Đàm Trung Phán

Những bài viết …..

KÊU GỌI TỔNG BIỂU TÌNH: TOÀN CÕI VIỆT NAM, TOÀN THẾ GIỚI NGÀY 07, THÁNG 7, 2018

 

 

 

 

 

Đã đến lúc người dân trong toàn cõi Việt Nam và toàn thể giới cùng nhau đi biểu tình để lật đổ chế độ Công Sản Việt Nam và chống Trung Cộng xâm chiếm Việt Nam . Kính mời Quý Vị vào đọc bài viết:

TỔNG BIỂU TINH: TOÀN QUỐC, TOÀN THỂ GIỚI NGAY 07/07/2018:

http://thuduc-ontario.ca/folder/tincd-mautuat/tongbieutinh-070718/index.html

 

Kính mong Quý Vị rộng lòng phổ biến tin tức này.

 

Đa tạ,

ĐTP

KIM VÂN KIỀU ĐÍNH GIẢI – Hương Ngạn Đào Tử ĐÀM DUY TẠO

KIM VÂN KIỀU ĐÍNH GIẢI

Hương Ngạn Đào Tử ĐÀM DUY TẠO

trước tác năm 1986

(Thứ nam) ĐÀM TRUNG PHÁP

hiệu đính năm 2018

***

                                         

TIỂU SỬ CỤ HƯƠNG NGẠN ĐÀO TỬ

                                                                                                                                                                                                   ĐÀM DUY TẠO

Cụ Đàm Duy Tạo sinh năm Bính Thân (1896) tại làng Hương Mặc, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Cụ mất năm Mậu Thìn (1988) tại thành phố Montréal, Gia Nã Đại, hưởng thọ 92 tuổi.

Cụ có thi hương khoa Nhâm Tý (1912), nhưng ngay sau khi các kỳ thi chữ nho bị bãi bỏ, cụ theo học chữ Pháp một thời gian và trở thành một nhà giáo tiểu học vào khoảng năm 1920. Tuy dạy học bằng chữ quốc ngữ và chữ Pháp, cụ vẫn suốt đời tự trau giồi chữ Hán và chữ Nôm và sống trong phong cách của một nhà nho.

Từ 1920 đến suốt thế chiến thứ hai, cụ dạy học ở Phúc Yên. Sau năm 1945, vì tình hình chính trị bất an, cụ xin tạm ngưng dạy học để trở về Bắc Ninh trông nom ruộng vườn, cho đến tận năm 1950 khi cụ được chính phủ quốc gia tái tuyển để tiếp tục dạy học tại Phúc Yên (1950-1952) rồi Hà Nội (1952-1954). Cùng gia đình di cư vào Sài Gòn sau hiệp định Genève, cụ tiếp tục dạy học đến năm 1957 thì về hưu. Sau đó cụ được khế ước dạy Hán văn tại Trung Học Gia Long và dịch sách chữ Hán sang tiếng Việt cho Trung Tâm Học Liệu thuộc Bộ Giáo Dục. Trong thời gian về hưu, ngoài ba cuốn sách Kiến Văn Tiểu Lục (Lê Quý Đôn), Kiến Văn Tiểu Lục [Tập Nhì] (Lê Quý Đôn), và Kiến Văn Lục (Võ Nguyên Hanh) mà cụ dịch sang tiếng Việt và được Bộ Giáo Dục lần lượt xuất bản năm 1964, 1965 và 1969, cụ còn dịch và hiệu khảo các cuốn Nam Thiên Trung Nghĩa Bảo Lục  (Phạm Phi Kiến), Lê TriềuTiết Nghĩa Lục (khuyết danh tác giả), và Bắc Hành Tùng Ký (Lê Quýnh). Cụ cũng hoàn tất hai cuốn sách rất ưng ý của cụ là Hoa Văn Trích Dịch Tập (gồm thơ và văn từ Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Đào Tiềm, Lương Khải Siêu, vân vân) và Việt Hán Cựu Văn Trích Dịch (gồm những thi phú chữ Hán của các bậc khoa bảng Việt Nam, đa số xuất thân từ tỉnh Bắc Ninh). Trong hai cuốn sau cùng này cụ đã dịch thơ chữ Hán sang thơ tiếng Việt qua một vài thể thơ khác nhau. Tiếc thay, các tác phẩm này chưa kịp xuất bản thì xảy ra quốc nạn 1975. Đó cũng là năm cụ di cư sang Gia Nã Đại để tỵ nạn cộng sản.

Trong những ngày đầu buồn tẻ tại Montréal cụ mải mê đọc lại từng câu thơ trong cuốn Truyện Thúy Kiều (do hai cụ Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo). Cuốn sách ấy chính cụ đã gửi làm quà cho một thứ nam của cụ lúc đó đang du học ngoại quốc, nay được “tặng lại” cho cụ! Để giải sầu, cụ bỏ ra nhiều thì giờ để hoàn tất vào năm 1986 (lúc cụ 90 tuổi) một công trình văn học sâu sắc cuối đời, quá mức tưởng tượng của các con cháu cụ. Đó là cuốn di cảo 579 trang tựa đề KIM VÂN KIỀU ĐÍNH GIẢI của Hương Ngạn Đào Tử Đàm Duy Tạo. Lý do sự ra đời của di cảo này được cụ thổ lộ trong phần mở đầu cuốn sách: “Các bản Truyện Kiều ở nước Việt Nam ta bây giờ có nhiều chữ lệch lạc khác nhau, và nhiều chữ ý nghĩa mập mờ, khiến các nhà chú giải không nhất trí.” Phương pháp đính giải của cụ là so sánh các chữ, các câu khác nhau trong các bản Truyện Kiều qua những giải thích và dẫn giải rõ ràng và dễ hiểu trên căn bản chữ Hán, chữ Nôm cũng như các điển tích, phong dao, tục ngữ, để cải chính lại những sai lầm trong một số bản Truyện Kiều đã được lưu hành từ trước đến nay – hoàn toàn nhờ vào trí nhớ phi thường của một nhà giáo đã trên 80 tuổi.

(Đàm Trung Pháp)

 

MẤY LỜI PHI LỘ TRƯỚC KHI ĐÍNH CHÍNH

              

VÀ CHÚ GIẢI TRUYỆN KIỀU

                                                                  

Truyện Kim Vân Kiều hay Đoạn Trường Tân Thanh là một tác phẩm văn chương rất quý, không những là của riêng nước Việt Nam ta, mà còn là của chung cả thế giới nữa. Người ngoại quốc đã cho Truyện Kiều là một quyển truyện hay vào bực nhất nhì trong kho văn chương hoàn cầu. Một nhà văn sĩ nước Pháp, ông René Crayssac, đã thán phục Truyện Kiều là hay tột bực về đủ phương diện: lời văn êm đẹp, ý tứ thâm thúy, tả tâm tình người nào đúng người ấy, tả việc nào, cảnh nào đều thật khéo thật rõ để người đọc như được mục kích, và ông đã chịu khó mất công ba năm trời chuyển ngữ quyển truyện quý nước Việt Nam này ra thể thơ Pháp văn thành một tập thơ dày vài trăm tờ. Ông nói ông cố dịch ra Pháp văn cho người nước Pháp được thưởng thức cái hay cái đẹp vô giá của văn chương Việt Nam. Hiện nay Truyện Kiều càng ngày càng được người ngoại quốc hoan nghinh, hết thảy các nước văn minh tân tiến đều đua nhau sưu tầm khảo cứu Truyện Kiều để dịch ra tiếng nước mình.

 

Giá trị quyển Truyện Kiều cao quý như vậy, nhưng tiếc thay các bản Truyện Kiều lưu hành ở nước Việt Nam ta bây giờ có nhiều chữ lệch lạc khác nhau, và nhiều chữ ý nghĩa mập mờ, khiến các nhà chú giải không nhất trí. Đó là một điều có thể làm giảm mất một đôi phần giá trị cao quý Truyện Kiều. Xét ra Truyện Kiều có những chỗ ý nghĩa mập mờ đó là vì các nhà chú giải không chịu suy nghĩ trước sau xa gần cho ra nghĩa thật xác đáng, chỉ giảng giải gượng ghịu cho xong lần. Còn về phần chữ hay câu ở các bản lệch lạc khác nhau vì các lẽ sau này:

 

(1) Vì mất các bản chính và các bản mới ấn hành lần đầu cũng không còn. Rồi đến cả các phường bản, thợ nhà in theo các bản in lần đầu mà khắc lại tuy có đôi chữ hoặc khắc sai nét, hoặc in nhòe nhoẹt, nhưng ta còn dấu vết để suy xét được chữ chính đáng, thì nay cũng lại đều hết cả. Hiện giờ chỉ còn những bản Kiều nôm do các nhà văn sĩ đã cậy mình tài giỏi, tự theo ý mình mà đổi bừa bãi những chữ in sai in nhòe nói trên. Nhưng các ông đã nhận lầm đổi bậy các chữ đó ra những chữ vu vơ vô nghĩa, rồi ông thì giải gượng cho xong lần, ông thì lại đổi luôn cả một vài chữ khác cho ăn nghĩa với những chữ đó. Thế là các ông đó đã phạm một lỗi lầm lớn là làm hỏng mất một câu nguyên văn rất hay thành một câu rất dở.

Thí dụ như câu 247 tả Kim Trọng tương tư Kiều thâu đêm mất ngủ: “Sầu giong 𩢦càng khắc 刻 càng chầy 迡” nghĩa là: chàng không biết hãm mối sầu lại, nén nó xuống cho khuây đi để ngủ, lại cứ giong con ngựa sầu đó cho nó chạy đuổi theo bóng Kiều mãi, thành ra mất ngủ, thấy đêm càng dài thêm mãi. Câu này lấy ý ở câu thơ của Ngô Tử Kinh: 愁 逐 漏 声長 (sầu trục lậu thanh trường = sầu đuổi tiếng đồng hồ dài dài). Câu nguyên văn ý nghĩa thật hay đẹp như thế mà chỉ vì các ông không biết câu thơ cổ đó, lại không hiểu nghĩa chữ “giong 𩢦” là gì, nên các ông xuất bản truyện Kiều, ông thì đổi câu này thành: “Sầu đông 冬 càng khắc càng chầy”. Ông thì đổi thành “Sầu đông 冬 càng khắc càng đầy”. Có ông lại đổi thành “Sầu đong 𣁲 càng lắc càng đầy”. Ôi câu nguyên văn lời thanh ý đẹp như thế, mà các ông đổi ra những câu ý nông cạn, lời thô quê như thế, thật là đáng tiếc!

 

(2) Vì các văn sĩ ta xưa không bao giờ chú thích tác phẩm của mình. Ta có thể nói được là tác giả thu nhặt những lời hay ý đẹp trong nhiều sách Nho như Kinh Thi, Kinh Lễ, Thơ Đường, Thơ Tống, Tình Sử, Liêu Trai, truyện thần tiên, kinh nhà Phật, vân vân, cả đến phương ngôn, tục ngữ, ca dao của ta nữa, để khéo chấp nối mà viết thành quyển Đoạn Trường Tân Thanh, đúng như lời tác giả nói khiêm: “Lời quê chắp-nhặt dông dài” ở câu kết truyện. Bởi nguồn tích Truyện Kiều mông mênh man mác trong giới văn Tàu, văn ta như vậy, nên phải có những bực văn nhân học lực đã sâu rộng, lại phải lăn lộn tiếp xúc nhiều với dân quê ta, mới có thể chú giải đầy đủ được Truyện Kiều, đại khái như các cụ Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh. Nhưng tiếc thay các bực thâm nho này lại cho việc chú giải Truyện Kiều là một việc không cần, chớ các cụ có biết đâu rằng Truyện Kiều sẽ là cái hồn thiêng quý của nền văn chương Việt Nam khiến người Âu Mỹ bây giờ phải kính nể văn hóa nước ta.

 

Giảng giải những điển cố lấy ở cổ thư thì các vị thâm nho tuy đã học nhiều lại sẵn sách kê cứu, nhưng vẫn chưa đủ, vì còn có thêm những điển cố lấy ở phong dao tục ngữ ta mà chỉ có những vị thâm nho nào đã từng sống nhiều ở thôn quê mới biết. Nên nhiều câu tác giả lấy điển ở ca dao, tục ngữ ta, mà ít nhà chú thích Truyện Kiều nào nói đến. Thí dụ như câu 1025 Kiều bảo Tú Bà: “Sợ khi ong bướm đãi đằng” sau khi nàng nghe mụ dỗ dành nàng rằng sẽ tìm nơi xứng đáng mà gả chồng cho nàng. Câu Kiều nói này nghĩa là: “Tôi sợ bà nói đấy rồi lại quên lời ngay, chỉ nói đãi-bôi lừa nhau một lúc cho xong lần thôi”. Chữ ong bướm đây lấy điển ở câu ca dao: “Nói lời thì giữ lấy lời / Đừng như con bướm đậu rồi lại bay”. Chữ “đãi đằng” thì lấy điển ở câu: “Yêu nhau bảo thật nhau cùng / Đậu ngâm ra giá đãi đùng nhau chi”. (“Đãi đùng” dùng thay cho “đãi đằng” cho hợp vần). Nghe nàng nói thế, thì mụ trả lời và thề ngay: “Phải điều lòng lại dối lòng mà chơi / Mai sau ở chẳng như lời / Trên đầu có bóng mặt giời rạng soi” thì biết lời nàng nói và lời mụ đáp lại đều ý thật rõ thật hay, thật khẩn thiết với nhau. Trong cuốn Truyện Thúy Kiều của hai ông Kim và Kỷ xuất bản, họ giải nghĩa chữ “đãi đằng” là “lôi thôi” là lầm, vì câu “Sợ khi ong bướm nó lôi thôi” không khẩn thiết gì với câu mụ nói và thể ở dưới.

 

Lại như câu 1363 “Đường xa chớ ngại Ngô Lào”, tác giả lấy điển ở câu phong dao: “Chơi cho nước Tấn sang Hồ / Nước Tề sang Sở, nước Ngô sang Lào”, mà không thấy nhà chú thích Truyện Kiều nào nhắc đến.

 

Và như câu 2940: “Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng pha” lấy điển ở câu ca dao: “Một liều, hai ba bốn cũng liều / Năm sáu sông cũng lội / Bảy, tám, chín, mười đèo cũng pha”. Chữ “pha” đây nghĩa là xông vào nơi bụi rậm gai góc, nhưng ở nhiều bản Kiều nhà xuất bản đổi lầm ra chữ “qua”, thành kém ý nghĩa mạo hiểm. Chữ “đèo” đổi ra “ngàn” để hợp vần.

 

(3) Vì sao đi chép lại mãi, chữ nọ lầm ra chữ kia, người sau đọc đến những câu có chữ lầm đó, thấy lời văn không chạy, ý nghĩa tối tăm, mà suy xét không ra các chữ sai lầm đó, bèn lại đổi chữ khác cho liền nghĩa vu vơ với chữ lầm trước, thế là làm mất cả lời hay ý đẹp của cả câu nguyên văn trước. Ta hãy lấy hai câu: “Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh / Rụng rời đọt 稡 liễu 柳, tan tành cội 檜 mai 梅” làm thí dụ. Chữ đọt liễu là cái trồi liễu mẫm mạp non tươi mới trỗi lên từ gốc cây, tượng trưng Thúy Kiều, Thúy Vân; cội mai là cái gốc già cứng cây mai tượng trưng Vương Bà. Ý hai câu này nói: “Lũ sai nha nó thét lác làm hai cô gái trẻ và Vương Bà sợ hãi tan hồn bạt vía”. Câu tả cảnh này lời thật hay đẹp, ý thật đúng rõ như vậy. Thế mà chỉ vỉ chữ “đọt 稡 liễu” thợ in khắc lầm ra “giọt 湥liễu”, để cho mọi người tưởng lầm “giọt liễu là những tua giải áo thắt lưng rũ xuống của đàn bà con gái, rồi mới đổi chữ “cội mai 檜 梅” ra làm “gối mai 檜 梅” để đối với “giọt liễu” cho chỉnh, lấy nghĩa chữ “gối mai là do chữ mai trẩm dịch ra”, nói sự vui vẻ đoàn tụ ở trong nhà. Đổi thế đã là vô nghĩa, nhưng chưa vô nghĩa bằng có bản đã đổi “gối mai” ra “gói may 𦁼” lại đổi luôn cả “giọt liễu” ra “khung dệt” nữa, để đối với “gói may” cho chỉnh hơn! Ôi! Câu “Rụng rời đọt liễu, tan tành cội mai” nguyên văn thật ý hay lời đẹp tuyệt diệu như thế, mà chỉ vì một chữ “đọt 稡” làm ra “giọt 湥, bị thay đổi dần mãi thành ra “Rã rời khung dệt, tan tành gói may” – sao mà lời văn thô, ý nghĩa dở được đến như thế?

 

Lại như câu Kim Trọng nói: “Bấy lâu đáy bể mò kim / Là theo vàng đá, phải tìm trăng hoa?” nghĩa là: Ta sỡ dĩ cố đi dò thăm tìm nàng bấy lâu, là vì ta theo lời thề nặng với nàng, chớ đâu phải là vì ta mến sắc đẹp của nàng. Chữ “theo 蹺” in lầm ra “nhiều 饒” thật là vô nghĩa, vậy mà không ai để ý đến, cho nên hết thảy các bản Kiều nôm, Kiều quốc ngữ đều in là “nhiều”!

 

(4) Vì nhiều chỗ trong bản Kiều nôm cũ khắc vụng in nhòe, người sau nhận không rõ, mới đoán bừa ra thành những câu vô nghĩa rồi giải gượng cho xuôi, cho xong lần, để những câu đoán lầm đó lưu truyền mãi mãi ở trong Truyện Kiều. Cũng có nhà xuất bản, biết là sai, có sửa lại, in lại, nhưng vì không biết điển cố, cũng lại sửa bừa – vô nghĩa vẫn hoàn vô nghĩa! Thí dụ như câu 1507 Kiều khuyên Thúc Sinh phải vể nói rõ việc mình làm lẽ cho Hoạn Thư biết, chớ không giấu mãi được đâu: “Dễ mà bọc giẻ giấu kim / Làm chi bưng mắt bắt chim khó lòng?” Câu 6 chữ này lấy điển ở câu ca dao vợ cả đe chồng chớ thầm vụng với gái: “Này này tớ bảo cho hay / Giấu kim bọc rẻ có ngày thò ra!” Điển này dùng vào lời Kiều khuyên đây thật hay, thật xác đáng. Thế mà vì chữ nôm câu sáu chữ này 𥚯  𦓡  襆 綵 闘 金  rậm nét khó khắc, nên các bản Kiều nôm cổ đều in nhòe nhoẹt rất khó nhận; người xuất bản suy nhận không ra, mới đoán lầm mà khắc lại câu này thành 易 𤍶 𧞣 𧺀 𦟹 金 Dễ lòe yếm thắm trôn kim”, và cho là điển ở câu tục ngữ “Dễ lòe được yếm thắm, chớ không lòe được trôn kim”, và giảng câu tục ngữ này là: cái người ta không để ý đến, thì dẫu một người mặc cái yếm đỏ thắm đi qua người ta cũng không thấy, nhưng cái người ta đã để ý đến, thì dẫu nhỏ như cái lỗ ở trôn kim người ta cũng nhìn rõ ràng. Có lẽ các ông xuất bản này đã khéo bịa ra câu tục ngữ này để làm bằng cứ giải nghĩa cái câu Kiều mập mờ vô nghĩa đó. Rồi lại có ông xuất bản thấy câu “Dễ lòe yếm thắm trôn kim” vô nghĩa đó, lại đổi ra thành một câu nghĩa đã vô lý hơn, lời lại quá thô bỉ: 𥚯 𦓡 押 耽 掄 金 Dễ mà ép sẫm luồn kim!

 

(5) Vì chữ nôm không có quy tắc nhât định để cho hình chữ nhất trí và tiếng đọc nhất trí. Đã 1 tiếng có thể viết thành ra 2, 3 lối, ví dụ tiếng “lời” có thể viết là 唎 hay là 𠳒 ; lại một chữ có thể đọc được là 2, 3 tiếng, tùy theo nghĩa dùng từng chỗ, thí dụ chữ 𠃅 có hai tiếng đọc là “mé” hay là “mái”. Câu “Hàn gia ở 𠃅 mé tây thiên” thì phải đọc là mé mới đúng nghĩa, vì mả Đạm Tiên ở mé bên bờ phía tây cánh đồng; và trong câu “𠃅 Mái tây để lạnh hương nguyền” thì phải là “mái” mới đúng, vì chữ Mái tây dịch chữ Tây sương ra, Tây sương là mái nhà phía tây. Chữ “mái tây để lạnh hương nguyền” thì các bản truyện đều dịch đúng, nhưng chữ “Hàn gia ở mé tây thiên” thì các bản Kiều quốc ngữ đều dịch lầm ra “mái tây thiên” thật là sai nghĩa. Bởi sự không nhất trí của chữ nôm như thế, một chữ có thể đọc ra 2, 3 tiếng, đã gây nhiều sự khó khăn cho người phiên âm nôm ra chữ quốc ngữ. Nếu người phiên âm một cuốn truyện viết bằng chữ nôm ra chữ quốc ngữ mà không đủ khả năng để hiểu thật nghĩa lý câu chuyện, hoặc không chịu khó suy nghĩ cho ra ý nghĩa xác đáng của từng chữ trong câu truyện, thì phiên âm dễ sai lầm lắm. Thí dụ như chữ “nén” trong câu 1390 “Nén lòng e ấp tính bài phân ly”, thì chữ nén nôm viết 𥗨 (gồm石 thạch là đá tỏ ý nặng ở bên chữ 曩 nẵng hợp với tiếng “nặng” hay tiếng “nén” của tiếng Việt ta). Chữ 𥗨 trong câu Kiều này phải phiên âm là “nén” thì mới đúng ý nghĩa vì Thúc Ông lúc mới thấy Thúc, Kiều tốt đôi, trước còn e ấp dùng dằng không nỡ bắt con phải bỏ Kiều, nhưng sau ông thấy con đã phá sản quá nhiều vì Kiều, nên ông mới đành nén lòng e ấp ấy xuống, mà bắt Thúc sinh phải đuổi Kiều đi. Câu này thật hay, tả rõ được nỗi phân vân trong lòng Thúc Ông, vừa có lòng nhân từ cha mẹ thương con, vừa có óc ông già buôn bán tiếc của. Thế mà hết thảy các bản truyện Kiều quốc ngữ kể cả hai cuốn của ông Trần Trọng Kim và của ông Nguyễn Khắc Hiếu đều phiên âm lầm ra là “Nặng lòng e ấp tính bài phân ly” thành ra vu vơ nghĩa. Ông Hiếu thì chịu là: không hiểu chữ e ấp nghĩa là gì ở đây; ông Kim thì giải nghĩa gượng chữ e ấp là e lệ, sợ hãi và nặng lòng e ấp là nói Thúc Ông sợ nỗi con đã có vợ rồi mà lại chơi bời, lấy gái giang hồ, vậy ông mới tính bài bắt phải bỏ ra (Lời giải
số 5 ở trang 126 cuốn Truyện Thúy Kiều in lần thứ 8, nhà in Tân Việt).

Lại còn một nỗi khó khăn hơn nữa cho người phiên dịch Truyện Kiều viết bằng chữ nôm ra chữ quốc ngữ. Đó là vì các bản Kiều nôm cũ thường có nhiều chữ hoặc bị sao chép sai, hoặc bị khắc in sai, cần phải suy nghĩ khảo sát, tốn công mới biết được, mà muốn khảo sát cải chính những chữ sao khắc sai lầm này ra chữ chính xác, thì một là phải thông thạo chữ nôm, hai là phải biết cách viết thảo chữ Hán và chữ nôm, ba là phải nghĩ kỹ lấy ý nghĩa của mấy câu trước sau chữ sai lầm thành vô nghĩa đó. Có đủ ba điều kiện tối-cần ấy thì mới có thể đem những chữ sai lầm ấy ra mà phân tích mà suy đoán, tìm lấy mọi lẽ biến chuyển thế nào mà lại có được một chữ vô nghĩa như vậy, rồi lại lấy chữ vô nghĩa này làm hình thức bằng chứng mà đoán ngược lại lấy chữ chính xác nguyên văn. Dưới đây tôi xin kể vài chữ thật hay đã bị người sao chép sai lầm thành ra chữ vô nghĩa, vì hai chữ gần giống nhau:

 

(1) Chữ “ủm 黯” lầm ra “điểm點” ở câu 367. “Một tường tuyết ủm 黯 sương che” tả cảnh Kim Kiều nhìn ngóng nhau mãi mà chẳng thấy nhau như bị tuyết sương phủ kín. Có bản Kiều in lầm ra là “Một tường tuyết điểm 點 sương che”. Rồi có mấy nhà xuất bản sau thấy chữ “điểm” vô nghĩa, mới đổi bừa ra là: “Một tường tuyết chở sương che” hay là “Một tường tuyết đón sương che”. Chữ “đón” cũng gần vô nghĩa như chữ “điểm”, cả chữ “trở” cũng gần vô nghĩa như vậy; người ta chỉ nói “cách trở” hay “ngăn trở” mới có nghĩa, chớ không bao giờ nói riêng lẻ một chữ “trở” bao giờ; và người ta cũng chỉ nói “che chở” chớ không bao giờ nói “trở che” hay “che trở”.

Chữ “điểm點” tuy vô nghĩa thật, nhưng còn giữ chút “di tích” nguyên văn cho ta lấy nó làm bằng cứ mà suy đoán ra chữ “ủm 黯” là nguyên văn, vì 黯 Hán văn là ảm, chữ nôm mượn làm ủm.

 

(2) Chữ “lựa 攄” lầm ra “lừa 驢” ở câu 3072.

“Khuôn thiêng lựa 攄 lọc đã đành có nơi” là lời Thúy Vân khuyên Kiều lại lấy Kim Trọng, ý nói: Trước kia Kiều đã hẹn lấy chàng, rồi gặp gia biến phải bỏ ra đi, nay bỗng lại được gặp nhau, đó thật là ông trời đã lựa chọn kỹ càng hai người lấy nhau thật xứng đáng, nên nay lại cho được kết duyên. Chữ lựa lọc nghĩa là kén lựa rất tinh tế. câu này lời thật hay, ý thật đúng như vậy, thế mà vì lỗi người chép lầm hay người khắc in sai “lựa 攄” ra “lừa 驢” rồi lại người phiên âm không biết nghĩa cứ theo chữ lầm mà dịch bừa ra: “Khuôn thiêng lừa lọc …” thành vô nghĩa; lại có bản dám đổi hẳn ra là “Khuôn thiêng lừa đảo…” nữa thật đã quá vô nghĩa, lại quá hỗn sược với cả trời nữa!

 

(3) Chữ “lờ 濾” chép lầm ra là “làn 瀾” ở câu: “Lờ 濾 thu thủy, nhợt xuân sơn 曀 春 山/ Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”. Hai câu lục bát này dùng bốn chữ so sánh: lờ, nhợt, ghen, hờn, để tả vẻ đẹp của Kiều: vẻ trong sáng đôi mắt thì làm lờ được màu trong hồ nước lặng mùa thu; vẻ đẹp tươi của đôi lông mày thì làm nhợt được vẻ tươi đẹp mặt cỏ núi mùa xuân; màu thắm hồng đôi má làm cho hoa thua phải ghen, màu xanh rờn lông mày làm cho liễu phải hờn tức. Hai câu lục bát này ý thật hay, vẻ đẹp thanh tú của nàng hơn cả bên cảnh thanh tú của trời đất, lời thật luyện và đăng đối tề chỉnh, liên tiếp với nhau. Hai vế câu sáu chữ này dịch từ câu chữ Hán                                                                                                                                                                               眼 光 秋 氺 眉 淡 春 山 [nhãn quang thu thủy, mi đạm xuân sơn = mắt sáng hơn là nước mùa thu, lông mày làm nhợt được màu núi mùa xuân]; câu nguyên văn diễn: l thu thủy, nhợt xuân sơn, là rất đúng. Rồi lại thêm một người tái bản sau nữa đổi luôn cả chữ nhợt 曀 ra làm nét 涅thành ra câu này là “làn thu thủy, nét xuân sơn” nghe êm tai, nên mọi người nghe quen tai, cho là phải, nhưng suy nghĩ cho kỹ thì thật là lệch lạc vô nghĩa, đã không thành câu, lại thiếu ý tả vẻ đẹp, mà lại không lưu loát liền mạch với câu 8 chữ dưới. Còn chứng cớ chữ “lờ” rất đúng là bản Kiều nôm Cụ Nghè Vũ Trinh 武 桢 xuất bản còn để nguyên chữ nhợt 曀 để đối với chữ lờ viết sai ra “làn”.

 

[ĐÀM DUY TẠO]

 

 

KHI MÙA XUÂN ĐẾN

 

Đàm Trung Phán

 

Về đây với gió với đồi,

Ngồi dưới nắng ấm, thấy đời tươi vui.

https://photos.google.com/share/AF1QipPvprMeSUPwXj33a7fkOABntIKCoyzgQM9yuwUzWdcMhfG1yoJT_80Jns4UEsTavAkey=STVsenVTa3EzU2h0bVFrbF91Y3NWbnQyWHlwRkdB

(Hoa anh đào Nhật Bản tại Centennial Park, Toronto , May 7, 2018)

Bài viết này đã viết xong năm 2013, nhưng ngay sau đó, người viết phải bận bịu với vụ đi xin đất để xây Tượng Đài Thuyền Nhân tại Mississauga, Canada cho nên quên chưa đưa lên blog.

 

Nay xin trình làng “trễ còn hơn không”, xin Quý Vị thông cảm:

 

Cả hai tháng nay (tháng 5 và 6, 2013), vùng đại đô thị Toronto đang đi vào mùa Xuân. Tạm giã từ cái giá lạnh của mùa đông khắc nghiệt, ai nấy đều chỉ muốn đi ra ngoài trời để hưởng ánh nắng xuân ám áp và để hưởng khí trời trong sạch. Sau nhiều năm sống nơi “đất lạnh tình nồng”, người viết mới hiểu ý nghĩa của danh từ “spring fever” của dân Bắc Mỹ.

Trong những năm còn đi dậy, bắt đầu từ giữa tháng Tư, mỗi lần trời nắng to, thật khó khăn cho nhà giáo chúng tôi có thể giảng bài trong lớp được vì sinh viên chỉ muốn ra khỏi lớp, đi ra ngoài bãi cỏ thấy “frisbee” hay tán gẫu mà thôi. Một số giáo sư dậy các môn nhiệm ý cũng rất “chịu chơi”: mang học trò ra ngồi dưới bóng cây để giảng bài thao thao bất tuyệt. Giáo Già nhà tôi cảm thấy như đang lên cơn “sốt mùa xuân” (spring fever) vậy: còn quá nhiều bài vở cho học trò, mà giảng dậy ngoài trời thì không được vì chúng tôi cần phải có phấn-trắng-bảng- đen để vẽ hình thì học trò mới hiểu được bài giảng. Khi hết giờ giảng dậy, cả thầy lẫn trò đều bỏ ra ngoài trời hết.

 

Trong vòng 3 năm vừa qua, bắt đầu từ ngày 20 tháng 4, bạn bè chúng tôi thường hay theo dõi tin tức trong Internet để biết tình hình nụ hoa anh đào (sakura) trong công viên “High Park” của thành phố Toronto đã sắp ra hoa chưa. Tuy nhiên, khi nào trời nắng xuân ấm áp, một mình tôi tự lái xe thẳng lên High Park để “thăm hoa cho biết sự tình” và hưởng cái thú đi bộ trong công viên và bờ hồ. Mỗi lần đi như vậy, trong thùng xe tôi thường luôn để máy hình và 1, 2 cái bánh khúc do Nội Tướng “trao tay”. Tuy chưa có hoa nhưng vẫn chụp hình để có tài liệu về diễn biến của nụ hoa anh đào.

Hôm mùng 1 tháng 5 năm nay (2013), trời nắng ấm chi lạ, 3 dân về hưu chúng tôi bèn “bỏ nhà ra park ở”. Lúc này hoa anh đào đã bắt đầu nở ít nhiều và tôi tạm “chia tay” với cặp vợ chồng bạn vì người săn hình đang đi lạc vào chốn “đào nguyên”. Đến 5 giờ chiều, một số bạn “son trẻ” (còn đang đi làm ấy mà!) nhập bọn với chúng tôi. Lúc đó, người săn hình đã bắt đầu cảm thấy đau lưng, mỏi chân vì cái vụ “cúi, mống, còm lưng” vì săn hình rồi. Thế là người già ngồi tán gẫu trong khi các vị “trẻ tuổi” bắt đầu đi chụp hình. Gần 8 giờ tối, cả bọn chúng tôi kéo nhau đi ăn phở gần đó. Trời đất quỷ thần ơi, cả bọn ra về mà lòng dạ còn đang nở hoa (hoa anh đào Nhật Bản sakura ấy mà, chứ không phải “hoa phở” Việt Nam đâu).

 

Ngày nọ qua ngày kia, tôi tiếp tục cái thú đi bộ, đi chụp hình ở những nơi khác trong khi Nội Tướng còn mải đi du lịch Âu Châu. Tôi đã “báo cáo với thượng cấp” rằng : “Từ tháng 4 đến cuối tháng 6, xin Bà để cho Ông ở nhà giữ mãi mùa xuân Cà Ná với hoa nở, nhất là Hoa Anh Đào!”

 

Ban đêm còn bận đưa các hình và “video clips” vào máy điện toán để học hỏi từ những lỗi lầm khi chụp hình và quay video clips. Và cũng để xem những nơi nào, những loại hoa nào mà mình quên chưa “túm” được. Đại loại đã thu hình được: Hoa Anh Đào Nhật Bản (Sakura), Hoa Anh Đào Bắc Mỹ (Cherry Blossom), Hoa Cỏ Dại (Dandelion) nở vàng chói trong các thảm cỏ (vì chính quyền địa phương đã không cho dân chúng xit thuốc giết cỏ dại), Magnolia, Hoa Mai Bắc Mỹ (Forsythia), nụ và hoa cây Maple (cây Phong), Peony (Cẩm Chuớng), Tulip, Daffodil, Hoa Dại ….

 

Khi nào trời mưa hay ban đêm, người viết ngồi “edit” hình ảnh, video clips và phân loại chúng thành từng loại để tiện việc tìm kiếm chúng cho dễ mỗi khi ngồi xuống làm video trong tương lai.

 

Rất may mắn cho Giáo Già nhà tôi: một chàng bạn trẻ (đang cặp kê 6 bó) đã mua dùm cho tôi chiếc máy hình Panasonic-Lumix-LX7 rẻ được gần 60%. Đặc điểm của chiếc máy hình này (không phải SLR mà là “Point and shoot”): có thể bỏ túi được, với ống kính f1.4 của Leica. Tôi rung đùi, cười khà khà vì chiếc máy hình này rẻ mạt mà nó còn là một cái máy hình “ban đêm không mắt sáng hơn đèn” nữa. Tôi đã từng thất vọng với những máy hình (camera) khác vì trong lúc quay phim của những dạ tiệc, hình ra tối mò (trừ chiếc Panasonic Camcorder HDC-HS250). Từ lúc “mang nàng LX7 về dinh”, Giáo Già đã tự tạo ra những cảnh thật tối để quay “video clips”, thí dụ như: chui vào trong 1 cái tủ chứa quần áo (closet), để hé chút cửa cho có chút ánh sáng và quay video. Hình ảnh trong tủ cũng không đến nỗi tối mò. Từ ngày có thêm “cô nàng LX7”, Giáo Già nhà tôi lại đâm ra “có thêm một đứa con mọn nữa!”

 

Thế rồi, anh chàng “bạn trẻ tuổi 6 bó” còn cho tôi mượn một thứ đồ chơi mới nữa: máy hình “Fujifilm Finepix 3D” để chụp ảnh và quay Video hình nổi 3 chiều.

 

Tôi đành tạm gác việc viết lách sang một bên và mải mê chụp hình 3D, 2D (Three Dimentional, Two Dimensional) và quay video 3D, 2D bằng chiếc máy hình này. Điểm son của Finepix 3D : có 2 ống kính và khi xem hình ảnh và video clíp, chúng hiện nguyên hình nổi trong không gian 3 chiều. Đầu thập niên 90, sau khi đã trồng lan được hơn 5 năm, tôi đọc được một bài viết của Hội Lan Hoa Kỳ, thấy tác giả viết bài “Làm sao nhìn hoa lan nổi trong không gian 3 chiều” tôi đã ưng ý ngay. Sau khi đã đọc đi đọc lại bài viết, tôi đã thử chụp và xem hình hoa ra sao. Thấy hình hoa nổi bật, rất đẹp và thầm nghĩ: “Ôi chao, giá mà các số báo Playboy có hình “hoa nữ” như vậy, chắc rằng các độc giả đàn ông sẽ lác mắt hết!”

 

Kỹ thuật như sau: để một hoa lan trên bàn, làm một thanh gỗ, vạch một đường bút chì trên thanh gỗ và cắm 2 con vít trên thanh gỗ đó (khoảng cách giữa 2 con vít được tính sẵn dựa theo công thức trong bài viết).

 

Trước khi chụp hình, hoa lan được đặt ở vị trí của cái đỉnh của cái tam giác (hoa lan và 2 con vít). Khoảng cách gữa hoa lan và thanh gỗ, tuỳ theo mình muốn hình hoa to nhỏ ra sao.

 

Chụp hình như sau: để máy hình ngay chỗ đinh vít bên trái, “focus” cho thật rõ rồi chụp. Sau đó mang máy hình sang chỗ đinh vít bên phải rồi chụp (không cần “focus“ nữa). In ra 2 tấm hình này rồi ngồi xem chúng dưới 1 cái máy stereoscope (mà dân Công chánh, Địa chánh dùng trong Ngành Không Ảnh). Sẽ thấy hoa lan nổi bật trong không gian 3 chiều. Xem đã cái con mắt luôn.

 

Trước khi viết những dòng chữ này, tôi đã dùng Finepix 3D để chụp hình, quay video trong không gian 2 chiều và không gian 3 chiều, tiếc rằng không thể cho quý vị xem hình được, quý vị chỉ có thể xem 3D youtube với điều kiện quý vị phải có màn hình 3D.

 

Nói về 3D TV, tôi nhớ lại cách đây gần một tháng, “ông cố vấn Hai Tech” của tôi đã mời vợ chồng chúng tôi đến nhà “để anh chị xem video hình nổi 3 chiều”. Sau khi đã bật TV, bỏ 3D video vào lỗ cắm USB và mỗi người chúng tôi đeo cặp kính 3D (bây giờ phần “HiTech” hiện đại hơn mấy năm trước khá nhiều; không còn có bên mắt xanh, bên mắt đỏ như ngày xưa nữa. Cả hai mắt đều giống nhau và có mầu xanh đen như cái kính mát vậy. Phải ấn nút “On, Off” của kính mới thấy được phần hình nổi. Nhãn quan của “khán giả”có cảm giác như thấy một phần hình lồi ra khỏi màn hình của TV/ Monitor, đồng thời có phần hình thụt vào tít đằng sau của màn hình. Đôi lúc, trong vô thức, đầu tôi tự dưng né vội sang một bên vì lúc đó chiếc xe đua trên màn hình đang sắp sửa đâm vào người tôi.

 

Ngồi xem video 3 chiều làm tôi nhớ lại môn học “Không Ảnh“ (Air photogrammetry) mà chúng tôi đã học trong năm thứ 3 ngành công chánh tại Đại Học New South Wales, Úc Đại Lợi trong thập niên 1960. Qua cái stereoscope (mà tôi đã nói tới), chúng tôi đã nhìn thấy các xa lộ nổi bật trong nhãn quan và chúng tôi còn có thể làm nhiều con toán liên quan đến phần xây cất xa lộ.

 

Nội Tướng than “chóng mày chóng mặt, mỏi hai con mắt”. Riêng tôi, vẫn cứ dán hai con mắt ngồi xem cuốn video nổi 3 chiều “Avatar”

 

“Ông cố vấn Hai Tech“ đang cần “đồng minh cho chiến dịch Hai Tech” bèn cho tôi một cái “link” trên Internet để tôi có thể biết thêm chi tiết về cái TV/Monitor -3TTV, 27 ins của Samsung mà tôi đang muốn mua để thay cho cái “monitor-không-còn-hiện-đại”  nữa. Ngay buổi sáng hôm sau, “người hùng” (chưa đến nỗi khùng), bèn ghé thăm “ông Google trong xóm Google.com“) để tìm đường đi “xem mặt” nàng TV Samsung này. “Người (k)hùng thấy khá ưng ý, mà ưng ý nhất về phần giá cả vì cái Monitor 3DTV-HDTV này đang được bán đại hạ giá tại Canada Computer gần nhà tại hạ. Bèn lái xe tới hiệu để xem tình hình ra sao. May mắn thay, hiệu chỉ còn một cái cuối cùng, bèn chụp liền, đâu có sợ gì, vì mình có thể trả lại trong vòng 2 tuần cơ mà. Cả đêm hôm đó, tò mò, táy máy hoài mà sao máy nó không chạy; “người hùng muốn …khùng luôn!”

Bèn thở dài:

-Thôi chết rồi. Của giả là của ôi, của đầy nồi là của … Made in China!

 

Sáng sớm hôm sau, bèn vác nàng Samsung lại Canada Computer và nhờ dân “Customer Service” thử xem tại sao máy bị trục trặc. Anh chàng này cũng gặp khó khăn. Gần nửa tiếng sau mới tìm ra manh mối và chỉ cho tôi xem một video 3D ngay trên máy đó. Về đến nhà, sau khi lắp máy xong, tôi rung đùi ngồi xem video 3 chiều, nghe nhạc stereo, bèn nở một nụ cười khoan khoái và long trọng mời Nội Tướng ra xem. Sau khi thấy Nội tướng hoan hỉ, bèn tiếp tục ca ngợi cái màn hình mới: nào là nó vừa màn hình PC, vừa là TV 3 chiều (3D) vừa là Smart TV (để cho 2 cháu ngoại vào coi Youtube trực tiếp các video về Donal Duck, Tom and Jerry, vừa là để bà ngoại coi phim bộ tình cảm ướt át với hình ảnh High Definition của Đại Hàn…  Chưa bao giờ thấy mình ăn nói lưu loát như vậy với Nội Tướng. Thưa quý vị đó là pần….”Public Relations” mà tôi đã tự học (self taught) từ lâu rồi, mỗi lần không muốn “Xếp Bề Trên” mè nheo về sau.

 

Thế là người viết lại có một thú mới, đó là thú chụp hình 3D, làm video 3D và ngồi xem video 3D qua cái màn hình Samsung 3D mới ra lò. Ước gì Giáo Già Zìa Hiu có được 30 giờ trong một ngày!

 

Lưng đã mỏi, mắt bắt đầu thấy mờ (vì chưa đi mổ cataract), đường đạp xe về nhà còn xa. Xin hẹn quý vị trong bài tới vẫn trong chủ đề Mùa Xuân sang Hạ với phần “Hai Tếch” mà Giáo Già đang vừa chơi, vừa vật lộn với nó.

 

Đàm Trung Phán

Đầu tháng Bẩy, 2013

Missisauga, Canada

 

 

QUỐC HẬN 2018 TẠI TỈNH BANG ONTARIO, CANADA

BỨC TÂM THƯ CỦA HỘI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN – GÂY QUỸ XÂY DỰNG TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN TẠI MISSISSAUGA, CANADA

Qua hai lần gây quỹ vào ngày July 15, 2017 và Nov.18, 2017, Hội Tưởng Niệm Thuyền Nhân đã gây quỹ và bán bảng khắc tên (plaques) được 160,000 Gia kim, tính cho đến ngày Dec. 31, 2017. HTNTN cần tiếp tục gây quỹ và bán plaques cho đến February, 2019 cho được 400,000 Gia Kim cả thẩy (giá dự trù để trang trải cho việc xây cất và phần landscaping cho TĐTN) để được phép khởi công phần xây cất  vào Mùa Xuân năm 2019 và dự trù xây xong trong năm 2020.

Để biết thêm các diễn biến của HTHTN từ Tháng 7, 2017 đến Tháng 4, 2018, nhất là các sinh hoạt Gây Quỹ, xin mời quý vị bấm vào 3  links dưới đây:

 

http://www.boatpeoplememorial.com/mississauga/gay-quy-dot-3-cua-hoi-tuong-niem-thuyen-nhan-buc-tam-thu/

( Bức Tâm Thư của HTNTN)

http://www.boatpeoplememorial.com/mississauga/activities/

(Đêm Gây Quỹ Đợt 1, July 15, 2017)

http://www.boatpeoplememorial.com/mississauga/hat-cho-thuyen-nhan-tong-ket-chi-thu-cho-dem-gay-quy-ngay-18-thang-11-2017/

( Đêm Gây Quỹ 2, Nov.18, 2017)

HTNTN rất mong mỏi nhận được sự ủng hộ tinh thần, góp công, góp tài chánh của Quý Vị để CĐVN hải ngoại chúng ta có thêm một Tượng Đài Thuyền Nhân khang trang trong một công viên vừa đẹp, vừa thuận tiện gần trung tâm của thành phố Mississauga, Ontario, Canada.

 

Kính chào,

Đàm Trung Phán

 

 

KHÁNH THÀNH TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI LITTLE SAIGON, VANCOUVER, CANADA , OCTOBER 2017

NỖI U SẦU CỦA CHÀNG TRAI WERTHER – DIE LEIDEN DES JUNGEN WERTHERS-

ĐÀM TRUNG PHÁP                                                                                                                                       

Johann Wolfgang von Goethe (1749 -1832) là vị văn sĩ, thi sĩ, kịch tác gia, triết gia, khoa học gia lừng lẫy nhất của Đức Quốc. Trong vô số những tác phẩm quan trọng của Goethe, vở bi kịch tràng giang mang tên Faust được coi là vĩ đại nhất. Trong đó vai chính Faust là một tay đại bịp thành công to nhưng chưa thỏa mãn với đời, cho nên hắn đã bán linh hồn cho quỷ để có được kiến thức lớn lao và tận hưởng thú vui vật chất. Nhưng lạ thay, khi nói đến văn thi hào Goethe thì nhiều người dân Đức nghĩ ngay tới cuốn tiểu thuyết đầu tay do ông sáng tác khi còn là một thanh niên, mang tên Die Leiden des jungen Werthers (Nỗi u sầu của chàng trai Werther), dựa vào tâm tư thực sự của tác giả và trình bầy theo lối “biên thư” riêng tư và lôi cuốn. Tiểu thuyết theo lối viết độc đáo này được mệnh danh là “Briefroman” (Đức), “epistolary” (Anh), và thư tín tiểu thuyết 書信小說” (tạm dịch sang Hán-Việt).

Die Leiden des jungen Werthers là một thư tín tiểu thuyết tâm lý và tình cảm về một “cuộc tình tay ba” bi thảm giữa ba nhân vật Werther, Albert, Lotte – với  Werther đóng vai chính. Ba người ba tính tình hoàn  toàn khác biệt. Werther thông minh nhưng kiêu căng, nghệ sĩ tính nhưng ít hứng thú, lại đa sầu đa cảm và không hài lòng với cuộc đời. Tinh thần Werther thay đổi giữa trạng thái vui tươi quá mức và trạng thái u sầu đến tận cùng. Anh ở trong một thế giới quay cuồng sau khi gặp và mê cô Lotte ngay lần đầu. Duyên dáng, đảm đang và tử tế, Lotte đã đính hôn với Albert lớn hơn nàng cả chục tuổi. Cô có nhiều cảm tình với Werther, nhưng cô biết “điều chỉnh” xúc cảm và chỉ coi anh như một người bạn thôi. Còn Albert, vị hôn phu của Lotte, là một người đàn ông bình tĩnh, thân thiện, và có trách nhiệm – hoàn toàn trái ngược với Werther. Mới đầu Werther và Albert khá thân thiện với nhau, mãi cho đến khi sự mê say và chú ý đến Lotte của Werther đã đi tới mức quá lố như điên loạn. Mối tình say đắm “một chiều” này cuối cùng đã dẫn tới thảm kịch Werther tự tử bằng khẩu súng mà anh mượn của Albert, nói dối là để đi săn bắn giải sầu.

Ta thử đọc đôi lời than thân khóc phận mà Werther* diễn tả trong những lá thư gửi cho người bạn Wilhelm thân nhất của anh:

“Đôi khi tôi không hiểu tại sao là một người nam có thể yêu nàng hoặc được phép yêu nàng, bởi vì tôi yêu nàng trọn vẹn rồi, yêu đến nỗi tôi chẳng còn ham gì, chẳng còn biết gì, tôi chẳng có gì cả, tôi chỉ có nàng thôi!”

“Cả hàng trăm lần rồi tôi gần như sắp được ôm nàng. Trời ơi, thực là một sự hành hạ đau đớn mỗi khi thấy nàng đi qua đi tới với bao duyên dáng mà mình không dám chạm tay đến! Chạm vào nhau là cái bản năng tự nhiên nhất của loài người mà. Trẻ nít luôn đòi có trong tay mọi vật chúng nhìn thấy và thích thú, phải không? Nhưng còn tôi, thì ….”

“Trời biết đấy, tôi đã bao lần nằm trên giường với lời ước rằng tôi sẽ không thức dậy. Và trong buổi sáng, khi tôi ngắm mặt trời thêm một lần nữa, lòng tôi càng tan nát thêm!”

Ngay sau khi xuất bản năm 1774, Die Leiden des jungen Werthers đã làm rung động Âu châu và đưa Goethe lên đỉnh cao danh vọng lúc mới 24 tuổi đời. Tuyệt tác ấy là một “bestseller” tại Đức, Anh, và Pháp quốc và đã được dịch sang ngôn ngữ của hầu hết các quốc gia kế cận. Tên tuổi lớn nhất đã công khai ca ngợi cuốn sách và tác giả chính là Napoléon Bonaparte, vị hoàng đế yêu văn chương, đã đọc nó nhiều lần, ngay cả trong lúc tuần du. Nó cũng là khởi điểm cho trào lưu Sturm und Drang” (cuồng phong và thúc hối), trong đó trên hết là yếu tố  Selbstausdruck (tự ngã biểu hiện). Văn thi sĩ thả cửa thốt ra trong văn chương những cảm xúc thầm kín nhất cũng như những thành quả vinh quang nhất của mình một cách ngay thẳng và chân thành. Chủ quan tính cũng được tán thành trong giai đoạn “cuồng phong và thúc hối” này. Cái trào lưu nhấn mạnh và nâng cao những xúc cảm riêng tư này cũng chính là tiền thân của trào lưu Romantik (lãng mạn) bên Âu châu.

Goethe xa lánh và nhạt nhẽo với thành công văn chương vĩ đại này của mình khi thấy nó đã gây ra Wertherfieber (cơn sốt Werther), trong đó một số độc giả mang tâm sự đau thương tương tự đã theo gương Werther trong truyện để tự kết liễu đời mình – với cuốn sách ấy còn để trong túi! Cũng vì lẽ đó ông cũng không thiết tha gì lắm với trào lưu Sturm und Drang Romantik sau đó. Ông thất vọng vì thấy có người đã theo lối sống của Werther, một cá nhân mà ông cho thấy đã biểu hiện “tất cả những gì bệnh hoạn nhất” trong tâm trí loài người.

__________________

*Các bác sĩ tâm thần (psychiatrists) ngày nay, sau khi quan sát tâm trạng và hành vi của Werther, có lẽ sẽ kết luận chàng mắc chứng “rối loạn tâm thần lưỡng cực” (bipolar mental disorder). Tâm thần người bị chứng bệnh này luân phiên giữa “rối loạn hưng cảm” (mania disorder) và “rối loạn trầm cảm” (depression disorder), với mỗi giai đoạn rối loạn kéo dài khoảng vài tuần lễ. Trong giai đoạn hưng cảm, người bệnh thấy mình lên tinh thần, thêm nhiều nghị lực, và thích hành động sôi nổi quá mức bình thường (như lúc Werther tiếp tục mê say theo đuổi Lotte, mặc dù biết rõ nàng đã là vị hôn thê của Albert). Trái lại, giai đoạn trầm cảm chỉ mang đến cho người bệnh những u sầu, mệt mỏi, tuyệt vọng, và ý muốn rời bỏ cuộc đời (mạnh đến nỗi Albert đã tự tử).

[ĐTP2018]

CHÚC MỪNG NĂM MỚI -TẾT MẬU TUẤT TẠI VÙNG ĐẠI ĐÔ THỊ TORONTO – FEB.4, 2018

 

 

Năm mới, xin kính chúc Quý Vị an khang, thịnh vượng và khỏe mạnh.

Đàm Trung Phán

 

Và xin mời xem sinh hoạt mừng Xuân của Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại vùng Đại Đô Thị Toronto, Canada :

 

Bà Thủ Hiến Ontario (Premier of Ontario) Kathleen Wynne ghé thăm HCT

 

Hội chợ Tết của Cộng Đồng để mừng Xuân Mậu Tuất đã diễn ra tốt đẹp vào ngày Chúa nhật 4 tháng 2, 2018 vừa qua tại International Centre, Mississauga.

Các đại diện tôn giáo, hội đoàn, truyền thông, các quan khách ngoại quốc & quý đồng hương đã tham dự Hội chợ Tết rất đông, con số phỏng chừng khoảng 6000 người, trong đó có gần 200 em thiện nguyện viên, sinh viên trẻ đến giúp các công việc trong hội chợ.

Nhiều quan khách chính phủ đã tới hoặc gởi thư, video chúc mừng. Đặc biệt ông bộ trưởng Steven Del Duca, Ontario Minister of Economic Development and Growth, trong phần phát biểu tại Hội Chợ đã hứa là chính phủ Ontario sẽ tích cực làm việc với Làng Dưỡng Lão để có thể giúp xây dựng nhà dưỡng lão cho cộng đồng chúng ta‎ trong thời gian ngắn sắp đến.  Đây là một tin thật tích cực cho quý vị cao niên trong cộng đồng.

Bà Chris Fonseca, Mississauga Ward 3 Councillor cũng xác nhận là thành phố Mississauga rất hoan nghênh cộng đồng VIỆT NAM, đã chấp thuận và sẽ làm việc với Hội Tưởng Niệm Thuyền Nhân trong công tác xây dựng Tượng Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân trong khu vực Dixie & Bloor‎ để dự án mau thành hình.

https://www.youtube.com/watch?v=v6TdzyjEw5A

Trong chủ đề “Thương về Miền Trung”, Làng Việt Nam với Kỳ Đài Huế và nhiều cảnh sắc miền Trung đã làm sống lại những mùa Xuân thanh bình thuở ấy. Hội Phụ Nữ Toronto đã xây dựng mô hình chùa Thiên Mụ với cổng Tam quan rất công phu. Làng Dưỡng Lão với con trâu to rất giống thật, cầu khỉ, ghe chèo, ông đồ … Các xe xích lô, gánh hàng hoa, hình ảnh chợ Bến Thành đầy tình tự dân tộc. Khắp nơi đều có các bảng tên đường như Đại Lộ Huế, Đại Lộ Đà Nẵng … làm người dự có cảm giác mình đang đi trên những miền đất quê hương. Quán Cháo Cá Miền Tây với ban nhạc sống cũng là một trong những điểm đặc biệt trong Hội chợ.

Đội múa lân và cuộc diễn hành của 23 tôn giáo, hội đoàn trước nghi thức Chào Cờ rất sống động, bên phải sân khấu có hai cột cờ Canada và Việt Nam luôn tung bay rất đẹp mắt. Năm nay đặc biệt ca sĩ Đoàn Chính đã hát bài quốc ca Oh Canada bằng tiếng Anh và tiếng Việt cũng như bài quốc ca Việt Nam Cộng Hòa. Các em cầm hai lá Đại Kỳ, ca đoàn cao niên và toán Quốc Quân Kỳ đã làm phần khai mạc rất long trọng. Phần Tế Lễ Dâng Hương cổ truyền cũng diễn ra rất trang nghiêm ý nghĩa.

Năm nay ngoài các ca sĩ từ Mỹ hát nhiều bài, chương trình mới lạ có các dân tộc bạn như đội trống Nhật Bản, Lào, Tibet,  Nepal,  Tamil Sri Lanka / India… và nhiều tiết mục ca múa đặc sắc trong cộng đồng.

Tiết mục ca sĩ thiếu nhi, các Công chúa Hoàng Tử tí hon lên chúc Tết rất dễ thương, mầm non trong cộng đồng đang vươn lên.

Phần slideshow cảm ơn các nhà bảo trợ cũng như hình ảnh Xuân đã làm sân khấu thêm linh động.

Năm nay, ban tổ chức có mở rộng thêm khu Trò Chơi, mọi lứa tuổi đều có thể tham gia, vui chơi trong ngày xuân như Thả Thơ, rao Lô Tô, trò chơi Nhận diện Quê Hương, ném vòng, quay số, nhà bơm hơi cho các em chạy nhảy… Bên góc Karaoke cũng rất thu hút nhiều người yêu nhạc. Phần triển lãm tranh Anh Hùng Lịch Sử do nhóm Viettoon vẽ cũng rất đông người xem. Phòng Tiếp Tân các quan khách ngoại quốc và đại diện Tôn giáo, Hội đoàn với các món ăn ngày Tết đã rất khởi sắc.

Các gian hàng của các tôn giáo đã được rất đông bà con thăm viếng, chụp hình. Các bàn của Hội đoàn, nhóm Từ Thiện như Marching Band, 5 trường Đại Học, Hội Cao Niên, Ủy Ban Yểm trợ Dân Chủ, Hội Vận Động Dân Sự-Hỗ trợ Bầu cử, Việt Tân, Cựu Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, Hoa Tình Thương, Hội Việt Nhi Dị Tật… đã góp mặt để đồng bào tận mắt thấy sinh hoạt các Hội Đoàn. Phần ẩm thực với món ăn chay và mặn, các gian hàng Thương Mại, bông hoa…. cũng tham dự rất nhiều và thành công.

Hội Người Việt Toronto cũng cho ra mắt Giai Phẩm Xuân Bạn Việt 2018 gởi tặng đồng bào như món quà đầu năm.

Năm nay đại sảnh mới (Hall #5) dù diện tích nhỏ hơn nhưng không có cột chắn, ấm cúng và đỡ tốn tiền thuê mướn hơn. Các đài truyền hình, truyền thông Canada cũng đã tới quay phim, thông tin.

Đây được xem như Hội Chợ Tết “Indoor” lớn nhất Bắc Mỹ, là cơ hội để mọi người có thể gặp gỡ bạn bè, vui Xuân đầu năm, nói lên sức mạnh của cộng đồng.

Kính mời Quý Vị vào xem phần hình ảnh và Youtubes dưới đây:

http://thuduc-ontario.ca/Folder/hct-mautuat/index.html

Hội Chợ Tết Cộng Đồng do Hội Người Việt cùng các Hội Đoàn tại Toronto và vùng phụ cận tổ chức ngày 04/02/2018 –Đặng Hoàng Sơn  — VIETNAMESE CANADIAN COMMUNITY IN THE GTA CELEBRATING TET LUNAR NEW YEAR , FEB. 4, 2018

***

https://www.youtube.com/watch?v=o2RAPBbpTmU&feature=youtu.be

Hình do Duy Hân, Báu Chính, Đặng Hoàng Sơn, Kính Thủy… chụp (có 2 trang, sau trang 1 bấm trang 2):

https://www.flickr.com/photos/116262857@N03/albums/72157691508311161

***

Tin ngắn do đài TV Canada chiếu, bà Premier tỉnh bang Ontario đã mặc áo dài:

Tet Toronto 2018 – CTV News.

***

 

Phim video ngắn do Thời Báo TV thực hiện:

https://www.youtube.com/watch?v=3cn9SHa-W30

***

Video do An Nhiên TV thực hiện:

https://www.youtube.com/watch?v=1BtgVHceLP8

***

Phim video dài & hình do Roger Trung thực hiện:

http://rogertruong.ca/hoichotetcongdongtoronto2018/

***

Thủ Tướng Nước Canada chúc Tết đồng bào Việt:

https://www.youtube.com/watch?v=0FtmHGDZs8I&feature=youtu.be

***

Xin bấm vào link dưới đây để có các link khác: Video VBSC thực hiện, hình ảnh & Video của Đặng Hoàng Sơn, hình ảnh của Đỗ Nghĩa, Trần Thái Lực,

Đàm Trung Phán …..

Bổ túc hình & videos Hội Chợ Tết Cộng Đồng ngày 04/02/2018

 

VẦNG TRĂNG VẰNG VẶC, AN NHIÊN, LẠNH BUỒN

Một đêm đầu tháng 12 năm 2017 khi hai vợ chồng chúng tôi đang ngồi ăn,  nhìn qua balcony về hướng đông,  tôi nhìn thấy ngay vầng trăng 16 to và tròn trong bầu trời rất lạnh với nhiều mây trắng, mây đen bay qua.

Những năm tháng về trước,  tôi cũng đã  từng thấy vầng trăng như vậy nhưng vào mùa hè,  mùa xuân và tôi đã định bụng lấy máy hình ra chụp và quay phim rồi lại bị bận cái nọ cái kia để rồi quên khuấy đi mất.

Kỳ nay,  đang cần ngắm trăng trăng tròn giữa tháng 12 nhất là vào mùa đông dưới bầu trời trong xanh lạnh buồn.  Đúng như cái bối cảnh trong nội tâm của tôi.  Bèn xin phép bà vợ cho ngừng ăn để tôi mang máy hình và cái monopod ra balcony chụp hình, không quên mặc quần áo cho thật ấm.

Vầng trăng ở một vị trí không quá cao, cũng không quá thấp mà lại không bị các nhà cao ốc che mất. Miên man vừa quay phim lại vừa chụp hình cùng một lúc.  Trong khi con mắt nhìn mặt trăng,  tôi thả hồn theo dõi vầng trăng với những đám mây trắng, mây đen đang trôi qua nhiều khi che lấp mất cả mặt trăng.  Tôi liên tưởng đến anh đang đi du lịch nhưng sẽ không bao giờ trở lại. Anh mới ra đi hai hôm trước.  Vợ chồng chúng tôi đã gặp anh và chị qua tình gia đình quen biết,  qua những câu chuyện tâm linh gọi hồn.  Anh luôn luôn vui vẻ và tôi yêu thích nhất cái tính khôi hài của anh.  Anh vừa là một người bạn vong niên anh lại vừa thân thương với tôi như một người anh ruột rất đặc biệt của tôi vậy.

Nhìn mây trắng, mây đen đang bay và che khuất Mặt Trăng,  tôi gửi hồn và chúc anh đang đi du lịch nhưng anh sẽ không bao giờ trở về lại Cõi Trần. Chụp hình cho đến khi mấy ngón tay lạnh cóng, tôi vào ăn tiếp.

Tối hôm đó, bèn kiếm vài bản nhạc liên quan đến Ánh Trăng nhất là để tiễn biệt anh vừa thoát khỏi cõi đời trần tục để trở về với Cõi Thiên Thu An Bình.  Có sinh và có tử.

Xin mời quý vị vào xem YouTube dưới đây:

https://www.youtube.com/watch?v=QbZrd2ftfrw

 

Thân chúc Quý Vị bình an, khỏe mạnh

 

Đàm Trung Phán.

Jan.9, 2018

CHÚC MỪNG GIÁNG SINH 2017 & NĂM MỚI 2018 – GÌN VÀNG GIỮ NGỌC CHO TIẾNG VIỆT TRUYỀN THỐNG TẠI HẢI NGOẠI

 

 

 

Thân chúc Quý Vị và thân quyến một Giáng Sinh đầm ấm và một Năm Mới an vui, khỏe mạnh .

 

Xin mời đọc:

 

GÌN VÀNG GIỮ NGỌC

 

 

DIỄN-VĂN CHỦ-ĐỀ CỦA GIÁO-SƯ ĐÀM TRUNG PHÁP  TRONG LỄ KHAI-GIẢNG  KHÓA HUẤN-LUYỆN VÀ TU-NGHIỆP SƯ-PHẠM CÁC TRUNG-TÂM VIỆT-NGỮ NAM CALIFORNIA NGÀY 28-7-2017 TẠI LITTLE SAIGON.

 

Đau lòng phải giã biệt miền Nam khi cộng quân miền Bắc xâm chiếm cuối tháng 4 năm 1975, chúng ta mang theo được gì? Của cải, danh vọng, bà con thân thuộc, bạn bè thì không, nhưng chúng ta mang theo được văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam truyền thống ra hải ngoại với chúng ta. Sau hơn 40 năm tỵ nạn tại hải ngoại, chúng ta vẫn duy trì được văn hóa và ngôn ngữ đáng trân quý ấy. Các truyền thống văn hóa Việt thể hiện qua các lễ lạc như Tết Nguyên Đán, Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương, Giỗ Hai Bà Trưng, Tết Trung Thu; các tập tục như quan, hôn, tang, tế, tinh thần tôn sư trọng đạo vẫn được thiết tha duy trì trong các cộng đồng Việt hải ngoại. Và tiếng Việt truyền thống – nơi  lưu giữ cái linh hồn, cái tinh hoa, cái bản sắc, cái tình tự dân tộc thắm thiết của chúng ta – vẫn còn nguyên vẹn.

 

 

Tiếng Việt chúng ta mang theo là thứ tiếng Việt đẹp đẽ, thanh lịch, trong sáng. Đó là thứ tiếng Việt của Truyện Kiều mà học giả Phạm Quỳnh hãnh diện gọi là tiếng ta. Đó cũng là thứ tiếng Việt của Tự Lực Văn Đoàn, của Vũ Hoàng Chương, của Đinh Hùng, của các hệ thống giáo dục, văn học, báo chí, chính trị, kinh tế thời Việt Nam Cộng Hòa trước 1975.

Điều rất đáng lo ngại là ngày nay, trong khi tiếng Việt truyền thống được chúng ta gìn vàng giữ ngọc với niềm tự hào ở hải ngoại, thì ở quê nhà nó đang bị thái hóa trầm trọng để phù hợp với lối sống vô liêm xỉ, thiếu đạo đức, mất hết tự ái dân tộc, gây ra bởi một chế độ phi nhân tàn bạo lấy súng đạn mà áp bức người dân bất hạnh.

Những đồng nghiệp tại trường Đại-Học Sư-Phạm Saigon của tôi bị kẹt lại sau 30-4-1975 kể lại chuyện đau lòng đầu tiên của họ khi “bên thắng cuộc” cho một “cán bộ giáo dục” và đoàn tùy tùng đến “tiếp quản” ngôi trường khả kính đã đào tạo nhiều ngàn giáo sư trung học đầy đủ khả năng và tư cách để phục vụ nền giáo dục nhân bản và khai phóng của Việt Nam Cộng Hòa. Lối xưng hô thô lỗ và cách đối xử kiêu căng hằn học của họ làm các cựu nhân viên giảng huấn (từ giảng viên cho đến giáo sư thực thụ) choáng váng. Tất cả bị gọi bằng “anh” hay “chị” và tất cả bị gọi là “giáo viên”. Vị giáo sư khoa trưởng bị đẩy ra khỏi văn phòng làm việc; câu châm ngôn Lương Sư Hưng Quốc sơn bằng chữ lớn trên bức tường gần cổng trường bị một lớp sơn mới quệt lên trên xóa hết tung tích.

Sau hơn 40 năm thái hóa, tiếng Việt bên quê nhà đã có thêm rất nhiều từ vựng mà chúng ta thấy thật “chướng tai” khi nghe nói và “gai mắt” khi thấy trong sách vở báo chí – với ý nghĩa chẳng trong sáng chút nào như được tuyên truyền. Từ vựng truyền thống đứng đắn chân phương bị thay thế bằng một thứ từ vựng ngô nghê, thô tục, cọc cằn, như  nhà hộ sinh trở thành “xưởng đẻ”; nữ quân nhân trở  thành “lính gái”; lạp xưởng trở thành “con sâu mỡ”.

Một số người thiện chí trong cộng đồng tỵ nạn chúng ta (như hai ông Đào Văn Bình và Trần Văn Giang) đã thu thập được khá nhiều từ vựng quái dị này và cảnh báo đồng hương hải ngoại.   Tác giả Đào Văn Bình đã cho lên Internet cuốn Tự Điển Tiếng Việt Đổi Đời rất hữu ích cho giáo giới chúng ta muốn bảo vệ tiếng Việt truyền thống tinh tuyền tại hải ngoại. Đó là những từ vựng, từ ngữ đã nhiễm độc mà chúng ta phải tránh, không thể truyền bá trong cộng đồng hải ngoại, nhất là trong các lớp dạy tiếng Việt truyền thống từ mẫu giáo cho đến trung học và đại học. Đây là vài từ vựng và câu nói “đổi đời” tiêu biểu tôi tìm thấy trong TĐTVĐĐ : “động vật hoang dã” (dã thú), “lao động nữ” (nữ công nhân), “động não” (suy nghĩ), “vô tư” (thản nhiên), “anh muốn khẩn trương quản lý đời em” (anh muốn cưới em ngay), và “lối chụp hình tự sướng” (cách chụp hình selfie).

Mức nhiễm độc của tiếng Việt đổi đời ngày càng đáng sợ – nó đã tràn sang cả đại tác phẩm Truyện Kiều của dân tộc Việt. Một báo động đỏ thực sự! Truyện Kiều mà học giả Phạm Quỳnh –trong ngày giỗ cụ Nguyễn Du linh đình năm 1924 tại Hà Nội – đã tôn vinh với câu nói trước anh linh tiền nhân rằng “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn” đang bị phỉ báng và bức hại tại quê nhà. Khai pháo bởi ông kỹ sư cơ khí Đỗ Minh Xuân khi ông ta phổ biến cuốn sách có một tựa đề ngạo nghễ  “Truyện Kiều Nguyễn Du với tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng và trong sáng” trong một cuộc hội thảo về Truyện Kiều tổ chức cuối năm 2012 tại khu di tích Nguyễn Du ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Trong “công trình” ấy, ông đã “sửa” khoảng 1.000 chỗ trong tổng số 3.524 câu thơ Truyện Kiều.

https://kimvankieu.wordpress.com/

     Tại sao ông kỹ sư cơ khí lại làm chuyện động trời như vậy? Đây là lý do tại sao ông quyết định sửa đại tác phẩm của thi hào Nguyễn Du: “Truyện Kiều không còn thịnh như trước, do rào cản điển tích, chữ Hán, từ cổ, từ địa phương – chữ nghĩa Truyện Kiều rườm rà, trùng lặp, không hay, thiếu logic, trái văn cảnh.” Một công việc quái đản xưa nay chưa thấy như vậy mà lại được “anh hùng lao động” Vũ Khiêu – một học giả từng làm viện trưởng Viện xã hội học – khuyến khích và tán dương, với lời nói quả quyết  rằng sách này “là một đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu Truyện Kiều”.

 

Còn nhớ xưa kia, vua Tự Đức rất giỏi văn thơ mà chỉ dám nhuận sắc vài chỗ không đáng kể trong Truyện Kiều rồi cho in nó thành “bản kinh” phổ biến trong dân gian.  Chúng ta cùng xem vài thí dụ về nỗ lực sửa Truyện Kiều  kỳ dị, lệch lạc, ngớ ngẩn, đoán mò, làm tối ý nghĩa của ông Đỗ Minh Xuân [dựa vào bài viết sắc bén có tựa đề “Cười té ghế hay đau thắt lòng với chữ sửa Truyện Kiều” (khuyết danh tác giả) đăng tải trên Đời Sống Pháp Luật Online ngày 28-4-2014]:

  • Lạ gì bỉ sắc tư phong = “Mỗi người thứ có thứ không” [lời văn cục súc, quê mùa].
  • Thời trân thức thức sẵn bày = “Quả ngon thức thức xách tay” [một hành động thanh nhã, cao sang, dịu dàng trở thành một hành vi thô lỗ – như thể cô Kiều hái trái cây nhà mình, bỏ vào giỏ, rồi xách tay sang đưa cho Kim Trọng ăn].
  • Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch tương = “Chưa xong điều nghĩ đã chào vừng dương” [chứng tỏ sự dốt nát, đoán mò, không hiểu mạch tương nghĩa là nước mắtđã dào mạch tương nghĩa là nước mắt đã dào dạt ra].

Theo cái kiểu “sửa chữa” Truyện Kiều như hiện nay ở quê nhà thì chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ không còn Truyện Kiều, dẫn đến chuyện không còn tiếng ta nữa, rồi bước kế tiếp là không còn nước ta nữa! Thi hào Nguyễn  Du và  học giả Phạm Quỳnh nơi cửu tuyền làm sao tránh khỏi  nỗi đoạn trường khi biết đến điều đau đớn này?

Bằng mọi giá, chúng ta phải biết rõ ranh giới giữa tiếng Việt truyền thống và tiếng Việt “đổi đời” tới mức thoái hóa bên quê nhà. Thứ tiếng Việt tồi tệ ấy không thể có chỗ đứng trong các lớp dạy tiếng Việt truyền thống tại hải ngoại ở mọi trình độ.

Đàm Trung Phán

Những bài viết .....

Shop Mỹ Phẩm - Nước Hoa

Số 7, Lê Văn Thịnh,Bình Trưng Đông,Quận 2,HCM,Việt Nam.

Công phu Trà Đạo

Trà Đạo là một nghệ thuật đòi hỏi ít nhiều công phu

tranlucsaigon

Trăm năm trong cõi người ta...

Nhạc Nhẽo

Âm thanh.... trong ... Tịch mịch !!!

~~~~ Thơ Thẩn ~~~~

.....Chỗ Vơ Vẩn

Nguyễn Đàm Duy Trung's Blog

Trang Thơ Nguyễn Đàm Duy Trung

%d bloggers like this: