết để đi ăn sáng cùng với mọi người. Vì trời mưa, một số “code names” thuê xe đi thăm viếng kênh đào Panama, một số không biết làm gì bèn rủ nhau vào “Gym” tập Thể Dục, một số về phòng đọc sách hay coi TV. Xẹt tôi “gửi” Bà Cai đi “Gym” rồi trở về phòng và ra balcony nghe mưa rơi trên lá. Phòng của chúng tôi ở lầu 3, phía trước của cửa phòng là một bụi chuối, phía sau phòng là balcony. Ngay trước balcony là một cây dừa và một cây soài rất to có rất nhiều chim.


Thảo mộc được nước mưa tắm gội trông tươi mát hẳn lên. Tôi đã từng được nghe mưa rơi lộp độp trên lá trong những chuyến đi chơi lần trước, mỗi lần tôi lại nhớ đến bài hát “Hạt mưa trên lá” của nhạc sĩ Phạm Duy. Hình ảnh cây chuối và lá chuối ướt sũng nước mưa làm tôi nhớ lại tuổi thơ ấu tại Bắc Ninh trong những ngày mưa hè. Các hình ảnh này đã vùi sâu trong ký ức; tưởng rằng đã quên nhưng thực ra quê hương tôi vẫn còn sống trong tôi . Tôi chỉ cần có một khung cảnh, một vòm trời, một cơn mưa nào đó… là tôi có thể “giở trang nhật ký “được, và tôi rất quý những giờ phút riêng tư như vậy .

Mùi nước cống, mùi sình bốc lên từ cái nhà máy lọc nước cống xông lên đến tận lầu ba nơi tôi ngồi. Tôi cảm thấy mùi này thật là đặc biệt và quen thuộc. Tôi cho rằng các mùi, vị và mầu sắc luôn luôn tiềm ẩn trong ký ức con người. Mùi sình này  đã mang tôi trở về với Saigon trong hai năm Ðệ Nhị và Ðệ Nhất khi tôi đến thăm bạn tôi ở gần khu Cầu Bông, thật là khó quên trong tuổi học trò dại khờ của tôi. Mùi sình này cũng nhắc nhở tôi đến những lần đưa sinh viên tại Toronto đi thăm viếng  các nhà máy lọc nước cống (Field Trip) trong môn “Nước Uống và Nước Cống” mà tôi đã từng dậy trong nhiều năm trước khi về hưu.

Trời mát hẳn xuống, thân tôi không còn phải đổ mồ hôi hột như những buổi xế trưa trong balcony. Chắc tại mưa to, gió lớn nên tiếng sóng biển nghe rất to và rõ ràng. Ngồi nghe sóng biển và nhìn từng cơn sóng dội vào bờ, tôi nhớ lại truyện “Trống Mái” mà ngày xưa tôi đã từng đọc say mê. Có khác chăng, có lẽ là phong cảnh của Việt Nam và Panama, có lẽ là khoảng thời gian cách biệt đã hơn nửa thế kỷ và có lẽ là cái “state of mind” của chính tôi giữa ngày xưa và ngày nay?

Mỗi lần được đi du lịch, tôi lại có dịp giở những “trang sách cũ” trong ký ức để kiểm điểm lại những gì tôi đã, đang và sẽ có thêm trong những “trang nhật ký” này. Tôi thích nhất những ngày mưa như hôm nay. Ngày mưa là ngày chúng tôi phải “cắm trại”: Tôi “được phép” ở lại trong phòng để ra balcony ngồi đọc sách, hít thở hay ghi chép lại những gì bỗng dưng tôi thấy được trong đầu óc. Ở đây, không còn cái ồn ào của thành phố. Thời gian như ngưng lại, tôi không còn thấy phải bận bịu với bất cứ truyện gì nữa. Tôi cũng chẳng có dịp để mà vào Internet dễ dàng như ở nhà, lý do chính thật là giản dị: Hotel chỉ có 2 cái Internet Computers chạy chậm như rùa mà lại mắc như quỷ!

Tôi lại “được miễn” xuống tắm biển hay hồ bơi vì mặc dù tôi thích bơi lội dưới trời mưa nhưng nước lại khá lạnh nên chẳng ma nào dám nhẩy xuống nước nữa.

“Lậy trời mưa xuống
Cho thân tôi sướng
Tôi không bị vướng
Vào vụ … shopping
Tôi thích một mình
Ngồi trong lặng thinh
Ngắm trời, ngắm biển”.

6.


Trời mưa còn có cái thú khác: trời mát dịu hẳn lại, chẳng bù với mấy hôm trước trời nóng chẩy mõ lại thêm cái độ ẩm rất cao (humidity) trong không khí của miền Nhiệt đới (phơi cái áo ướt ngoài balcony 3 ngày mà chưa khô). Ở Canada, ít khi nào mà tôi đổ mồ hôi hột được, trừ khi tôi tập thể dục khá lâu. Mỗi lần tôi “được chẩy mồ hôi nhễ nhại”,  tự mình cảm thấy “khỏe” lắm và ban đêm ngủ rất ngon giấc.

Bắt đầu từ ngày thứ hai của “bẩy ngày nói cười nghiêng ngả”, kệ xác trời nóng và đổ mồ hôi hột, tôi vác máy hình đi chụp thảo mộc xung quanh cái Hotel này (ngày xưa là trại lính của Chính Phủ Panama và ở ngay bên cạnh nhà nghỉ mát của tướng Manuel Noriega). Tôi thấy hoa giấy mầu đỏ, mầu trắng, mầu da cam, mầu tím.

http://www.pbase.com/image/32397846

http://www.pbase.com/image/32464714

http://www.pbase.com/image/32398081

Dân xứ nóng chẳng lưu ý đến hoa giấy cho lắm nhưng những ai đã từng cảm thấy muốn chết cóng trong mùa tuyết tại Bắc Mỹ mới thấy quý các loại hoa nhiệt đới này. Phải nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa khi trồng bông giấy trong nhà thì may ra mới được thấy vài cụm hoa giấy nở.

Có những bụi hoa mầu vàng rất đẹp, tôi không biết có phải thực sự là Hoa Vông Vang của bên mình không (như trong truyện Hoa Vông Vang của nhà văn Ðỗ Tốn). Tôi vác máy hình chụp rất nhiều tấm như để ghi vội cái dịp được trở về trong ký ức với “Hoa Vông Vang” của nhà văn Ðỗ Tốn mà tôi đã từng đọc say mê hồi còn học Ðệ Ngũ, Ðệ Tứ

http://www.pbase.com/image/32398473

Có những hàng dừa không quá cao nhưng đầy quả trông rất lạ mắt

http://www.pbase.com/image/32465686

http://www.pbase.com/image/32398479

Có một lần khi xe Bus ngưng lại tại một hàng quán bên đường, tôi xuống mua dừa tươi uống (50 cents tiền Mỹ. Ở Panama, họ dùng Dollars Mỹ và Panama đang muốn “dụ” dân Mỹ và Canada tới sống trong lúc về hưu). Nước dừa ở đây uống cũng ngon như nước dừa mà Canada nhập cảng. Ở Venezuala, dân địa phương còn trèo lên cây dừa mà hái và bổ dừa cho du khách ngay tại chỗ, rẻ ề: 10 cents Mỹ mà thôi!

Xung quanh các hồ bơi, họ còn trồng nhiều cây giống như cây dừa mà quả lại giống như quả cau, đắc biệt là quả mầu đỏ, trông rất đẹp mắt, tiếc nỗi là tôi không biết tên Latin và tên Việt Nam của loại cây này:

http://www.pbase.com/image/32398480

http://www.pbase.com/image/32398481

Chúng tôi tới Panama không đúng vào lúc Mùa Soài chín, nhưng tôi thấy rất nhiều cây Soài nặng chĩu quả hãy còn xanh:

http://www.pbase.com/image/32421955

http://www.pbase.com/image/32421954

Hầu như các cây Soài ở đây không do người ta trồng, mà là các cây soài hoang mọc dại bên đường. Một hôm cả bọn đi nhặt Soài rớt xuống đất. Tôi còn đang mải chụp hình, bỗng nghe thấy tiếng của một phái nữ nói văng vẳng bên tai:

– Anh ơi, nếu anh có thương em, anh hái cho em vài trái  a… Soài!

Tôi lật đật đeo máy hình vào vai cho chắc và kiếm ngay được 3 trái Soài trông rất ngon lành để đem tặng vợ. Kiếm hoài mà chẳng thấy Ba Cai đâu và sau khi định thần lại mới biết Code Name phái nữ tên Mew đang “miu miu nũng nịu ” với Bác Trai Mew! Thiệt là lãng xẹt mình cứ “tưởng bở”, Xẹt tôi bèn vội vàng ném 3 quả Soài vô tội đi chỗ khác để cho Xẹt còn rảnh tay mà đi chụp hình tiếp! Truyện “miu miu”, xin để lúc khác: Not Now, My Dear!

Soài ở đây phần lớn có dáng tròn trịa, quả nhỏ, hột lớn nhưng loại soài này ăn rất là ngọt. Tôi cũng nhặt được 2 quả soài khá to mà vẫn còn xanh, Bà Cai thái ra chấm muối ớt, phe các bác gái ăn thấy ngon như Soài tượng bên nhà, khen ầm ỹ cả xóm làng!

Nói đến Muối Ớt, tôi nhớ ngay đến cái món Me Chua Chấm Muối Ớt. Một hôm, người Tour Guide của Hetel Decameron dẫn chúng tôi tới nhà nghỉ mát của tướng Manuel Noriega nay đã điêu tàn vì trúng đạn đại bác . Nóc nhà không còn, chỉ còn chơ vơ mấy bức tường và cái cầu thang soắn ở ngay giữa nhà.

http://www.pbase.com/image/32925285

http://www.pbase.com/image/32925286

http://www.pbase.com/image/32925287

Biệt thự này nằm ở ngay trên bờ biển, bên cạnh Hotel Decameron. Xung quanh dinh cơ có nhiều loại cây, bỗng dưng Lãng tôi chú ý tới một cây đầy trái non . Khi tới gần, tôi la lên một tiếng thất thanh :

– Ui cha! Cây me!


Xẹt tôi vội vàng vịn một cành xuống, hái lấy hái để những trái me chua hãy còn xanh rờn và chứa đầy cái mũ base ball của Lãng Xẹt. Tôi “báo tin” cho “đoàn quân Mission Possibe”, thế là “quân ta” kéo tới, ai nấy hỉ hả vừa hái Me, vừa chụp hình lia lịa.

http://www.pbase.com/image/32454954

http://www.pbase.com/image/32454955

Tối hôm đó Bà Cai ngâm Me Chua với muối ớt. Tôi cắn thử một miếng, chua quá, bèn nhè ngay ra, miệng há hốc giống như Tề Thiên Ðại Thánh ăn phải mắm tôm vậy, nhưng các Bác gái khác thì chiếu cố rất ư là … tận tâm! Ðã hơn 40 năm rồi, tôi mới thấy lại cây Me, thật là một điều thú vị rất là bất ngờ.

Một lần, chúng tôi lấy xe Bus ra ngoài phố đi shopping, tôi mua được trái mận (người Bắc gọi là quả doi) mầu đỏ thẫm.

http://www.pbase.com/image/32422025

http://www.pbase.com/image/32421957

Tôi ăn thấy chát quá, bèn mang về đưa cho người dọn phòng bản xứ.

Chúng tôi cũng đi thăm một sở thú tư nhân. Gọi là sở thú cho nó “oai”, chứ thực ra đây là một cái vườn bách thảo nhỏ mới đúng nghĩa của nó. Trong những năm trồng lan, tôi vẫn ước mơ được thăm viếng các “rain forests” trong những vùng nhiệt đới để được thấy tận mắt phong lan mọc chi chít trên các cành cây, nay tôi may mắn có cái cơ hội này . Tôi lấy máy hình ra chụp lia lịa “để dành mà xem” trong những cơn ghiền của tôi sau khi đã về lại Canada.

http://www.pbase.com/image/32398806

http://www.pbase.com/image/32398804

Tôi há hốc mồm khi thấy Ðịa Lan Phaius nở hoa vừa to vừa phơi phới xuân tình :

http://www.pbase.com/image/32398947

http://www.pbase.com/image/32398943


Mười mấy năm về trước, tôi đã từng trồng Phaius trong nhà ở Canada, nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa chăm lo rất tận tình cho nàng Phaius. Nàng vẫn ỳ ra, chẳng thèm nở ra cho một bông hoa nào. Cũng chỉ là vì Canada không có khí hậu nhiệt đới: cái độ nóng của nhiệt độ ngoài trời, cái độ ẩm cao, mưa rào ào ào, ban đêm lại mát dịu như tại miền này của Panama. Sau hai năm “hầu hạ” nàng mà chẳng được sơ múi gì, tôi dẹp nàng Phaius sang một bên để “chạy theo” các nàng lan khác “dễ nuôi và hay ăn, chóng lớn” hơn, dựa theo cái thuyết “liệu cơm gắp mắm” của Lãng Xẹt!

Ðiểm đặc sắc của Panama là tôi thấy nhiều cây phượng vĩ cổ thụ vĩ đại che khuất cả một khoảng vườn khá lớn. Hotel Decameron, theo lời giải thích của một tour guide, có cây Phương Vĩ đã sống khoảng 140 năm, “già” hơn cả Lãng Xẹt nhà tôi nữa, ghê thật ! Chúng tôi tới đây sau khi các cây phương cổ thụ đã hết mùa hoa, thật tiếc thay ! Lâu lâu, chúng tôi thấy lèo tèo vài chùm hoa phương từ các cây phượng không to cho lắm.

http://www.pbase.com/image/32397837

http://www.pbase.com/image/32398483

http://www.pbase.com/image/32421937

http://www.pbase.com/image/32421939

Một buổi sáng, trong lúc đi dạo bộ xung quanh cái “resort” này, tôi bỗng thấy 6 cây điệp cao chừng hơn 2 mét đang nở hoa, Lãng Xẹt tôi vỗ tay đôm đốp. Ðiệp có 3 mầu hoa: đỏ, hồng và vàng

http://www.pbase.com/image/32398950

http://www.pbase.com/image/32398954

http://www.pbase.com/image/32397854

Tôi lấy máy hình ra chụp túi bụi, mặc kệ cho muỗi và bọ đốt xưng cả hai cái cẳng, chụp hình là ta cứ thế mà chụp. Chụp xa, chụp gần, chụp đủ cả mọi kiểu và tôi cảm thấy rất vui thú trong lúc chụp hình mặc dù lâu lâu phải gãi cẳng vì ngứa. Ngày hôm sau, tôi còn thấy nhiều các cây điệp khác, khi tôi đi vào những khu vườn mà tôi mới biết ở xung quanh Hotel. Lại cái màn chụp hình tái diễn. Tôi chụp lấy chụp để mà không sợ bị “hết phim, hết pin ” như hồi còn là sinh viên vì tôi đã trang bị rất kỹ càng: tôi dự trù sẽ chụp tất cả chừng 2000 tấm hình mà vẫn không sợ bị hết Battery và Memory trong cái “Memory card” của máy hình. Thật là tuyệt vời khi tôi nhìn hoa điệp trong màn hình của TV mỗi buổi tối sau khi tôi đã “store” hình vào trong cái “Portable Digital Photo Hard drive”. Hôm sau lại tha hồ đi chụp tiếp mà không bao giờ bị hụt hẫng vì cái nạn “hết phim” như khi chụp máy hình thường!

Một hôm Bà Cai đi bộ dọc theo bờ biển, thấy một cây Thanh Trà và mang về cho tôi xem mấy quả Thanh Trà đã chín và rụng xuống bãi cỏ:

http://www.pbase.com/image/32423222

http://www.pbase.com/image/32423223

Bà Cai nở miệng cười và nói với tôi:

– Ở đây giá mà có thịt lơn nạc, em sẽ nấu canh với quả thanh trà cho anh ăn với cà pháo thì hết xẩy!

Tôi không còn nhớ là đã thấy quả Thanh Trà này ở ngoài Bắc hay trong Nam nữa . Tôi chỉ còn nhớ hồi 10, 11 tuổi, sau mỗi trận mưa, tôi thường ra đường Trần Hưng Ðạo ở Hà Nội để nhặt những quả sấu chín rơi rụng ở ngoài đường. Quả sấu chín mầu vừa xanh vừa vàng, ăn chua chua, ngọt ngọt, rất là đặc biệt. Chị tôi thường luộc mấy quả sấu xanh với rau muống và cà chua. Rau muống luộc chấm với nước mắm dầm với sấu luộc và cà chua, ăn thật là Bắc Kỳ, tôi còn nhớ ăn ngon lạ lùng. Từ ngày rời Hà Nội di cư vào Nam năm 1954, tôi chưa có dịp thấy lại cây sấu, thấm thoắt đã hơn nửa thế kỷ rồi!

Một buổi sáng sớm, khi Bà Cai và tôi đi dạo bộ trước lúc ăn sáng, tôi thấy một đám hoa, trông quen thuộc mà tôi chẳng nhớ ra là hoa gì. Tôi lấy máy hình ra chụp đại. Bà Cai nói với tôi đây là bụi hoa Tóc Tiên:

http://www.pbase.com/image/32421327

http://www.pbase.com/image/32421504

Hoa Tóc Tiên? Cả một thời thơ dại của tôi tại Bắc Ninh trở về trong trí nhớ của tôi: Bố mẹ tôi trồng tóc tiên trong vườn. Hình ảnh gian nhà, hình ảnh bố mẹ tôi (nay không còn nữa) và hình ảnh tôi hồi còn “thò lò mũi xanh” hiện ra ngay trong trí tưởng tượng của tôi. Mặc dù khóm hoa này không thực sự là hoa Tóc Tiên đi chăng nữa, nhưng cái danh từ “Tóc Tiên” cũng đã cho tôi được trở về trong những giây phút ngắn ngủi này với giai đoạn mà đại gia đình chúng tôi chưa bị chiến tranh, chưa bị di cư vào Nam, chưa bị mất mẹ, mất làng quê … làm sáo trộn cả nếp sống của chúng tôi. Một chút gì ngậm ngùi, xa vắng, bâng quơ!

7.

Tôi thường dậy sớm, ra balcony tập thể dục, ngồi Thiền và lấy giấy bút ra ghi lại đôi dòng. Tám giờ sáng, cả bọn gặp nhau ở dưới phòng ăn sáng, theo kiểu Buffet. Tôi ăn chút thịt và trứng, để có đủ protein, sau đó đi lùng trái cây mà ăn. Hầu như sáng nào cũng có dứa (trái thơm), passion fruit (hồi còn ở Saigon, tôi không thấy trái này), chôm chôm, đu đủ, dưa hấu, bưởi và cam. Tôi thường trộn nước cam với nước Passion Fruit để uống trước khi uống cà phê, vì đây là món đồ uống “tủ” của tôi trong những ngày còn đi học bên Úc.

Khi tôi đang viết đến đây, Doremi mang đàn guitar ra chơi mấy bài Classical Guitar. Tôi vừa viết, vừa nghe tiếng đàn Guitar, rất là thú vị. Phòng của Doremi ở lầu hai và khi tôi ngồi trong cái balcony này, tôi nhìn thấy Doremi đang chơi đàn Guitar. Ngoài kia sóng biển đang vỗ vào bờ và trời đang chạng vạng tối. Bầy chim về tổ đang líu lo hót trong cây soài cổ thụ ngay cạnh balcony của chúng tôi.  Thật khó mà tả được cái cảm giác khoan khoái mà tôi đang có trong lúc này!

Khoảng nửa giờ nữa, “phái đoàn” chúng tôi sẽ xuống tụ tập tại một “lobby” để tán gẫu và uống nước trước khi chúng tôi đi ăn bữa cơm tối cuối cùng với nhau để rồi sáng ngày hôm sau (Aug.7, 2004) cả bọn sẽ lên xe Bus ra phi trường Panama City trở về lại Toronto .

“Phái đoàn” chúng tôi phần lớn là những “diễn viên thường niên” của Ban Sinh Hoạt Trưng Vương- Chu văn An và Thân Hữu tại Toronto. Cứ mỗi lần gặp nhau ở bất cứ nơi nào, thế nào cũng có những tiếng cười đùa, om xòm như cái chợ vậy. Chúng tôi kể cho nhau nghe đủ mọi thứ truyện, nhất là những câu truyện thời còn là học sinh và sinh viên.

Chúng tôi đã lớn lên trong thời buổi chiến tranh, có người đã từng đi tù cải tạo, có những người đã từng đi thăm nuôi chồng trong trại giam cải tạo, rồi vượt biên và lập lại cuộc đời nơi xứ lạ, quê người. Phần lớn mọi người trong  “phái đoàn” chúng tôi đã có con cái thành tài và chúng đã có vợ có chồng . Giờ đây, chúng tôi gặp nhau, quen nhau (hay đã quen nhau từ Việt Nam), thân nhau trong tình bạn đồng hương, đồng môn và tự hứa sẽ để lại sau lưng những nhọc nhằn, buồn tủi … Gặp nhau để cười đùa, để kể cho nhau những truyện khôi hài, tiếu lâm và để mừng rỡ khi thấy các bạn bè của mình còn có sức khỏe để “vui đời” vì chúng tôi hầu hết đã hay đang tới cái đoạn đời “bonus” này .

Chúng tôi đã tự thuê lấy xe Van có tài xế đưa chúng tôi đi xem phong cảnh, Panama Canal, đi shopping. Những ngày “nghỉ” khác, sau khi ăn sáng xong, cả bọn rủ nhau đi bộ dọc theo bờ biển. Khi nào thấy nóng nực, nhào ra biển hay hồ bơi mà bơi lội. Bơi mệt rồi nằm dài trên ghế dưới các “túp lều lý tưởng” và lại tiếp tục việc tán gẫu

http://www.pbase.com/image/32398476

Ai thấy khỏe và không sợ cái nóng thì đi đánh Tennis. Có người còn đi cưỡi ngựa. Bà Cai và tôi sáng nay đi cưỡi ngựa cùng 3  “code names” khác.

http://www.pbase.com/image/32397843

Trong cái “resort” này, họ cho mình đi cưỡi ngựa nửa tiếng và không phải trả tiền. Một người bản xứ chăn ngựa đã giúp chúng tôi lên và xuống ngựa. Tôi đã từng cưỡi ngựa tại Venezuela nên đã biết điều khiển con ngựa.  Vì “số sui”, Xẹt tôi gặp ngay con ngựa bất kham, tự dưng nó “hứng chí” phóng nước đại làm Xẹt đâm … xẹt lửa , nơm nớp lo sợ :

“Que Sera sera!”

Cũng may là người guide luôn luôn đi gần tôi và hô to tên con ngựa bất kham này và bắt nó đi chậm lại dùm tôi. Từ lúc xuống ngựa, dáng tôi đi bộ trông rất là … “khệnh khạng” như người “háng rộng” vậy. Cũng chỉ là vì cái con ngựa hay dở chứng này đã làm cho hai cái bắp thịt đùi của tôi nó cứng lại sau nhiều lần tôi giật giây cương bắt nó ngừng lại và tôi đá chân vào bụng nó để bắt nó đi tiếp! Nàng ngựa tức tôi, lâu lâu lại “thở phành phạch” vài tiếng. Tôi nghĩ bụng:

“Kẻ tuổi Ngựa và nàng Ngựa chắc không có hạp nhau; thôi thì, sau nửa tiếng ‘đi chung đường’ với Ngọ , Xẹt tôi …sẽ không dám theo Ngọ đi tiếp nữa đâu, cho nó chắc ăn, Ngọ à !”

Trong giờ ăn trưa, các bà đã chán ăn “cơm tây” nên đã mang theo bánh tráng và nước mắm để làm món gỏi cuốn Việt Nam ăn cho đỡ “nhớ nhà”! Từng bàn một, câu truyện lại vẫn nổ như pháo rang. Giờ trưa, mà ngồi trong phòng ăn với quạt trần, gió hiu hiu thổi, nhìn ra biển thật là thú vị.

Ăn lunch xong, phần lớn cả bọn chúng tôi kéo nhau ra nằm dưới “túp lều tranh lý tưởng” dọc theo bờ biển. Trừ những ngày mưa, lúc này trời rất nóng, lại thêm độ ẩm (high humidity) rất cao làm cho tôi đổ mồ hôi hột dòng dòng. Cũng may là dưới bóng mát của “túp lều lý tưởng” của Cai và của Xẹt, và nhờ gió biển thổi vào, “hai trái tim vàng” nằm trên ghế ngủ thiếp đi lúc nào không hay.Tỉnh dậy, tôi lấy sách ra đọc. Ðọc chán, nhẩy ùm xuống nước mà bơi, ôi chao là mát! Rất tiếc là máy hình và lời viết không tài nào “capture” được cái nóng nực, độ ẩm (humidity) và các làn gió hiu hiu từ biển thổi vào của vùng nhiệt đới này. Thôi thì Lãng Xẹt tôi cứ viết đại, đến đâu hay đến đó!

Chúng tôi hy vọng cứ lâu lâu lại có một lần “retreat” như vậy để cùng nhau chung vui những câu truyện, những hình ảnh và nhất là tình bạn. Ðây không phảI là “7 ngày khoái lạc” mà thực sự là một tuần lễ để chúng tôi, những dân sống trong xứ lạnh kiếm được cái “thú vị” của thân thể đổ mồ hôi hột và được sống lại trong cái khung cảnh Việt Nam thanh bình của tuổi thơ ngày xa xưa,  “a country away from our beloved country” !

  “Ði để mà đi, đi để mà được trở về trong ký ức … I shall return to visit … my past”, tôi nhủ thầm.

Lãng Xẹt

Aug. 2004/ July 2022

TÀO LAO TRI THIÊN MỆNH

TRUYỆN CỔ TÍCH VỀ TÌNH YÊU

Đồ Lãng Xẹt


Sáng nay trời nắng to nhưng khá lạnh, khoảng 1 độ C. Chàng Lãng Xẹt mặc quần áo cho ấm rồi rời nhà đi bách bộ. Dọc đường lá vàng, lá đỏ rơi theo từng cơn gió, thật là đẹp tuy hơi lạnh mỗi khi có gió. Lãng Xẹt chợt nhớ tới các bác “còn son trẻ” đang còng lưng cầy ruộng làm Xẹt xương quá là xương, lạnh cóng cái … xương sườn chua ngọt!

“Someone has to work and Xet has to walk himself and …wok his dog” :-))) !

Trong niềm thương sót đó, chàng Lãng Xẹt nhà ta bèn xẹt vào 1 hiệu MacDonald mà ăn brunch. Nhâm nhi một hụm cà phê và thong thả bỏ một miếng French Fry vào miệng, Xẹt lôi trong túi lấy giấy và bút ra để ghi ghi, chép chép đôi dòng. Nghĩ tới việc các Bác gái và các bác trai bàn đi, bàn lại về Tình Yêu làm Xẹt chớp mắt như súng liên thanh, tim đập thình thịch và réo lên như cái jackhammer của dân Công Chánh đang sửa đường vậy. LX phải đứng lên thở ra, hít vào vài phút để tự chủ cho qua cơn “hyper”. Sau khi đã tịnh tâm được vài phút, Xẹt mỉm cười vu vơ rồi bắt đầu viết.

Truyện kể rằng:

Ngày xửa, ngày xưa có một anh chàng tên là … Lãng Xẹt. Số phận chàng Xẹt hay… lẹt đẹt về tình duyên nên anh ta nghĩ tới chuyện vào am để tu tiên theo lời khuyên của mấy người bạn chân tu, tay viết như Thích Qua Ðường, Thích Hoa Nhài, Thích Nhóm Lửa …LX quyết tri kiếm thầy để học cách tu tỉnh cuộc đời những mong các sao quả tạ sẽ rơi sang đất người ta thay vì rơi trên cái đầu lãng xẹt của Xẹt.

Trong am, sư phụ của Xẹt đã chỉ dậy cho đệ tử làm sao sống cho an nhàn để tránh khỏi cái stress hùng hục trong lúc đi mần, kiếm cơm, kiếm gạo, mua xăng, có đào … và LX đã học được câu này của sư phụ:

“Ði để mà đi, chứ không phải là đi để mà đến!”

LX bỗng thấy tỉnh cả người vì từ xưa đến nay, Xẹt luôn luôn muốn “đến” ngay cả trước khi “đi”! Xẹt dzung đùi, thấy hết cả “lãng” lẫn “xẹt”! Anh chàng bèn hoạch định ngay cái kế hoạch theo cái kiểu “Strategic Planning” của người Âu Mỹ: “Nếu mà mình thích người tên A, thì mình cứ rủ người tên A đi chơi nhưng chớ đi tới cái Tòa Thị Chính (để ký giấy ấy mà!), đi thì ta cứ đi nhưng mà không đi đến, you hear me, LX?”

Sau khi ra khỏi am, Xẹt đi gặp ngay bạn bè để ăn uống và trò truyện vì Xẹt đã khám phá ra cái “bí kíp” của đời Xẹt! Dĩ nhiên là Xẹt nhà ta không quên chia xẻ với bạn bè câu :

“Ði để mà đi, chứ không phải là đi để mà đến!”

Sau khi cụng ly xong vài hụm diệu đế ngâm tắc kè, mặt mày Xẹt hết xanh lè, Xẹt bèn “họa” ngay như thế này:

“Yêu để mà yêu, chứ không phải yêu để mà lấy!”

Mấy chàng tới tuổi tri thiên mệnh bèn la làng:

“Dzô, Dzô! Kíu bồ cho tụi tôi dzới!”

Xẹt thấy phơi phới trong người vì đã có người hiểu Xẹt, bỗng một anh bạn tươi cười dành ngay cái microphone, không phải là để hắn hát Kara thì sẽ Ô Kê nhưng anh chàng tuyên bố (không mấy…Ô Kê):

– Xin “họa” với đằng ấy phần đối này của tớ:

“Lấy để mà lấy, chứ không phải lấy để mà yêu!”

Trời đất, Quỷ thần ơi, mấy chự trên 5 bó bèn vỗ thùng nước lèo bùng bục, rất khoái chí mà cười to như vỗ cái thùng tô nô vậy . Chỉ tội anh chàng “lấy đại/lấy dại” kia, sau khi “tuyên bố cái cương lĩnh tình yêu” bèn quay sang phía bên phải, nhìn ngay thấy ngay Bà Cai của anh ta đang muốn “sửa sai” (hay “sửa đúng”) anh chàng … Ðức Lăng Quăng .

Tiệc tan, “phe ta” (phe liền ông ấy mà) ra về trong lo sợ và hồi hộp. Chàng LX cũng biết thân, biết phận phải “thăm dò” Bà Cai Tập Sự trong khoảng một thời gian rất là yên lặng, yên lặng đến căng thẳng, giống như hồi “Cold War” giữa Nga và Mỹ vậỵ!

Vài hôm sau, anh chàng có “họa” kia gọi điện thoại cho LX khi họ đang ở trong phòng làm việc:

– Ðằng ấy làm hại tớ, vì cái câu “họa” mà đời tớ đang gặp “họa” đây này ! Tớ quá “ếch xai” (excited) nên “cóc nhớ” là tớ đang có “Chính Phủ” bên cạnh nên tớ cứ “họa” đại! Thật là tai họa đang đến với tớ! Mấy bữa nay, tớ bị bỏ đói: “người dân” không được “chính phủ” đoái hoài tới nhất là trong các bữa ăn. Tớ đói bụng đòi ăn thì nàng nhẹ nhàng nói rất ngọt ngào:

“Yêu để mà lấy, chứ không lấy để mà hầu ăn!”.

Nói xong, ngài an nhiên tự tại mà ngồi xuống coi … phim bộ tình cảm Hàn Quốc. Tự nhiên tớ cảm thấy như tớ đang là một nhân vật chính trong phim tình cảm mà đói bụng của năm Ất Dậu 1945 đó vậy!

Anh chàng bạn này của Xẹt sau đó trở thành một … Yêu Tinh vì anh ta đã trở thành rất tinh tưòng về vấn đề ăn, nói, đói, no.

Lời Lãng Xẹt:
Thế mới biết …

Tình yêu rất là quan chọng,
Yêu không xong, bụng đói dài dài!

Falling in love,
Watch out for stomach sorrows!

ÐLX

GIÁ LẠNH – DEEP FREEZE

Văn Khoa

Mấy hôm vừa rồi, nhiệt độ Toronto có hôm xuống đến -25 Ðộ C. Lúc nào mà gió to, nhiệt độ còn thấp hơn thế nữa . Một buổi sáng, tôi dẫn nàng Golden Retriever Ashley ra cánh đồng “Hydro Land” (khu đất dành riêng cho đường dây điện cao thế của Nhà Ðèn Ontario) để cho cô nàng chạy nhẩy và “thả sú páp”. Lạnh tê gò má, lạnh rát cả làn da mặt! Cái side walk thường ngày thì rất dễ đi nhưng 2, 3 hôm liền, tôi đã phải nghĩ đến câu:

“Nắng Cà Ná, ta đi mà sợ té

Bởi đường đi, nước đọng đã đóng băng

Nàng Ashley còn chạy rất là hăng

Làm chàng Xẹt nằm phăng ngay xuống … đá (ice!).

Xin mời Quý Netters vào xem vài tấm hình trong Trang này:

https://pbase.com/tamlinh/canadian_winter

Tôi chưa kịp đưa lên NET những hình ảnh này thì nhận được hung tin: Chị tôi, người mà tôi rất thương yêu đã qua đời. Chị là Dì ruột của hai con trai tôi. Tới khúc rẽ của định mệnh cuộc đời, tôi đã “ra riêng” hơn mười năm rồi và kể từ hồi đó, tôi không còn có dịp để trò truyện với Chị nữa. Cách đây 9 năm, một hôm khi tôi về đón Út đi ăn cùng tôi, tôi ghé vào một Shopping Plaza để mua cho Út một món quà bất ngờ, tình cờ tôi gặp chị. Thấy chị, tôi nghẹn ngào không nói nên lời vì lúc này Chị vẫn còn độc thân, gầy gò và hay đau yếu luôn. Chị hỏi thăm về cuộc sống của tôi và căn dặn tôi nên giữ gìn sức khỏe nhất là tôi nên về thăm con tôi thường xuyên. Tôi nghẹn ngào và hứa với Chị rằng tôi rất nhớ thương chúng và chắc không bao giờ tôi có thể quên được chúng, mà cho dù tôi có muốn về thăm chúng thường xuyên hơn nữa thì cũng chẳng được vì luật lệ đã bầy đặt bắt tôi đi theo con đường mà tôi cũng chẳng có thể đổi thay được nữa.

Tôi không còn cơ hội gặp Chị nữa nhưng tôi viết cho Chị một lá thư để Chị biết rằng tôi tuy phải sống một mình nhưng tôi vẫn khỏe mạnh. Tôi thường hỏi thăm con tôi về Chị. Năm năm cuối cùng của cuộc đời Chị, Chị không còn nhớ được ai vào với ai nữa.

Út nói với tôi:

– Dì nói với Mẹ rằng “Chàng trai này sao nói truyện vui quá!”. Ðó là lời Dì nói về Con đấy, Daddy ơi! Dì yêu thương anh em con nhất đấy, Bố ạ.

Tôi quay mặt đi chỗ khác để Út không thấy tôi đang ướt mi lúc đó.

Chị không còn nữa nhưng thật ra đó chỉ là phần Thân Xác. Tôi vẫn còn có thể gặp Chị trong nhuững giấc mơ cơ mà!

Tôi viết bài thơ này tặng Chị:

TIỄN ÐƯA

Tiễn Chị về lại Cõi Trời

Còn Em ở lại với Ðời Trần Gian

Cầu cho Chị được an nhàn

Ở Nơi Vĩnh Củu thênh thang vui cười

March 11, 2005

Tôi tin rằng Chị và tôi đã từng là họ hàng hay bạn bè trong nhiều kiếp khác. Kiếp này, Chị đã phải giáng trần để trải qua và học hỏi tất cả những cái bất hạnh của Cõi Trần. Khi còn sinh  thời, tôi thương cảm cho cuộc đời đầy buồn phiền và  bất hạnh của Chị. Bây giờ, Chị tôi hết còn phải nặng nợ với cái Cõi Trần này nữa rồi!

Kiếp sau, tôi hy vọng Chị và tôi sẽ không phải gián đoạn tình Chị Em và Chị Em chúng tôi sẽ được sống trong một khung cảnh tươi vui và  êm đềm hơn.

Văn Khoa

2005

MY IMMIGRATION TO CANADA

Phan Dam

 My wife and I landed at Vancouver airport very late in the night on August 16, 1969. We were tired after a long flight from Sydney, Australia via Fuji and Honolulu. We were glad that we were finally in Canada, the land of our future.

While other passengers were happy and excited to meet their relatives and friends at the airport, we felt lonely and lost as we had no friends, no relatives here to pick us up and guide us in this new country. We did not know where to stay for the night. We just got married a few months before we came here. My wife had worked as a Librarian for the largest library in Sydney, Australia and I worked as a Design Civil Engineer for the Australian Government. In Australia, we had friends, jobs, and money. Here, we had nothing except just the two of us and less than $2000 in our bank account.

I asked the Information Officer for the cheapest place to stay.  Following her advice, we boarded the bus for the University of British Columbia where we could rent a room in one of the residences. It was a dark night and on the bus, we both felt dead tired, rather sick, lonely, and uncertain about our future in this new city. Yes, we were now in Canada where, hopefully, we could lead a peaceful life but what’s next? In the previous few months, we had been busy with our wedding, Immigration paperwork, Immigration interview, and packing up our belongings… I had worked a lot of overtime in order to save up as much money as possible…At least, in the airplane, my mind could have a rest. Now, on the bus, I started worrying again about our lives in a totally new country where we had to start all over again.

We had a good sleep. The next morning, we went down for breakfast. The cafeteria reminded me of the time when I was still at the University of New South Wales in Sydney. I only had to concentrate on studying, there was no worry about money or job and over there I had so many friends to talk to whenever I needed some help. 

We took a walk around the beautiful campus. Suddenly, I remembered a Vietnamese gentleman living in Vancouver whom I had not met before. One of my friends in Sydney had given me his address and phone number and told me to give him a call if I need some help once I arrived in Vancouver. We both talked to him on the phone and within an hour, he came to pick us up. Hung Dao (his name) took us to his apartment where we met his wife and their two young children. He had been studying in Japan before he came to Canada in 1968 to join his family. He was working as a Draftsman for a consulting engineering firm in Vancouver. We were lucky that we had phoned him on time as they were packing up and ready to leave Vancouver in the next few days. He was to head for Quebec City where he enrolled for his Masters’s Degree in Architecture. His wife and their children would leave for California where she had taught Vietnamese to American soldiers. They suggested that we should stay back in their apartment for 2 weeks until the end of their lease so that we had enough time to look for a suitable place while we were looking for a job in Vancouver.

Thanks to them, we were able to save money spent on accommodation for 2 weeks and to explore Vancouver the easier way. Hung Dao also gave me a lot of tips on job hunting and some company addresses to try my luck to look for a job. I am grateful to this couple for their thoughtfulness and kindness when we were rather desperate in this new land.

We found a duplex apartment owned by an old Canadian couple with very reasonable rent. One day, Mr. Joe Woollat, our landlord, walked with me downtown for a bowl of Clam Chowder. It was very delicious. It was quite a new dish to me as I never had Clam Chowder before in Australia. We walked back home. It must be more than 3 miles each way. When we got home, I went for a nap; I was 27 then. Mr. Woollatt, who was 94 years old, went out to cut the grass on the front lawn. My wife had a good laugh at her young and newlywed husband.

We both were eager to look for a job, as we did not have too much money left in our bank accounts. Jobs for professionals were very hard to find. I wrote many letters to various engineering firms in Vancouver, Victoria, and other small towns in BC. I made many phone calls trying my luck.

There were some confusing moments in my new land due to misunderstandings. Let me tell you about some typical occasions.

One day, I asked the receptionist the direction to her company but I could not hear the street names very well. I said to her on the phone: “I beg yours?” To that, she replied:” I beg your pardon, what did you just say?” Suddenly, I realized that I had spoken Aussie English to her: “I beg yours” in Aussie English means “I beg your pardon“ in Canadian English!

When we first went shopping in Vancouver, we were shocked that they overcharged us. My wife asked the cashier why and she showed us the bill with the Sales Tax. The concept of Sales Tax was totally new to us as we did not have to pay any Sales Tax in Australia!

 I made an appointment to see an Optometrist at 9:30 AM one Monday morning.  I arrived on time and I was very surprised that the office was still closed. I wait for a while but the office was still not open. I decided to go for a walk and when I came back, it was still closed. I was rather upset and as I walked away, his assistant arrived and opened the office. I asked her:” What’s the problem with your office? You were an hour late!” She replied:” Don’t you remember that we had the Day Light Saving Time Change last weekend?”. “Day Light Saving Time Change, what is it? ”, I asked myself.  A totally new word and new concept to me, as we had never changed time before in Australia!

Having no job, our money in the bank account ran lower and lower, and worst of all, we did not know anyone here close enough to borrow the money from in the event that we ran out of it. We were very worried about our financial situation. We hardly ate any meat, just trying to save as much money as possible. To entertain ourselves, we went to the Library to borrow books to read. My eyes were so strained as a result of wearing a rather old pair of glasses. Having to buy a new pair of glasses for me did cause some great financial concerns for both of us. Some nights, my wife had a dream that I had found a full-time job. With some small luck, she found a part-time job first, working 20 hours a week as a sales clerk in a shoe department. We were so happy to receive her first pay cheque. As we had no friends in Vancouver, we were so bored with staying at home all the time. To give us a treat, we bought Sunday bus passes which cost only 50 cents each for the whole Sunday. With the bus passes, we were able to go to the airport hoping that we would meet some friends or relatives arriving from overseas! We went to Stanley Park for a good walk and to look at the totems that we never had seen before. Chinatown was also a good place for us to visit. We would look at the menu posted on the restaurant window, reminiscing about our good times in Sydney when could go shopping and could afford many good meals as we both had worked as professionals and earned decent salaries.

Realizing that we could never find a professional job in Vancouver, we headed for Toronto at the end of October of that year. This time, we felt much better as our friends picked us up at the airport. They sheltered us for a week. They drove us around to look for accommodation and showed us all the subway and bus routes, and places to look for a job around Toronto.

We rented a basement apartment on Haddington Avenue in North York. It was so cold early in November as we did not have proper winter clothing. My wife was lucky: she got herself a Librarian job with the Metro Library Board, in December, just one month after we landed in Toronto. The first pay cheque was very helpful; at least we could plan for some appropriate winter clothing and we could afford to eat properly. We felt financially relieved enough to celebrate our first Christmas in Canada with some new hope in the new land!

In the middle of August of 1970, I started working as a laboratory demonstrator in the Civil Department at Centennial College. We could afford to rent a brand new high-rise apartment. Our lives were getting better and better. Our first son was born in September 1972 and the second one in April 1979. We bought a nice house where we raised our kids. Our sons graduated from University, and they are grown men now. I have been doing a lot of volunteer work to help new immigrants.

I retired after teaching for 32 years at Centennial College. I am happy, at peace with myself, and quite busy with my new lifestyle in my retirement years. Canada: this is truly my homeland at last!

Phan Dam, Professor Emeritus

Mississauga

December 2002

KHÔNG KHÍ NHIỆT ĐỚI.

Lãng Xẹt

Khi máy bay đáp xuống phi trường Punta Cana, Dominican Republic thì trời đã tối mịt. Hành khách xuống máy bay được thấy ngay cái không khí nóng nực của ban đêm đón chào.

Không giống như các phi trường tại Bắc Mỹ hay Âu Châu, phi trường Punta Cana làm tôi nhớ tới phi trường Tân Sơn Nhất của ngày xưa vô cùng: hành khách phải cuốc bộ một quãng đường trước khi vào building để làm thủ tục giấy tờ nhập cảnh. Điều đặc biệt là cái building hành chánh này được xây cất bằng gỗ và mái nhà được lót bằng lá dừa , trông rất ư là nhiệt đới.

Lãng Xẹt tôi tay sách, nách mang, bắt đầu thấy mồ hôi trên mặt, trên lưng và trên tóc muối tiêu của Lãng. Ôi chao ! Khí hậu nhiệt đới của Saigon, của Florida, của Brisbane, của Darwin, của Honolulu….ngày xưa, xin chào mi! Đối với những kẻ như tôi – đã sinh trưởng và khôn lớn lên trong cái khí nóng mùa hè Việt Nam, rồi đã bao nhiêu năm phải sống nơi xứ lạnh quê người – nay được hoà mình lại trong không khí nhiệt đới, lòng tôi tự nhiên vui chi lạ: vui mừng đón chào mồ hôi hay nước mắt?

Chiếc xe buýt không cũ mà cũng chẳng mới, ỳ ạch đưa gia đình họ Lãng và các hành khách cùng chuyến máy bay về khách sạn.  Đường tối thui, nhưng đôi khi đèn xe hơi rọi vào các hàng phượng vĩ đang nở hoa ven đường làm tôi chợt nhớ lại  thuở xa xưa. Vâng, vào khoảng  năm 1989, tôi cũng đã đến Dominican Republic , ngay tại thị trấn Punta Cana này.  Đã có một lần, xe buýt đi qua một thành phố nhỏ, bụi bay đầy phố và hai bên lề đường , hoa phượng vi! đã nở đỏ rực. Đó đây, tôi thấy dân bản xứ treo thịt lợn, thị bò  trong các quán lợp tôn, y hệt như ở Việt Nam vậy . Lòng tôi gợn buồn, và tiếng chuông ký ức đã đánh thức tôi giậy: Việt Nam ơi, tôi đã phải xa nhà hơn 40 năm rồi !

Mấy lần, khi viếng thăm Nam Mỹ, dọc đường tôi cũng đã thấy hoa  phượng nở. Rất tiếc là hồi đó tôi không chụp được cái hình nào của Phượng Vĩ , nhưng tôi đã  ghi vội  vài vần thơ sau đây :

LAN PHƯỢNG

Phượng ơi, Phượng nở trong lòng,

Bây giờ Phượng đã vào lòng đất sâu!

Cớ sao trời lại mưa ngâu,

Nhìn hoa phượng nở, thêm sầu, thêm thương .

Thân trai, ta vẫn dặm trường,

Đường trần rong ruổi, lòng vương nơi nào!

Cho nên, trong chuyến đi này, tôi đã trang bị một cái Digital Camera sẵn sàng chụp hoa Phượng lia lịa. Tôi mang theo cả một cái Digital hard drive để load tất cả các hình đã chụp vào đó, tha hồ mà chụp, chẳng sợ hết “phim” và máy hết battery!

Trong chuyến đi lần trước, tôi  thấy dọc đường, dân địa phương đã đặt đó đây vài cái am nhỏ . Xung quanh họ bầy hoa và quả. Người tour guide cho tôi biết là dân địa phương muốn tưởng nhớ đến những người đã bị tử nạn giao thông ở những nơi đó. Viet Nam và Nam Mỹ cách nhau gần cả trái cầu, sao lại giống nhau về vấn đề tâm linh như vậy nhỉ?

Tới khách sạn, tôi mệt muốn ói vì đói và “say sóng” vì xe buýt lắc lư quá nhiều .Nhưng sau khi xuống xe , tôi bỗng nhiên cảm thấy thoải mái lạ thường khi ngửi thấy mùi thơm thoang thoảng trong làn gió mát ban đêm. Mùi hương thơm rất nhẹ, tôi chưa hề được ngửi thấy mùi thơm dịu này bao giờ. Tôi biết chắc là lần sau, nếu còn có lần sau, khi tôi được trở lại với mùi thơm thoang thoảng của ban đêm này, tôi sẽ chợt nhớ lại thời điểm của năm 2002, khi tôi  đang vui vẻ đi chơi với những bạn bè thân thuộc.

Tháng 7, 2002

Punta Cana,

Dominican Republic

Văn Khoa / Đồ Lãng Xẹt

TRUYỆN CỔ TÍCH VỀ TÌNH YÊU

Đồ Lãng Xẹt

Sáng nay trời nắng to nhưng khá lẠnh, khoảng 1 độ C. chàng Lãng Xẹt nhà ta mặc quần áo cho ấm rồi rời nhà đi bách bộ. Dọc đường lá vàng, lá đỏ rơi theo từng cơn gió, thật là đẹp tuy hơi lạnh mỗi khi có gió.

Lãng Xẹt chợt nhớ tới các bác “còn son trẻ” đang còng lưng cầy ruộng làm Xẹt xương quá là xương, lạnh cóng cái … xương sườn chua ngọt!

“Someone has to work and Xet has to walk himself and …wok his dog” :-))) !

Trong niềm thương sót đó, Lãng bèn xẹt vào 1 hiệu MacDonald mà ăn brunch. Nhâm nhi một hụm cà phê và thong thả bỏ một miếng French Fry vào miệng, Xẹt lôi trong túi lấy giấy và bút ra để ghi ghi, chép chép đôi dòng. Nghĩ tới việc các Bác gái và KQÐ bàn đi, bàn lại về Tình Yêu làm Xẹt chớp mắt như súng liên thanh, tim đập thình thịch và réo lên như cái jackhammer của dân Công Chánh đang sửa đường vậy . LX phải đứng lên thở ra, hít vào vài phút để tự chủ cho qua cơn “hyper”. Sau khi đã tịnh tâm được vài phút, Xẹt mỉm cười vu vơ rồi bắt đầu viết.

Truyện kể rằng:

Ngày xửa, ngày xưa có một anh chàng tên là … Lãng Xẹt. Số phận chàng Xẹt hay… lẹt đẹt về tình duyên cho nên anh ta nghĩ tới chuyện vào am để tu tiên theo lời khuyên của mấy người bạn chân tu, tay viết như Thích Qua Ðường, Thích Hoa Nhài, Thích Nhóm Lửa …

LX quyết tri kiếm thầy để học cách tu tỉnh cuộc đời những mong các sao quả tạ sẽ rơi sang đất người ta thay vì rơi trên cái đầu lãng xẹt của Xẹt.

Trong am, sư phụ của Xẹt đã chỉ dậy cho đệ tử làm sao sống cho an nhàn để tránh khỏi cái stress hùng hục trong lúc đi mần, kiếm cơm, kiếm gạo, mua xăng, có đào … và LX đã học được câu này của sư phụ:

“Ði để mà đi, chứ không phải là đi để mà đến!”

LX bỗng thấy tỉnh cả người vì từ xưa đến nay, Xẹt luôn luôn muốn “đến” ngay cả trước khi “đi”!

Xẹt dzung đùi, thấy hết cả “lãng” lẫn “xẹt”! Anh chàng bèn hoạch định ngay cái kế hoạch theo cái kiểu “Strategic Planning” của người Âu Mỹ: “Nếu mà mình thích người tên A, thì mình cứ rủ người tên A đi chơi nhưng chớ đi tới cái Tòa Thị Chính (để ký giấy ấy mà!), đi thì ta cứ đi nhưng mà không đi đến, you hear me, LX?”

Sau khi ra khỏi am, Xẹt đi gặp ngay bạn bè để ăn uống và trò truyện vì Xẹt đã khám phá ra cái “bí kíp” của đời Xẹt! Dĩ nhiên là Xẹt nhà ta không quên chia xẻ với bạn bè câu :

“Ði để mà đi, chứ không phải là đi để mà đến!”

Sau khi cụng ly xong vài hụm diệu đế ngâm tắc kè, mặt mày Xẹt hết xanh lè, Xẹt bèn “họa” ngay như thế này:

“Yêu để mà yêu, chứ không phải yêu để mà lấy!”

Mấy chàng tới tuổi tri thiên mệnh bèn la làng:
“Dzô, Dzô! Kíu bồ cho tụi tôi dzới!”

Xẹt thấy phơi phới trong người vì đã có người hiểu Xẹt, bỗng một anh bạn tươi cười dành ngay cái microphone, không phải là để hắn hát Kara thì sẽ Ô Kê nhưng anh chàng tuyên bố (không mấy…Ô Kê):

– Xin “họa” với đằng ấy phần đối này của tớ:

“Lấy để mà lấy, chứ không phải lấy để mà yêu!”

Trời đất, Quỷ thần ơi, mấy chự trên 5 bó bèn vỗ thùng nước lèo bùng bục, rất khoái chí mà cười to như vỗ cái thùng tô nô vậy . Chỉ tội anh chàng “lấy đại/lấy dại” kia, sau khi “tuyên bố cái cương lĩnh tình yêu” bèn quay sang phía bên phải, nhìn ngay thấy ngay Bà Cai của anh ta đang muốn “sửa sai” (hay “sửa đúng”) anh chàng … Ðức Lăng Quăng .

Tiệc tan, “phe ta” (phe liền ông ấy mà) ra về trong lo sợ và hồi hộp. Chàng LX cũng biết thân, biết phận phải “thăm dò” Bà Cai Tập Sự trong khoảng một thời gian rất là yên lặng, yên lặng đến căng thẳng, giống như hồi “Cold War” giữa Nga và Mỹ vậỵ!

Vài hôm sau, anh chàng có “họa” kia gọi điện thoại cho LX khi họ đang ở trong phòng làm việc:

– Ðằng ấy làm hại tớ, vì cái câu “họa” mà đời tớ đang gặp “họa” đây này ! Tớ quá “ếch xai” (excited) nên “cóc nhớ” là tớ đang có “Chính Phủ” bên cạnh nên tớ cứ “họa” đại! Thật là tai họa đang đến với tớ! Mấy bữa nay, tớ bị bỏ đói: “người dân” không được “chính phủ” đoái hoài tới nhất là trong các bữa ăn. Tớ đói bụng đòi ăn thì nàng nhẹ nhàng nói rất ngọt ngào:

“Yêu để mà lấy, chứ không lấy để mà hầu ăn!”.

Nói xong, ngài an nhiên tự tại mà ngồi xuống coi … phim bộ tình cảm Hàn Quốc. Tự nhiên tớ cảm thấy như tớ đang là một nhân vật chính trong phim tình cảm mà đói bụng của năm Ất Dậu 1945 đó vậy!

Anh chàng bạn này của Xẹt sau đó trở thành một … Yêu Tinh vì anh ta đã trở thành rất tinh tưòng về vấn đề ăn, nói, đói, no.

Lời Lãng Xẹt:
Thế mới biết …

Tình yêu rất là quan chọng,
Yêu không xong, bụng đói dài dài!

Falling in love,
Watch out for stomach sorrows!


Ðồ Lãng Xẹt

2005

ENGLISH BASIC GRAMMAR – LEVEL 1 – Phan Dam

Cuộc Sống

Niềm Tin Và Hy Vọng

Đàm Trung Phán

Những bài viết .....

Thơ TRƯƠNG HIẾU

CƯ AN TƯ NGUY

Hội Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam - Vietnamese Boat People Memorial Association

Hội Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam - Vietnamese Boat People Memorial Association

Việt Nam

Việt Nam

Kiếm tiền online

Kiếm tiền tại nhà hàng ngày . các cách kiếm tiền free online

Shop Mỹ Phẩm - Nước Hoa

Số 7, Lê Văn Thịnh,Bình Trưng Đông,Quận 2,HCM,Việt Nam.

Công phu Trà Đạo

Trà Đạo là một nghệ thuật đòi hỏi ít nhiều công phu

tranlucsaigon

Trăm năm trong cõi người ta...

~~~~ Thơ Thẩn ~~~~

.....Chỗ Vơ Vẩn

Nguyễn Đàm Duy Trung's Blog

Trang Thơ Nguyễn Đàm Duy Trung

%d bloggers like this: