Đàm Trung Phán

Những bài viết …..

CHƯƠNG MỘT: GIAI ĐOẠN XIN ĐẤT ĐỂ XÂY DỰNG TƯỢNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TẠI MISSISSAUGA

Sáng nay, một buổi sáng mùa xuân 2020 tại nơi chúng tôi cư ngụ đẹp vô cùng. Chẳng bù tháng Tư năm nay trời quá lạnh, mà lại có cái ẩm ướt ngoài trời làm cho cái thân già của người viết cảm thấy buốt tới xương , đôi cẳng già và cái lưng “phán cảnh”/cánh phản chỉ muốn… nằm nghỉ cho đỡ đau mà thôi.

Gặm cho xong 2 lát bánh mì được nuốt trôi bằng ly café “home made”, người viết mang cuốn vở cùng với một chai nước nhỏ, đi bộ ngay xuống vườn cỏ có những cây phong cao vút. Chiếm một chỗ ngồi trong khu “pinic area” của chúng cư. Trước mặt tôi là mấy cây phong với lá đỏ, lá xanh được mặt trời ban mai chiếu qua. Không có gió lạnh mà nhiệt độ còn lên đến 15 độ Celsius lận! Sao mà đời lại có những giây phút như thế này, tha hồ mà tôi ngồi xuống để mà viết…

Nhìn sân cỏ xanh tươi và “hoa dandelions” mầu vàng đang tô điểm cho làn cỏ xanh, đâu đây có tiếng chim robbin đang hót, tôi liên tưởng tối hôm hai vợ chồng già chúng tôi đáp phi cơ từ Toronto xuống phi trường Vancouver vào giữa một đêm tháng Sáu năm 2019. Đi dọc hành lang trong phi trường để gặp 2 người bạn đến từ Châu Âu lúc 12 giờ đêm. Trong cái háo hức để gặp bạn, bỗng đâu cái “lù mù, lờ mờ” ban đêm của hành lang phi trường Vancouver làm tôi cảm thấy ướt đôi má ông già 77 tuổi. Sao vậy hè? Bèn vuốt mặt: trời đất quỷ thần ơi, hóa ra ông già song thất đang rỏ lệ. Bỗng đâu cả một mảnh đời “xất bất xang bang” 50 năm về trước đang “dàn cảnh” chào đón tôi tại nơi “xứ lạnh… quê … tôi bây giờ”.

Phải, đúng rồi Vancouver đã là miền đất hứa “chào đón” chúng tôi lúc đó mới 26, 27 tuổi, đến lập nghiệp tại Canada, trong túi chẳng có được đủ tiền như ý mình mong muốn để sống sót cho tới khi kiếm được việc làm. Chẳng có lấy một người bạn, bà con quyến thuộc ra đón! Tất cả còn ở lại Việt Nam và Úc…

Phải bắt đầu lại ngay từ đầu. Mà bắt đầu như thế nào nhỉ, trong khi hai vợ chồng trẻ còn chưa biết … “đêm trăng này nghỉ mát nơi nao”?

Năm mươi năm trong cuộc đời đã mang lại cho tôi biết bao nhiêu là đổi thay. Bắt buộc phải phấn đấu, phải gây dựng lại hết. Bây giờ …“Thất thập cổ lai hy”… Tôi đã trở lại Vancouver trong an nhàn để đánh thức những phiền não lại để mà … “tôi ru tôi ngủ, việc thế là xong!”

Nghe tiếng chim hót, tôi chợt nhớ đến thập niên 1980, khi chính bản thân tôi bước vào tuổi 40 của cuộc đời với “bèo dạt, mây trôi!”

Đầu năm 1985, khi ngoài trời đang có một cơn bão tuyết, anh NV, trưởng nhóm của các anh chị em sinh viên Việt Nam trong Đại Học Cộng Đồng Centennial College đến văn phòng của tôi để nhờ tôi “book” (giữ chỗ) cho một phần trong phòng ăn của giáo sư và nhân viên tại Progress Campus (chi nhánh chính của College). Anh NV lúc đó cũng đã khoảng 40 tuổi đời và đã từng là một cựu sĩ quan của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Buổi họp mặt này là để cho các anh chị em sinh viên Việt Nam gặp mặt nhau và mừng xuân trong đời sống ly hương của chúng tôi.

Tôi hứa là tôi sẽ “book” phòng ăn. Không những vậy, tôi còn gọi điện thoại cho bà MK, Khoa trưởng của phân khoa Kỹ thuật (Dean, School of Engineering Technology) tới dự buổi tiệc này luôn. Bà MK hơn tôi vài tuổi và bà gia nhập College sau tôi hai năm, cùng trong ngành Công Chánh (Civil Engineering Technology) với chúng tôi. Vì tôi là “Giáo Út”, cho nên bà cứ tự ý coi bà như là một “bà chị” của Giáo Út vậy. Mọi người trong gia đình của bà đã may mắn trốn thoát nạn Cộng Sản tại Hungary vào năm 1956. Bà đã thừa biết Cộng Sản là như thế nào rồi cho nên bà rất hoan hỉ đến dự buổi họp mặt tất niên với các anh chị em sinh viên Việt Nam.

Không ngờ rằng buổi họp mặt này đã vô hình chung trở thành cái “Nhân” để rồi sau đó bà MK và Giáo Út PD đã có cái “duyên” cùng nhau hợp tác để thu nhận khoảng một ngàn sinh viên gốc Việt trong hai thập niên 1980 và 1990, trong đó có rất nhiều các sinh viên “gốc Thuyền Nhân”.

Bà  MK đã cùng gia đình trốn khỏi Budapest năm 1956 khi bà còn đang đi học ngành Kiến Trúc Sư. Sang đến Toronto, Canada, bà vào học ngành Công Chánh tại Đại học Toronto (U of T). Sau khi ra trường, bà làm việc cho một công ty xây cất trong chức vụ của một “Structural Engineer” (Kỹ Sư Công Chánh chuyên nghiệp, P.Eng.). Bà chỉ dậy trong department của chúng tôi trong 2 năm, sau đó chuyển sang ngành Kiến Trúc (Architechtural Department) dạy về các môn “Structures”. Bà thích làm việc về hành chánh (administration) hơn dạy học cho nên bà trở thành “Dean” (khoa trưởng).

Trong giữa thập niên 1980, phân khoa kỹ thuật của chúng tôi cũng đang cần có thêm nhiều sinh viên vì có thêm sinh viên thì mới được chính phủ liên bang Canada và chính phủ tiểu bang Ontario cho thêm ngân sách (funding).

Ngay ngày hôm sau, Khoa trưởng MK gọi tôi đến văn phòng của bà ta.

– Này anh PD: Anh và tôi đã có “job” rồi đó. Anh sẽ là người đại diện Centennial College đi nói chuyện với các “mature students” gốc Thuyền Nhân Việt Nam (mature students là những ai đã trên 21 tuổi nhưng không có bằng Trung Học tại tỉnh bang Ontario). Tôi thấy các anh chị sinh viên gốc Việt phần lớn đã “già”. Bây giờ anh và tôi sẽ hợp tác với nhau để thu nhận thêm nhiều các sinh viên đó trong Cộng Đồng Việt Nam của các “you”. Tôi đã tính như sau: Tôi là một “admin” (dân hành chánh vì bà là “Dean” cho nên không còn dạy học như Giáo Út). Tôi sẽ đi gặp các “Deans” khác trong các ngành nghề như Y tế (Y tá, nursing), ngành Thương Mại (Business), Giao Thông & Vận Tải (Transportation) , Truyền Thông (Communications)… Riêng về phân khoa Kỹ Thuật nhà mình, tôi sẽ tổ chức một buổi họp với tất cả các giáo sư trưởng phòng (Co-Ordinators / Department heads, các giáo sư full-time (permanent faculty) và nhân viên văn phòng để chúng ta cùng “brain storm” (lấy ý kiến chung) làm sao mà thâu nhận những sinh viên gốc Việt này. Tôi sẽ thu xếp với College nhà mình trả các chi phí đăng trên báo chí, in các tài liệu nhà trường… Anh (Giáo Út) sẽ là người đứng ra tổ chức những buổi nói chuyện với các sinh viên gốc Việt Nam, gốc Ba Lan, gốc Nga, gốc Ấn Độ… vào cuối tuần. Nếu cần, nhờ anh trả lời họ về 2 môn Toán và Anh Văn mà họ phải thi và phải “Pass” (đạt được điểm trung bình, tối thiểu là 50%).

Mà cũng lạ thay: bắt đầu từ năm 1984, Giáo Út PD nhà ta đã “bị” / “được” ngành Công Chánh chuyển sang “làng Toán” dạy một môn Toán trong cả 2 term (học kỳ) mùa Thu và mùa Đông. Chả là vì các môn “dễ nhằn”, “ ăn quen như cơm bữa” về Công Chánh đã bị các giáo sư thâm niên đàn anh dành hết.

Trong cái “rủi lại có cái may”, Giáo Út đã có dịp làm quen với tất cả các giáo sư thực thụ (permanent staff) của “làng Toán”, nhờ vậy mà đã xin được rất nhiều các “text books” (sách giáo khoa) cũ của họ. Mang về văn phòng chất đầy cả một góc tường. Thế là Giáo Út nhà ta đi “mộ binh” (recruit) các “mature students”: ai mà đến gặp tôi trong trường, tôi sẽ biếu cho họ một cuốn sách Toán để vừa ôn lại Toán, vừa học thêm phần “technical terms” (danh từ chuyên môn) về Toán. Đồng thời tôi sẽ cho họ biết thêm về phần “English Test”, cách thi cử ra sao…

Ngoài số sinh viên gốc Việt, còn có nhiều các sinh viên gốc Âu châu, Á Châu, Châu Mỹ La Tinh tới thăm Giáo Út nữa.

Tựu chung các sinh viên này đã chiếm được điểm thi Toán rất khá nhưng phần Anh văn thì không lấy gì “sáng sủa” cho lắm.

 Nhờ có sự tích cực giúp đỡ của phần lớn các giáo sư thực thụ không những của Phân khoa Kỹ Thuật mà các giáo sư Anh Văn của “School of English” cũng hết lòng giúp đỡ các sinh viên lớn tuổi này. Đại Học Cộng Đồng Centennial College đã mở thêm 2 môn Anh Văn nữa: English as a Second Language 1 (ESL1), English as a Second Language 2 (ESL 2) để giúp cho các sinh viên này (mature students) có căn bản về môn Anh Văn trước khi họ được ghi danh học môn English 1 (English Literature, Văn Chương Anh Ngữ) như các sinh viên Canadian khác.

Nhờ vậy mà số sinh viên không những của Phân khoa Kỹ Thuật càng ngày càng đông hơn mà số sinh viên gia nhập các Phân khoa khác cũng được tăng thêm. Và đó cũng là lý do mà toàn thể nhà trường đã không bị “thiếu funding” mà hậu quả sẽ rất là tai hại: một số các chương trình học nghề (academic programs) có thể bị đóng cửa để rồi đưa đến cái vụ “layoff” nhân viên, nhất là các giáo sư ít thâm niên nhất. Ngoài ra, cũng nhờ có ESL1 và ESL 2 mà các Trường Cao Đẳng đã đào tạo được khá nhiều các chuyên viên gốc người di dân và bản xứ luôn. Rất hữu hiệu cho sinh viên di dân tuổi đã cao (immigrant students và sinh viên bản xứ không có bằng Trung Học) tham dự 24 Đại Học Cộng Đồng của toàn tỉnh bang Ontario mà không phải học lại Trung Học ở tỉnh bang Ontario.

Trở về thập niên 1980, trong khi 60,000 người Việt Nam vượt biên, vượt biển đã được Canada đón nhận, lúc này nền kinh tế của Canada cũng không được “sáng giá” cho lắm. Hai mươi bốn Đại học Cộng Đồng (community Colleges) của toàn tỉnh bang Ontario bị thiếu hụt ngân sách. Mỗi một College phải tìm đủ mọi cách để cắt giảm phần chi tiêu: dạy ít giờ hơn trong mỗi một môn học (bằng cách giảm phần “course content” của từng môn học để số giờ giảng huấn được cắt giảm, giáo sư thực thụ (permanent professors) nào mà về hưu sớm hay bị học trò ca thán mà bị “layoff”, College sẽ không thuê giáo sư thay thế; College chỉ thuê các “Part – time professors” mà thôi (thuê theo từng học kỳ để nhà trường khỏi phải trả cho chính phủ phần “unemployment insurances” cho đỡ “hao” phần chi tiêu. Trong khi đó, các vị “admin staff” như “Dean”, SuperChair (phụ tá Khoa trưởng) phải “gánh vác” rất nhiều thứ khác và rất dễ bị nhà trường sa thải!

Có thể nói rằng các trường Cao Đẳng của tỉnh bang Ontario đã thay đổi rất nhiều trong những giai đoạn khác nhau: thập niên 1970 thừa thải tiền bạc, các vị Khoa trưởng (Dean), Chairs (phụ tá khoa trưởng), các giáo Sư toàn phần (Full time faculty), các nhân viên văn phòng đã được hưởng 10 năm lý tưởng trong ngành nghề. Giáo Út chúng tôi đã có được nhiều cơ hội để vừa học hỏi, vừa tiến thân và nhất là có cơ hội xung phong phục vụ Cộng Đồng Việt Nam cũng như Cộng Đồng Canada.

Sang đến thập niên 1980, đây là lúc mà Cộng Đồng Việt Nam mình “tăng dân số” nhiều nhất. Khoa trưởng MK, các giáo sư Trưởng Phòng và Giáo Út không những bận rộn với vụ “Restructuring/Downsizing/Recruiting” mà còn phải sáng tạo ra nhiều chương trình mới “hấp dẫn” hơn (new & practical programs) để những mong có thêm nhiều sinh viên năm thứ nhất (freshman) hơn. Gần cuối thập niên 1980, Khoa trưởng MK đã phải “đổi ngành”, một Khoa trưởng khác lên thay nhưng vẫn “nâng đỡ” Giáo Út trong phần “recruitment of mature students” như trong thời kỳ của bà MK.

Cũng bắt đầu từ năm 1985, Giáo Út đã được Centennial College mời gia nhập “Ủy Ban Tái Xét Ngành Công Chánh của Centennial College” thể theo lời đề nghị của Bộ Đại Học và Cao Đẳng (Ministry of Universities and Colleges) của tỉnh bang Ontario bổ nhiệm trong chức vụ “Advisory Board Members” (Ban Cố vấn về kỹ thuật). Nhờ vậy mà chúng tôi quen được với ông “Commissioner of Public Works of the City of Scarborough”  (Công chức cao cấp nhất của Hội Đồng Thành Phố Scarborough) và một số các nhân viên cao cấp trong ngành Công Chánh của Chính Phủ cũng như các hãng tư. Từ đó, Giáo Sư PD đã có dịp gặp gỡ và làm việc chung với vài nghị viên của TP Scarborough. Điểm son của trường Công Chánh của Centennial College: chúng tôi đã được Thành Phố Scarborough chấp nhận cho sinh viên ngành Công Chánh đi tập sự trong những “Co-op terms” (trong những học kỳ đó, sinh viên của chúng tôi chỉ đi tập sự mà thôi). May mắn thay: TP Scarborough cũng đã thuê thêm một số sinh viên ngành Công Chánh của chúng tôi sau khi họ đã ra trường.

Rồi “chuyện lớn” xẩy ra: Năm 1989, một năm sau khi thân phụ chúng tôi qua đời, trong lúc đầy “bão táp” xẩy ra, Giáo Út được Ban Giảng Huấn của College “cho lên chức” trở thành “Giáo Sư Trưởng Phòng”: vẫn phải dạy như các Giáo Sư khác tuy ít giờ hơn nhưng lại còn phải “đèo bòng” rất nhiều các trách nhiệm hành chánh khác nữa.

Khoa Trưởng mới và ông Phụ Tá Khoa Trưởng (“Super Chair”) mới đã trao cho Giáo Út một… “Mission Impossible”: “You” có trách nhiệm phải viết ra một chương trình học mới (new program) với hy vọng là chương trình này sẽ thu nhận được nhiều sinh viên năm Thứ Nhất thì phân khoa mới có thể tránh được việc sa thải giáo sư và nhân viên.

Thập niên 1970, Giáo Út có cơ hội trông coi mấy phòng thí nghiệm: mua dụng cụ, kiến tạo (design) các phòng thí nghiệm, dậy phần thực tập trong các phòng thí nghiệm, viết các văn kiện về dạy học cũng như sửa chữa phòng ốc…

Đây là thập niên “vào đời dậy học”.

Thập niên 1980, Giáo Út “lang thang” đi kiếm ăn tại “làng Toán”, gia nhập Ủy Ban Duyệt Xét Ngành Công Chánh, kèm theo nhiệm vụ “partnership” với thành phố Scarborough.

Cuối thập niên 1980, “nước thủy triều dâng cao”: “được lên chức bất đắc dĩ” và phải phối hợp 3 ngành:

– Công Chánh (Prof. Phan D, Civil Technology)

– Hóa Học (Prof. Graham S, Chemistry)

– Sinh Vật Học (Prof. Dan M, Biology and Law)

để viết ra văn kiện về “Environmental Protection Technology”, dưới sự yểm trợ mau mắn của “Super Chair” Peter H,  Admin. Bốn người chúng tôi phải làm việc dòng dã bắt đầu vào năm 1989 và hoàn tất năm 1991.

Giáo Già đã có nhiều kinh nghiệm đi dậy và đã đóng góp khá nhiều cho Centennial College, bây giờ trong đời về hưu, mình cần làm một cái gì cho Cộng Đông VIệt Nam nhà mình chứ, Giáo Già tự nhủ.

Với những kinh nghiệm khổ cực này, năm 2013, chúng tôi bèn nẩy ra ý định viết thư xin Thành Phố Mississauga cho phép Cộng Đồng Người Việt Tự Do xây Tượng Đài Thuyền Nhân trong một miếng đất tại Mississauga.

Chúng tôi đã biết trước sẽ có rất nhiều khó khăn nhưng với những kinh nghiệm hồi còn đi dậy, Giáo Út nay đã thành Giáo Già sẽ “lâm trận” một chuyến cuối cùng: cùng với Cộng Đồng thành lập “Hội Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam”, lập Hội Đồng Quản Trị, tổ chức các đợt quyên tiền, kiến tạo (design), xây cất (construction)…

Cộng Đồng Việt Nam chúng ta cũng đã đóng góp ít nhiều trong ngành Giáo dục cấp Trung Học, Cao Đẳng,  Đại Học tại Canada để đào tạo các chuyên viên sáng giá gốc Việt Nam trong nhiều ngành nghề khác nhau không những ở Canada mà còn ở các nước khác nữa. Cộng đồng Việt Nam chúng ta đã lớn mạnh và đây là lúc chúng ta tri ơn đất nước và người dân Canada và để nhắc nhở con cháu chúng ta trong tinh thần “uống nước nhớ nguồn” và “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”!

Đầu tháng 5 năm 2013, bẩy người bạn chúng tôi (3 người đã về hưu, 4 người còn đang đi làm) rủ nhau lên High Park xem hoa anh đào nở. Hôm đó, nắng ấm như chưa bao giờ có được như vậy. Cả buổi sáng hôm đó, người viết lăng xăng đi chụp hình. Mỏi cả cái thân già. Ba vị hưu trí già ngồi nói chuyện với nhau về cuộc đời hưu trí trong cái “xứ lạnh tình nồng”. Xế chiều hai cặp “còn trẻ/còn khỏe để còn mà đi cầy” đã tan sở sớm để đến gặp chúng tôi. Cả một buổi chiều đầy tiếng cười, tiếng nói và khoe nhau những bức hình hoa anh đào đang nở rộ tại High Park,Toronto, Canada.

Sau đó chúng tôi rủ nhau đi ăn phở. Ra về ai nấy đều mong có những ngày nắng xuân ấm cúng và vui vẻ như vậy trong tương lai.

Trong hiệu phở người viết còn gặp lại hai người bạn sau 20 năm xa cách. Ý tưởng xin miếng đất để xây dựng Tượng Đài Thuyền Nhân đã bắt đầu từ “cái buổi chiều hôm đó, hôm gì”.

Nghĩ tới Tượng Đài Thuyền Nhân Việt Nam, chúng tôi cảm thấy rộn lên một niềm vui: thế hệ Thuyền Nhân đầu tiên đã có mặt tại Canada, tại các nơi khác trên thế giới trong những năm tháng khó khăn nhất. Rồi đây, Tượng Đài sẽ là một biểu tượng đẹp đẽ, đầy nghị lực đang vươn lên để cho những thế hệ gốc Việt Nam mai hậu noi theo.

Một hôm mùa thu năm 2014, Bích Nga và tôi lái xe ra “Jack Darling Memorial Park” xem phong cảnh. Hôm đó, trời có mây đen đang che phủ mặt hồ Ontario (Lake Ontario). Nhìn mây bay, lá thu đang rớt rụng, người viết lấy ngay máy hình ra thu video clips và chụp ảnh. Không quên nhờ bà vợ đứng “xa xa” làm người mẫu để cho hình và video clips có chút thi vị.

Sau khi ý định xây tượng đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân đã được một số bạn bè ủng hộ, người viết đã làm Video và đưa lên youtube dưới đây:

https://www.youtube.com/watch?v=6k2YdfPaAqo
:AN AUTUMN MID-MORNING WALK IN JACK DARLING MEMORIAL PARK, MISSISSAUGA

Giáo Già có cái thú năm dài trên cái sofa những đêm khuya thanh vắng để thả hồn vào phía “bên trong” và tự đặt nhiều câu hỏi trong đầu về mình phải viết những gì trong cái văn kiện xin đất đó:

– Để làm gì?

– Sẽ có những ai trong cái project này?

– Sẽ tốn bao nhiêu tiền và làm sao mà có được sự hỗ trợ từ cộng đồng trong cái project này?

– Sẽ tốn mất bao nhiêu thì giờ để xây xong?

– Sẽ phải làm những gì để có nhân lực, nhất là phần nhân lực chuyên môn như Kiến Trúc Sư, Kỹ Sư, Điêu Khắc Gia, thợ đứng ra xây cất?

Cũng đã tự đặt ra những câu hỏi cho chính mình: Làm sao quen được các nhân vật trong Hội Đồng Thành Phố như Thị Trưởng, làm sao làm quen được Nghị viên, Commissioner (Public Works, Parks-Recreations, Cultures)…, các Directors và Managers của Thành Phố?

Phần đối đáp với các nhân vật này thì người viết thấy tạm yên vì trong thập niên 1980, trường Công Chánh của Centennial College chúng tôi đã có quan hệ mật thiết với City of Scarborough qua chương trình Co-op của sinh viên Công Chánh (sinh viên của trường được gửi đi thực tập trong Co-op terms) tại Hội Đồng Thành Phố Scarborough. Ngoài ra một số sinh viên ngành Công Chánh của Centennial College đã có công ăn việc làm với City of Scarborough và các City khác. Giáo Út (hồi đó) “còn trẻ, còn khỏe” cũng đã từng gửi sinh viên đến các Hội Đồng Thành Phố như City of Scarborough, City of Toronto, City of North York, City of East Work để xin tài liệu mà sinh viên phải nộp bài cho GS PD cho các đề tài liên quan đến các tổ chức Hội Đồng Thành Phố của môn “Công Chánh Đại Cương” (Introduction of Civil Engineering Technology).

– Sẽ phải đối phó với các nhân viên cao cấp của City of Mississauga như thế nào trong những buổi họp ban đầu. Tuy rằng Giáo Già đã có nhiều kinh nghiệm về “Public Speaking” trong thập niên 1980 qua những nhiệm vụ sau đây:

-Viết văn kiện cho chương trình mới cùng 2 Giáo sư trưởng phòng Hóa Học và Sinh Vật Học về “Bảo Vệ Môi Sinh”. Sau đó bộ 3 chúng tôi phải đứng ra điều trần trước “Academic Council of Centennial College” (Hội Đồng Tối Cao về chương trình giảng dậy toàn trường) gồm có rất nhiều các Giáo Sư Trưởng Phòng, các phụ tá Khoa Trưởng và các Khoa Trưởng của 89 chương trình học (programs) của Centennial College.

– Trong đầu thập niên 90, trong chức vụ Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ, sau đó Chủ Tịch của Hội Phụ Huynh Học Sinh Toronto, người viết đã tham dự nhiều buổi họp liên quan đến “chống kỳ thị chủng tộc trong các sách Giáo Khoa” của Thành Phố Toronto, chúng tôi đã có dịp ngồi họp với các “Trustees” (do dân bầu ra để đại diện cho học sinh và phụ huynh của TP Toronto trên phương diện Giáo Dục), một số giáo chức, rất nhiều hiệu trưởng (principals), các đốc học (superintendents), các đại diện sắc dân da màu… Đã có dịp tham dự nhiều buổi họp rất “hot” (to tiếng và đầy căng thẳng…) Đã học được “kinh nghiệm chiến trường”: – mình hòa nhã với người thì người sẽ hòa nhã với mình, – văn viết và văn nói nên ngắn gọn và trong sáng để dễ gây thiện cảm với người “đối tác”.

Sau kỳ họp đầu tiên với nhóm đại diện của Thành Phố Niagara Falls, cá nhân tôi đã rút tỉa được những kinh nghiệm sau đây:

Muốn có được kết quả tốt mình cần phải:

– Có một số hội đoàn ủng hộ việc xây TĐTN.

– Có thêm nhiều thành viên của Ủy Ban Xin Đất với nhiều kinh nghiệm sinh hoạt cộng đồng (Việt Nam và Canada) vô vụ lợi.

– Có được 1, 2 nghị viên sẵn lòng giúp đỡ Ủy Ban để kết nối với các nghị viên khác và nhất là người Thị Trưởng.

– Có khái niệm là Ủy Ban sẽ gặp gỡ những ai trong Hội Đồng Thành Phố

– Có đủ nhân sự với nhiều kinh nghiệm khác nhau để cùng ngồi viết văn kiện, cùng hoạch định chương trình quyên tiền để xây cất, tuyển chọn mẫu Tượng Đài, tuyển lựa Ban xây cất…

Kính mời quý vị vào đọc để Quý Vị có khái niệm về “những bước đầu khó khăn của chúng tôi”:

Xin hẹn gặp lại Quý Vị trong bài viết sắp tới.

Đàm Trung Phán

GS Công Chánh hồi hưu.

Mississauga

Tháng 5, 2020

HAPPY CANADA DAY 2020 & THANK YOU COVID-19 FIGHTERS!

QUÁ TRÌNH XÂY CẤT TƯỢNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TẠI MISSISSAUGA, CANADA – LỜI MỞ ĐẦU

Đàm Trung Phán

Khi chúng tôi bắt đầu viết những giòng chữ này vào tháng 5, 2020, dịch COVID-19 đã hoành hành trên thế giới hơn một tháng rồi. Người viết tuy bắt đầu cảm thấy ngán ngẩm với cái cảnh phải sống cách ly rồi nhưng đây lại là cơ hội tốt để ngồi viết loạt bài về quá trình xây cất TƯỢNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM tại thành phố Mississauga.

Như quý vị đã biết, Cộng Đồng Canada gốc Việt vùng Đại Đô Thị Toronto đã phải trải qua rất nhiều các giai đoạn khác nhau như: xin đất để xây Tượng Đài, thành lập một hội đoàn để có chính danh đứng ra xây cất Tượng Đài, tổ chức các buổi gây quỹ, kiến tạo (design) và xây cất Tượng Đài…

Công việc rất nhiều và gặp khó khăn cũng chẳng ít. Người viết xin trình bầy mọi sự việc dựa theo thuyết “Nhân” và ”Duyên” trong đạo Phật qua lối nhìn dưới đây: từ cái nhân sang đến cái duyên. Nhân, Duyên của vài người được kết hợp lại với nhân duyên của rất nhiều người, của cả một cộng đồng luôn.

MỘT: NHÂN

Người viết sinh quán tại làng Hương Mạc, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh năm 1942. Thân phụ (cụ Đàm Duy Tạo) và thân mẫu (cụ Nguyễn Thị Sáu) chúng tôi sống bằng nghề làm ruộng tại Bắc Ninh và dậy học tại Phúc Yên. Sau khi quân đội Nhật đầu hàng vào năm 1945, quân đội viễn chinh của Pháp trở lại Việt Nam gây ra  chiến tranh Việt – Pháp. Hồi đó gia đình chúng tôi sống ung dung, hạnh phúc. Thân phụ chúng tôi có rất nhiều sách chữ Nho, chữ Nôm, tiếng Việt, tiếng Pháp… Cụ thôi dậy học tại Phúc Yên trong thời kỳ quân đội Nhật đánh bại quân đội Pháp. Hai cụ sống bằng nghề làm ruộng.

Để tránh nạn “tây quây” (quân đội Pháp vào làng), thân phụ chúng tôi đã phải dẫn đàn con thơ chạy loạn lên miền Thượng Du Bắc Việt sau năm 1949 (sau khi em út chúng tôi ra đời vào năm 1948). Lúc đó, thân mẫu chúng tôi bó buộc phải ở lại Bắc Ninh vì mới có con nhỏ. Vả lại, cụ còn phải ở lại để trông nom nhà cửa và công việc đồng áng.

Phần đời này của gia đình chúng tôi đã được ghi lại trong bài thơ dưới đây:

Nhận thấy “chạy loạn” cũng chẳng đi đến đâu mà gia đình cũng chẳng còn được đoàn tụ, thân phụ chúng tôi quyết định mang anh chị em chúng tôi về lại làng quê tại Bắc Ninh. Trong khi đó Việt Minh Cộng Sản (VMCS) bắt dân làng ở nhà quê phải “tiêu thổ kháng chiến” bỏ làng mà đi chạy loạn. Cụ đã biết được phần xảo trá, tàn ác của Việt Minh và cụ không hề nghe theo lời dụ dỗ, và đe dọa của “Vẹm” (Việt Minh Cộng Sản).

Tuổi thơ của anh chị em chúng tôi không có được phần yên ổn nào hết. Tuy rằng chúng tôi không hề bị đói ăn, ngay trong thời kỳ lụt năm Ất Dậu 1945, vì thân phụ chúng tôi đã biết cách chứa thóc gạo trong nhà mà quân đội Nhật không hề biết tới.

Cụ cũng đã biết có ngày Việt Minh Cộng Sản sẽ đến tịch thu thóc gạo của gia đình chúng tôi. Vì vậy việc chứa thóc gạo vẫn được tiếp tục giữ kín trong cái “Nhà Dương” đã được xây cất rất kiên cố và kín đáo trước thời kỳ “Nhật đổ bộ Đông Dương”.

Vựa chứa thóc này gồm có hai phần: phần trên là để chứa thóc, phần dưới là nơi trú ẩn của gia đình chúng tôi trong lúc đồng minh ném bom quân đội Nhật.

Lối vào nhà Dương được xây cất rất kín đáo mà chỉ có gia đình chúng tôi mới biết mà thôi. Hồi còn rất nhỏ (2, 3 tuổi), anh Pháp và tôi đã được 2 cụ cho vào hầm trú ẩn để tránh bom đạn của đồng minh và Nhật Bản. Mỗi lần như vậy, mỗi đứa được mẹ cho một quả cam sành có vỏ còn xanh cho nên hai đứa vui vẻ chơi với nhau mà quên cái vụ đang bị dội bom.

Trước khi em trai út chúng tôi ra đời vào năm 1948, VMCS thường hay gửi cán bộ đến gạ gẫm rồi đe dọa thân phụ chúng tôi vì cụ không ủng hộ “Vẹm” và ông Hồ Chí Minh.

Dân làng muốn vào nhà chúng tôi phải đi theo một cái ngõ rộng chừng 3 mét. Đi vào dọc theo cái ngõ này, sẽ thấy: phía bên phải là nhà bác Cả (bác Đàm Duy Viễn, anh cả của thân phụ chúng tôi), sau đó, phía bên trái là nhà bác Giáo Sáu (bác là anh em con chú, con bác với thân phụ chúng tôi. Bác cũng là một nhà giáo như thân phụ chúng tôi. “Vẹm” không ưa cả hai nhà giáo này vì nhà giáo thừa biết cái gian manh, xảo trá của VMCS). Đi vào cuối cái ngõ: bên trái là nhà bác Hai (Đàm Duy Quỳ, thân phụ của cố Đại tá Cảnh sát Đàm Trung Mộc đã chết trong tù cải tạo), bên phải là cổng vào nhà chúng tôi (có cánh cửa bằng gỗ lim rất chắc với bức tường bên trên có các mảnh chai) được xây cất kỹ càng để tránh việc kẻ trộm và giặc cướp vào nhà ban đêm.

Vì thân phụ chúng tôi bất đồng ý kiến với VMCS, cán bộ Cồng Sản Việt Minh “quản thúc tại gia” gia đình chúng tôi bằng cách cho người chôn mìn trong ngõ gần cỗng vào nhà chúng tôi.

Ở đầu ngõ họ không chôn mìn (trước mặt nhà cụ đồ Dượng và nhà Bác Cả, hai nhà này đối diên nhau). Họ chỉ chôn mìn bắt đầu từ nhà Bác Giáo Sáu cho đến nhà Bác Hai và nhà cụ Giáo Tạo mà thôi.

Năm 1949, môt hôm làng Me (làng Hương Mặc) bị “Tây quây”. Một lính Tây dẫm trúng mìn, nổ ngay gần cửa vào cổng chính tại nhà chúng tôi. Toán lính Tây bắt tất cả mọi người trong gia đình (bố mẹ và 5 anh chị em chúng tôi) đứng ra xếp hàng và sẳn sàng “phơ” (feu: nổ súng) ngay lập tức. Thân phụ chúng tôi nói tiếng Pháp và giải thích cho họ biết rằng gia đình chúng tôi không phải là VMCS mà chỉ là nạn nhân của “Vẹm” mà thôi.

 VMCS muốn người Pháp giết hết gia đình chúng tôi thay cho VMCS. Nếu gia đình chúng tôi là VMCS thì dại gì mà lại tự ý chôn mìn ngay trước cửa nhà làm gì. Quân lính “Tây” bèn trói tay ông Cụ và bắt đi làm tù binh. Lúc đó tôi mới 7 tuổi và đã mất đi luôn cái hồn nhiên của tuổi thơ từ đó.

[[ Để tránh vụ dẫm phải mình của “Vẹm”, muốn ra khỏi ngõ, gia đình chúng tôi có thể đi sang nhà Bác Cả qua cái cửa ở giữa bức tường ngăn chia 2 nhà mà không cần đi qua cái ngõ. May thay, nhà Bác Cả lại ở ngay đầu ngõ cho nên gia đình chúng tôi tránh được vụ dẫm phải mìn để đi ra đường chính trong làng. Cửa hậu của căn nhà chúng tôi chỉ để ra ao sau vườn và không đi ra đường trong làng được.]]

Năm 1950, thân phụ chúng tôi được thực dân Pháp cho thả tù và được trở lại ngành dạy học tại Phúc Yên. Rồi anh Pháp và tôi được Cụ mang lên Phúc yên để bắt đầu thực sự đi học khi chúng tôi lên 9, 8 tuổi.

Năm 1952, thân mẫu chúng tôi bắt buộc phải rời khỏi làng quê tại Bắc Ninh để ra Hà Nội mà đoàn tụ với gia đình vì hồi đó VMCS đang bắt đầu vụ đấu tố “địa chủ, cường hào” tại làng quê tại Bắc Ninh. Bà cụ để lại tất cả cái cơ ngơi, ruộng vườn đã được gây dựng trong nhiều năm trước đó.

Bao nhiêu vốn liếng dành dụm hai cụ mua được một căn nhà mới xây tại phố Kim Liên, Hà Nội.

Thời kỳ này là thời kỳ hạnh phúc nhất của gia đình chúng tôi vì được sống đoàn tụ mà không bị cán bộ Việt Minh Cộng Sản theo dõi và dọa nạt.

Thế rồi “ngày vui qua mau”. Sau khi Hiệp Định Genève được ký kết vào năm 1954, vì tiếc của, lúc đầu thân mẫu chúng tôi quyết định ở lại Hà Nộị cùng với Phán và Thang (hai đứa con trai nhỏ nhất trong gia đình) những mong giữ được nhà cửa, ruộng vườn tại Hà Nội và Bắc Ninh! Thân phụ chúng tôi quyết chí di cư vào Nam vì không tài nào có thể “sống chung” với Cộng Sản được. Cuối cùng thì “phe ở lại” cũng phải “chàng đi, thiếp cũng một lòng đi theo” vào Nam trong chuyến bay cuối cùng rời Hà Nội vào Saigon. Vì không có ý định vào Nam cho nên thân mẫu chúng tôi không bán nhà và đồ đạc tại “chợ trời” như những gia đình di cư khác. Cuối cùng thì, hai cụ phải khóa trái cửa lại mà vào Nam gần như với hai bàn tay trắng.

Tôi chỉ còn nhớ khi xe đi qua Hồ Gươm lúc 5 giờ sáng, thấy gợn buồn khi chỉ nhìn thấy sương mù che mất Tháp Rùa. Nhưng lúc đó tôi là một cậu bé 12 tuổi lại thấy náo nức để lên máy bay lần đầu tiên vào năm 1954!

Vào đến Saigon, một người cháu họ ra phi trường Tân Sơn Nhất đón gia đình chúng tôi. Ngồi trong xe, nghe cô cháu nói tiếng Nam với ông tài xể Taxi, tôi chẳng hiểu gì hết và cảm thấy lo lắng về vấn đề “sinh ngữ” trong Nam! Gia đình chúng tôi được tạm trú với bà con tại Thị Nghè trong một thời gian ngắn.

Thân phụ chúng tôi được đi dạy lại tại trường Tiểu học Phú Nhuận ở Saigon nhưng năm 1956 thì phải về hưu. Hai cụ mua được một căn nhà rất cũ ở trong một cái hẻm tại đường Võ Duy Nguy khác hẳn với căn nhà khang trang của hai cụ ở Hanoi.

Thân mẫu của chúng tôi càng ngày càng lo buồn vì vấn đề sinh kế trong Nam. Vài tháng sau, cụ bắt đầu mắc bệnh trầm cảm. Suốt ngày chỉ thấy cụ ngồi đan bít tất cho con nít mới sinh.  Đan để quên đi nỗi buồn xa quê quán, quên đi nỗi lo âu “làm sao nhà mình có đủ tiền để mà nuôi cho 3 đứa chúng mày đi học vì bố mày sắp sửa về hưu”!

Lúc đó anh Đàm Trung Pháp và tôi đang học lớp Đệ Lục, Đệ Thất cỡ tuổi 13, 12. Tuổi chẳng biết làm gì ra tiền để mà giúp đỡ cho mẹ, cho cha. Hai đứa chỉ biết tự hứa với nhau cố mà học để cho cha mẹ yên tâm. Cũng may là chúng tôi học khá.

Thế rồi “định mệnh đã an bầy”: thân mẫu chúng tôi qua đời đúng vào ngày Rằm Trung Thu năm 1955. “Đôi bạn” (chúng tôi vừa là anh em vừa lại là bạn chơi với nhau từ thuở mới lọt lòng) vào thăm mẹ trong bệnh viên Hồng Bàng vào buổi chiều Trung Thu năm 1955. Cho tới bây giờ, ở tuổi 78, 79 hai anh em chúng tôi vẫn không thể quên được hình ảnh thi hài gầy nhom của mẹ nằm co quắp trong cái nhà xác nghèo nàn và thiếu phương tiện này được. Đây là một vết sẹo tinh thần đã vĩnh viễn khắc sâu trong tâm hồn chúng tôi. Cũng may mà “hai anh em có nhau để dựa nhau mà đi” trong những năm Trung Học tại Sài Gòn. Chỉ có còn biết học, học cho thật giỏi để báo hiếu cho cha, cho mẹ mà thôi.

Xin lắng nghe bài thơ sau đây:

 Nén Hương Cho Mẹ

HAI: DUYÊN KHỞI

Ở tuổi 18, tôi đã may mắn được học bổng Colombo Plan sang Úc để học ngành Kỹ Sư Công Chánh.“Tổ ấm” tại Saigon nay chỉ còn có thân phụ chúng tôi và chú em út còn đang học trung học. Lúc đó, anh Pháp đang ở bên Mỹ du học, anh Thao (anh lớn của chúng tôi) đang đi làm xa nhà. Chị lớn và anh cả của chúng tôi đã lập gia đình.

Nội tâm tôi rối bời: thương cha già, em út quạnh hiu ở Việt Nam nhưng cá nhân tôi phải tự vươn lên. Ngoài phần sống xa nhà, bọn sinh viên chúng tôi còn phải học thêm rất nhiều thứ khác: sinh ngữ, cách đối đầu với những khác biệt giữa hai nền văn hóa Âu Mỹ và Việt Nam, đối đầu với nền giáo dục xa lạ, đối đầu với những hình ảnh thảm khốc qua TV trong cuộc chiến của Miền Nam với quân đội CSVN đang xâm chiếm lãnh thổ…

Cá nhân người viết đã phải cố gắng học hỏi rất nhiều nhất là phải biết cách đối phó với những cảm nhận chua xót “một mình mình biết, một mình mình hay”.

Sau khi đã ra trường và đi dạy tại Canada, người viết cảm thấy tự tin và quyết định sẽ không bao giời bỏ cuộc với những thứ gì mà chính tôi phải làm và sẽ làm.

Đã rất hăng say khi đi làm trong nghành Kỹ sư với chính phủ Úc trong việc kiến tạo các đập nước được xây cất trong nội địa Úc ngay sau khi ra trường. Tinh thần “Kiến Tạo” (Design) này đã là cái kim chỉ nam cho người viết trong nghề nghiệp cũng như khi đi làm việc thiện nguyện trong những năm sau này tại Canada.

Sau khi đã dạy học được 3 năm, cuối năm 1973, Giáo Út là giáo sư nhỏ con nhất, ít kinh nghiệm nghề nghiệp nhất và trẻ nhất trong ngành Công Chánh (Civil Engineering Technology department) cho nên hay bị “lãnh búa” từ các “Giáo anh” / ”Giáo chị” để rồi “được” nhà trường giao cho trách nhiệm mở thêm phòng thí nghiệm về Nhựa Đường (Asphalts and Asphalt Concretes) dựa theo tiêu chuẩn của “Soils Lab” (phòng thí nghiệm thử đất) và “Concrete Lab” ( phòng thí nghiệm thứ Xi Măng và Bê Tông) mà ngành Công Chánh của Centennial College đã được các công, tư sở để ý đến.

Nhiệm vụ của Giáo Út là đi tìm hiểu và mua các dụng cụ, máy móc dùng trong phòng thí nghiệm để rồi phải viết ra phần “lecture notes” (giáo án) và “laboratory procedures” (tài liệu về cách thực tập trong phòng thí nghiệm). Giáo Út đã có ít nhiều kinh nghiệm về môn “Soils Mechanics” (Cơ học đất đá) và “Cements and Concretes” (Xi măng và bê tông) tại Úc cũng như tại Canada nhưng phần Asphalts & Aphalt Concretes thì hoàn toàn mới. May mắn thay, môn mới này đã được viết xong và Trường Cao Đẳng Centennial College cho phép ngành Công Chánh (Civil Engineering Technology program) bắt đầu “cho ra lò” để giúp College thu nhận được nhiều sinh viên hơn.

Đầu năm 1975, tình hình Việt Nam mỗi ngày một căng thẳng. Trong lúc Giáo Út nhà ta đang dậy môn mới Asphalts and Asphalt Concretes (Nhựa Đường), giáo trẻ nhà tôi lại còn phải “đèo bòng” thêm việc kiến tạo lại hết tấ cả những phòng thí nghiệm và các lớp học mới cho ngành Công Chánh vì trong mùa hè năm 1977 phân khoa kỹ thuật (School of Engineering Technology) của chúng tôi sẽ được dọn sang một chi nhánh (campus) mới toanh với phòng ốc khang trang, dụng cụ tân tiến hơn.

Sang đến thập niên 1980, sau khi Canada đã chấp thuận nhận 60,000 người Việt Tị Nạn Cộng Sản, tôi đã được nghe rất nhiều câu chuyện đau thương của đồng bào Việt Nam trên đường vượt biên, vượt biển… Người viết đã là một chứng nhân tại Toronto trong những năm đen tối nhất của lịch sử Việt Nam.

Tôi tự nhủ: mình cần phải làm một cái gì đó để ghi lại cho đời sau biết rõ hơn về lịch sử Việt Nam ngay tại Canada sau ngày 30/04/1975 dưới con mắt của một người Việt lưu vong.

Tuy phải “đèo bòng” thêm nhiều thứ khác trong cuộc đời nhưng Giáo Út lại cảm thấy vui hơn vì bản thân tôi đã chấp nhận “số mạng của chính mình” và đã tự hứa là sẽ không bao giờ bỏ cuộc!

Tôi đã cảm nhận có thú vui trong nghề đi dạy và đã thấy mình may mắn tìm được một niềm vui êm đềm: có đủ điều kiện thực tế để giúp đỡ cha già, nhất là chú em út ở bên nhà.

Chú Út đang học Y Khoa và sẽ ra trường vào ngày 30 tháng 6 năm 1975. Giấc mơ Y Khoa ngày xưa tại Saigon của Giáo Già nay đã được chú em út thực hiện tại Việt Nam, rồi Canada sau khi thân phụ chúng tôi và chú Út đã đến định cư tại Canada vào tháng 7, năm 1975.

[[ Ngày 30/04/1975, chú Út mang cha già đã 80 tuổi lên máy bay rời Saigon để bay qua Guam tị nạn Cộng Sản Việt Nam lần thứ hai: “Ra đi không mang valise!” và chưa được cấp mảnh bằng Bác Sĩ Y Khoa vào ngày 30/06/1975 tại Saigon như đã dự định! ]]

Yếu tố Nhân (causes) và yếu tố Duyên (insights) của đạo Phật là 2 yếu tố mạnh mẽ nhất và đã trở thành nguyên do chính để giúp cho Giáo Già (Giáo Sư Công Chánh đã về hưu từ năm 2002) thực hiện giấc mơ xây dựng Tượng Đài Thuyền Nhân Việt Nam cùng với Cộng Đồng người Việt tự do và rất nhiều các anh chị em trong Hội Đồng Quản Trị của Hội Tưởng Niệm Thuyền Nhân, cũng như các thiện nguyện viên và các quý vị hảo tâm đã đóng góp công sức và hiện kim để hoàn tất công trình này.

Còn nhiều thứ để kể lắm….

Trong những chương sắp tới, chúng tôi sẽ lần lượt viết thêm về những thứ đã phải làm trong công việc xây dựng Tượng Đài Thuyền Nhân tại Mississauga

Xin quý vị tiếp tục theo dõi các chương nối tiếp của thiên phóng sự này.

Đàm Trung Phán

GS Công Chánh Hồi Hưu

Tháng Năm, 2020

KIM VÂN KIỀU ĐÍNH GIẢI

Hương Ngạn Đào Tử ĐÀM DUY TẠO

trước tác năm 1986

(Thứ nam) Đàm Trung Pháp

hiệu đính và phổ biến năm 2020

 

TIỂU SỬ CỤ HƯƠNG NGẠN  ĐÀO TỬ ĐÀM DUY TẠO

Cụ Đàm Duy Tạo sinh năm Bính Thân (1896) tại làng Hương Mặc, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Cụ mất năm Mậu Thìn (1988) tại thành phố Montréal, Gia Nã Đại, hưởng thọ 92 tuổi.

Cụ có thi hương khoa Nhâm Tý (1912), nhưng ngay sau khi các kỳ thi chữ nho bị bãi bỏ, cụ theo học chữ Pháp một thời gian và trở thành một nhà giáo tiểu học vào khoảng năm 1920. Tuy dạy học bằng chữ quốc ngữ và chữ Pháp, cụ vẫn suốt đời tự trau giồi chữ Hán và chữ Nôm và sống trong phong cách của một nhà nho.

Từ 1920 đến suốt thế chiến thứ hai, cụ dạy học ở Phúc Yên. Sau năm 1945, vì tình hình chính trị bất an, cụ xin tạm ngưng dạy học để trở về Bắc Ninh trông nom ruộng vườn, cho đến tận năm 1950 khi cụ được chính phủ quốc gia tái tuyển để tiếp tục dạy học tại Phúc Yên (1950-1952) rồi Hà Nội (1952-1954). Cùng gia đình di cư vào Sài Gòn sau hiệp định Genève, cụ tiếp tục dạy học đến năm 1957 thì về hưu. Sau đó cụ được khế ước dạy Hán văn tại Trung Học Gia Long và dịch sách chữ Hán sang tiếng Việt cho Trung Tâm Học Liệu thuộc Bộ Giáo Dục. Trong thời gian về hưu, ngoài ba cuốn sách Kiến Văn Tiểu Lục (Lê Quý Đôn), Kiến Văn Tiểu Lục [Tập Nhì] (Lê Quý Đôn), và Kiến Văn Lục (Võ Nguyên Hanh) mà cụ dịch sang tiếng Việt và được Bộ Giáo Dục lần lượt xuất bản năm 1964, 1965 và 1969, cụ còn dịch và hiệu khảo các cuốn Nam Thiên Trung Nghĩa Bảo Lục  (Phạm Phi Kiến), Lê TriềuTiết Nghĩa Lục (khuyết danh tác giả), và Bắc Hành Tùng Ký(Lê Quýnh). Cụ cũng hoàn tất hai cuốn sách rất ưng ý của cụ là Hoa Văn Trích Dịch Tập(gồm thơ và văn từ Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Đào Tiềm, Lương Khải Siêu, vân vân)và Việt Hán Cựu Văn Trích Dịch (gồm những thi phú chữ Hán của các bậc khoa bảng Việt Nam, đa số xuất thân từ tỉnh Bắc Ninh). Trong hai cuốn sau cùng này cụ đã dịch thơ chữ Hán sang thơ tiếng Việt qua một vài thể thơ khác nhau. Tiếc thay, các tác phẩm này chưa kịp xuất bản thì xảy ra quốc nạn 1975. Đó cũng là năm cụ di cư sang Gia Nã Đại để tỵ nạn cộng sản.

Trong những ngày đầu buồn tẻ tại Toronto và Montréal cụ mải mê đọc lại từng câu thơ trong cuốn Truyện Thúy Kiều (do hai cụ Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo). Cuốn sách ấy chính cụ đã gửi làm quà cho một thứ nam Đàm Trung Phán của cụ lúc đó đang du học Úc Đai Lợi, nay được “tặng lại” cho cụ! Để giải sầu, cụ bỏ ra nhiều thì giờ để hoàn tất vào năm 1986 (lúc cụ 90 tuổi) một công trình văn học sâu sắc cuối đời, quá mức tưởng tượng của các con cháu cụ. Đó là cuốn di cảo 579 trang tựa đề KIM VÂN KIỀU ĐÍNH GIẢI của Hương Ngạn Đào Tử Đàm Duy Tạo. Lý do sự ra đời của di cảo này được cụ thổ lộ trong phần mở đầu cuốn sách: “Các bản Truyện Kiều ở nước Việt Nam ta bây giờ có nhiều chữ lệch lạc khác nhau, và nhiều chữ ý nghĩa mập mờ, khiến các nhà chú giải không nhất trí.” Phương pháp đính giải của cụ là so sánh các chữ, các câu khác nhau trong các bản Truyện Kiều qua những giải thích và dẫn giải rõ ràng và dễ hiểu trên căn bản chữ Hán, chữ Nôm cũng như các điển tích, phong dao, tục ngữ, để cải chính lại những sai lầm trong một số bản Truyện Kiều đã được lưu hành từ trước đến nay – hoàn toàn nhờ vào trí nhớ phi thường của một nhà nho đã trên 80 tuổi.

ĐÀM TRUNG PHÁP

 

MẤY LỜI PHI LỘ TRƯỚC KHI ĐÍNH CHÍNH   VÀ CHÚ GIẢI TRUYỆN KIỀU

Truyện Kim Vân Kiều hay Đoạn Trường Tân Thanh là một tác phẩm văn chương rất quý, không những là của riêng nước Việt Nam ta, mà còn là của chung cả thế giới nữa. Người ngoại quốc đã cho Truyện Kiều là một quyển truyện hay vào bực nhất nhì trong kho văn chương hoàn cầu. Một nhà văn sĩ nước Pháp, ông René Crayssac, đã thán phục Truyện Kiều là hay tột bực về đủ phương diện: lời văn êm đẹp, ý tứ thâm thúy, tả tâm tình người nào đúng người ấy, tả việc nào, cảnh nào đều thật khéo thật rõ để người đọc như được mục kích, và ông đã chịu khó mất công ba năm trời chuyển ngữ quyển truyện quý nước Việt Nam này ra thể thơ Pháp văn thành một tập thơ dày vài trăm tờ. Ông nói ông cố dịch ra Pháp văn cho người nước Pháp được thưởng thức cái hay cái đẹp vô giá của văn chương Việt Nam. Hiện nay Truyện Kiều càng ngày càng được người ngoại quốc hoan nghinh, hết thảy các nước văn minh tân tiến đều đua nhau sưu tầm khảo cứu Truyện Kiều để dịch ra tiếng nước mình.

Giá trị quyển Truyện Kiều cao quý như vậy, nhưng tiếc thay các bản Truyện Kiều lưu hành ở nước Việt Nam ta bây giờ có nhiều chữ lệch lạc khác nhau, và nhiều chữ ý nghĩa mập mờ, khiến các nhà chú giải không nhất trí. Đó là một điều có thể làm giảm mất một đôi phần giá trị cao quý Truyện Kiều. Xét ra Truyện Kiều có những chỗ ý nghĩa mập mờ đó là vì các nhà chú giải không chịu suy nghĩ trước sau xa gần cho ra nghĩa thật xác đáng, chỉ giảng giải gượng ghịu cho xong lần. Còn về phần chữ hay câu ở các bản lệch lạc khác nhau vì các lẽ sau này:

(1) Vì mất các bản chính và các bản mới ấn hành lần đầu cũng không còn. Rồi đến cả các phường bản, thợ nhà in theo các bản in lần đầu mà khắc lại tuy có đôi chữ hoặc khắc sai nét, hoặc in nhòe nhoẹt, nhưng ta còn dấu vết để suy xét được chữ chính đáng, thì nay cũng lại đều hết cả. Hiện giờ chỉ còn những bản Kiều nôm do các nhà văn sĩ đã cậy mình tài giỏi, tự theo ý mình mà đổi bừa bãi những chữ in sai in nhòe nói trên. Nhưng các ông đã nhận lầm đổi bậy các chữ đó ra những chữ vu vơ vô nghĩa, rồi ông thì giải gượng cho xong lần, ông thì lại đổi luôn cả một vài chữ khác cho ăn nghĩa với những chữ đó. Thế là các ông đó đã phạm một lỗi lầm lớn là làm hỏng mất một câu nguyên văn rất hay thành một câu rất dở. Thí dụ như câu 247 tả Kim Trọng tương tư Kiều thâu đêm mất ngủ: “Sầu giong [𩢦] càng khắc [刻] càng chầy [迡]” nghĩa là: chàng không biết hãm mối sầu lại, nén nó xuống cho khuây đi để ngủ, lại cứ giong con ngựa sầu đó cho nó chạy đuổi theo bóng Kiều mãi, thành ra mất ngủ, thấy đêm càng dài thêm mãi. Câu này lấy ý ở câu thơ của Ngô Tử Kinh [愁 逐 漏 声長 = sầu trục lậu thanh trường = sầu đuổi tiếng đồng hồ dài dài]. Câu nguyên văn ý nghĩa thật hay đẹp như thế mà chỉ vì các ông không biết câu thơ cổ đó, lại không hiểu nghĩa chữ “giong [𩢦]” là gì, nên các ông xuất bản truyện Kiều, ông thì đổi câu này thành: “Sầu đông [冬] càng khắc càng chầy”. Ông thì đổi thành “Sầu đông [冬] càng khắc càng đầy.” Có ông lại đổi thành “Sầu đong [𣁲] càng lắc càng đầy”. Ôi câu nguyên văn lời thanh ý đẹp như thế, mà các ông đổi ra những câu ý nông cạn, lời thô quê như thế, thật là đáng tiếc!

(2) Vì các văn sĩ ta xưa không bao giờ chú thích tác phẩm của mình. Ta có thể nói được là tác giả thu nhặt những lời hay ý đẹp trong nhiều sách Nho như Kinh Thi, Kinh Lễ, Thơ Đường, Thơ Tống, Tình Sử, Liêu Trai, truyện thần tiên, kinh nhà Phật, vân vân, cả đến phương ngôn, tục ngữ, ca dao của ta nữa, để khéo chấp nối mà viết thành quyển Đoạn Trường Tân Thanh, đúng như lời tác giả nói khiêm: “Lời quê chắp-nhặt dông dài” ở câu kết truyện. Bởi nguồn tích Truyện Kiều mông mênh man mác trong giới văn Tàu, văn ta như vậy, nên phải có những bực văn nhân học lực đã sâu rộng, lại phải lăn lộn tiếp xúc nhiều với dân quê ta, mới có thể chú giải đầy đủ được Truyện Kiều, đại khái như các cụ Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh. Nhưng tiếc thay các bực thâm nho này lại cho việc chú giải Truyện Kiều là một việc không cần, chớ các cụ có biết đâu rằng Truyện Kiều sẽ là cái hồn thiêng quý của nền văn chương Việt Nam khiến người Âu Mỹ bây giờ phải kính nể văn hóa nước ta.

Giảng giải những điển cố lấy ở cổ thư thì các vị thâm nho tuy đã học nhiều lại sẵn sách kê cứu, nhưng vẫn chưa đủ, vì còn có thêm những điển cố lấy ở phong dao tục ngữ ta mà chỉ có những vị thâm nho nào đã từng sống nhiều ở thôn quê mới biết. Nên nhiều câu tác giả lấy điển ở ca dao, tục ngữ ta, mà ít nhà chú thích Truyện Kiều nào nói đến. Thí dụ như câu 1025 Kiều bảo Tú Bà “Sợ khi ong bướm đãi đằng” sau khi nàng nghe mụ dỗ dành nàng rằng sẽ tìm nơi xứng đáng mà gả chồng cho nàng. Câu Kiều nói này nghĩa là: “Tôi sợ bà nói đấy rồi lại quên lời ngay, chỉ nói đãi bôi lừa nhau một lúc cho xong lần thôi.” Chữ ong bướm đây lấy điển ở câu ca dao “Nói lời thì giữ lấy lời / đừng như con bướm đậu rồi lại bay.” Chữ “đãi đằng” thì lấy điển ở câu: “Yêu nhau bảo thật nhau cùng / đậu ngâm ra giá đãi đùng nhau chi.” (“Đãi đùng” dùng thay cho “đãi đằng” cho hợp vần). Nghe nàng nói thế, thì mụ trả lời và thề ngay: “Phải điều lòng lại dối lòng mà chơi / mai sau ở chẳng như lời / trên đầu có bóng mặt giời rạng soi” thì biết lời nàng nói và lời mụ đáp lại đều ý thật rõ thật hay, thật khẩn thiết với nhau. Trong cuốn Truyện Thúy Kiều của hai ông Kim và Kỷ xuất bản, họ giải nghĩa chữ “đãi đằng” là “lôi thôi” là lầm, vì câu “Sợ khi ong bướm nó lôi thôi” không khẩn thiết gì với câu mụ nói và thể ở dưới.

Lại như câu 1363 “Đường xa chớ ngại Ngô Lào,” tác giả lấy điển ở câu phong dao “Chơi cho nước Tấn sang Hồ / nước Tề sang Sở / nước Ngô sang Lào,” mà không thấy nhà chú thích Truyện Kiều nào nhắc đến.

Và như câu 2940 “Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng pha” lấy điển ở câu ca dao “Một liều, hai ba bốn cũng liều / năm sáu sông cũng lội / bảy, tám, chín, mười đèo cũng pha.” Chữ “pha” đây nghĩa là xông vào nơi bụi rậm gai góc, nhưng ở nhiều bản Kiều nhà xuất bản đổi lầm ra chữ “qua”, thành kém ý nghĩa mạo hiểm. Chữ “đèo” đổi ra “ngàn” để hợp vần.

(3) Vì sao đi chép lại mãi, chữ nọ lầm ra chữ kia, người sau đọc đến những câu có chữ lầm đó, thấy lời văn không chạy, ý nghĩa tối tăm, mà suy xét không ra các chữ sai lầm đó, bèn lại đổi chữ khác cho liền nghĩa vu vơ với chữ lầm trước, thế là làm mất cả lời hay ý đẹp của cả câu nguyên văn trước. Ta hãy lấy hai câu: “Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh / rụng rời đọt [稡] đọt liễu [柳], tan tành cội [檜] mai [梅]” làm thí dụ. Chữ đọt liễu là cái trồi liễu mẫm mạp non tươi mới trỗi lên từ gốc cây, tượng trưng Thúy Kiều, Thúy Vân; cội mai là cái gốc già cứng cây mai tượng trưng Vương Bà. Ý hai câu này nói: “Lũ sai nha nó thét lác làm hai cô gái trẻ và Vương Bà sợ hãi tan hồn bạt vía”. Câu tả cảnh này lời thật hay đẹp, ý thật đúng rõ như vậy. Thế mà chỉ vỉ chữ “đọt [稡] liễu” thợ in khắc lầm ra “giọt [湥] liễu”, để cho mọi người tưởng lầm “giọt liễu là những tua giải áo thắt lưng rũ xuống của đàn bà con gái, rồi mới đổi chữ “cội mai [檜 梅]” ra làm “gối mai [檜 梅]” để đối với “giọt liễu” cho chỉnh, lấy nghĩa chữ “gối mai là do chữ mai trẩm dịch ra”, nói sự vui vẻ đoàn tụ ở trong nhà. Đổi thế đã là vô nghĩa, nhưng chưa vô nghĩa bằng có bản đã đổi “gối mai” ra “gói may [𦁼]” lại đổi luôn cả “giọt liễu” ra “khung dệt” nữa, để đối với “gói may” cho chỉnh hơn! Ôi, câu “Rụng rời đọt liễu, tan tành cội mai” nguyên văn thật ý hay lời đẹp tuyệt diệu như thế, mà chỉ vì một chữ “đọt [稡]” làm ra “giọt [湥], bị thay đổi dần mãi thành ra “Rã rời khung dệt, tan tành gói may” – sao mà lời văn thô, ý nghĩa dở được đến như thế?

Lại như câu Kim Trọng nói: “Bấy lâu đáy bể mò kim / là theo vàng đá, phải tìm trăng hoa?” nghĩa là: Ta sở dĩ cố đi dò thăm tìm nàng bấy lâu, là vì ta theo lời thề nặng với nàng, chớ đâu phải là vì ta mến sắc đẹp của nàng. Chữ “theo [蹺]” in lầm ra “nhiều [饒]” thật là vô nghĩa, vậy mà không ai để ý đến, cho nên hết thảy các bản Kiều Nôm, Kiều quốc ngữ đều in là “nhiều”!

(4) Vì nhiều chỗ trong bản Kiều nôm cũ khắc vụng in nhòe, người sau nhận không rõ, mới đoán bừa ra thành những câu vô nghĩa rồi giải gượng cho xuôi, cho xong lần, để những câu đoán lầm đó lưu truyền mãi mãi ở trong Truyện Kiều. Cũng có nhà xuất bản, biết là sai, có sửa lại, in lại, nhưng vì không biết điển cố, cũng lại sửa bừa – vô nghĩa vẫn hoàn vô nghĩa! Thí dụ như câu 1507 Kiều khuyên Thúc Sinh phải vể nói rõ việc mình làm lẽ cho Hoạn Thư biết, chớ không giấu mãi được đâu: “Dễ mà bọc giẻ giấu kim / làm chi bưng mắt bắt chim khó lòng?” Câu 6 chữ này lấy điển ở câu ca dao vợ cả đe chồng chớ thầm vụng với gái: “Này này tớ bảo cho hay / giấu kim bọc rẻ có ngày thò ra!” Điển này dùng vào lời Kiều khuyên đây thật hay, thật xác đáng. Thế mà vì chữ nôm câu sáu chữ này [𥚯  𦓡  襆 綵 闘 金]  rậm nét khó khắc, nên các bản Kiều nôm cổ đều in nhòe nhoẹt rất khó nhận; người xuất bản suy nhận không ra, mới đoán lầm mà khắc lại câu này thành [易 𤍶 𧞣 𧺀 𦟹 金] Dễ lòe yếm thắm trôn kim”, và cho là điển ở câu tục ngữ “Dễ lòe được yếm thắm, chớ không lòe được trôn kim”, và giảng câu tục ngữ này là: Cái người ta không để ý đến, thì dẫu một người mặc cái yếm đỏ thắm đi qua người ta cũng không thấy, nhưng cái người ta đã để ý đến, thì dẫu nhỏ như cái lỗ ở trôn kim người ta cũng nhìn rõ ràng. Có lẽ các ông xuất bản này đã khéo bịa ra câu tục ngữ này để làm bằng cứ giải nghĩa cái câu Kiều mập mờ vô nghĩa đó. Rồi lại có ông xuất bản thấy câu “Dễ lòe yếm thắm trôn kim” vô nghĩa đó, lại đổi ra thành một câu nghĩa đã vô lý hơn, lời lại quá thô bỉ: [𥚯 𦓡 押 耽 掄 金] Dễ mà ép sẫm luồn kim!

(5) Vì chữ nôm không có quy tắc nhât định để cho hình chữ nhất trí và tiếng đọc nhất trí. Đã 1 tiếng có thể viết thành ra 2, 3 lối, ví dụ tiếng “lời” có thể viết là [唎] hay là [𠳒]; lại một chữ có thể đọc được là 2, 3 tiếng, tùy theo nghĩa dùng từng chỗ, thí dụ chữ [𠃅] có hai tiếng đọc là “mé” hay là “mái”. Câu “Hàn gia ở [𠃅] mé tây thiên” thì phải đọc là “mé” mới đúng nghĩa, vì mả Đạm Tiên ở mé bên bờ phía tây cánh đồng; và trong câu “[𠃅] Mái tây để lạnh hương nguyền” thì phải là “mái” mới đúng, vì chữ Mái tây dịch chữ Tây sương ra, Tây sương là mái nhà phía tây. Chữ “mái tây để lạnh hương nguyền” thì các bản truyện đều dịch đúng, nhưng chữ “Hàn gia ở mé tây thiên” thì các bản Kiều quốc ngữ đều dịch lầm ra “mái tây thiên” thật là sai nghĩa. Bởi sự không nhất trí của chữ nôm như thế, một chữ có thể đọc ra 2, 3 tiếng, đã gây nhiều sự khó khăn cho người phiên âm nôm ra chữ quốc ngữ. Nếu người phiên âm một cuốn truyện viết bằng chữ nôm ra chữ quốc ngữ mà không đủ khả năng để hiểu thật nghĩa lý câu chuyện, hoặc không chịu khó suy nghĩ cho ra ý nghĩa xác đáng của từng chữ trong câu truyện, thì phiên âm dễ sai lầm lắm. Thí dụ như chữ “nén” trong câu 1390 “Nén lòng e ấp tính bài phân ly”, thì chữ nén nôm viết [𥗨] (gồm[石] thạch là đá tỏ ý nặng ở bên chữ [曩] nẵng hợp với tiếng “nặng” hay tiếng “nén” của tiếng Việt ta). Chữ [𥗨] trong câu Kiều này phải phiên âm là “nén” thì mới đúng ý nghĩa vì Thúc Ông lúc mới thấy Thúc, Kiều tốt đôi, trước còn e ấp dùng dằng không nỡ bắt con phải bỏ Kiều, nhưng sau ông thấy con đã phá sản quá nhiều vì Kiều, nên ông mới đành nén lòng e ấp ấy xuống, mà bắt Thúc sinh phải đuổi Kiều đi. Câu này thật hay, tả rõ được nỗi phân vân trong lòng Thúc Ông, vừa có lòng nhân từ cha mẹ thương con, vừa có óc ông già buôn bán tiếc của. Thế mà hết thảy các bản truyện Kiều quốc ngữ kể cả hai cuốn của ông Trần Trọng Kim và của ông Nguyễn Khắc Hiếu đều phiên âm lầm ra là “Nặng lòng e ấp tính bài phân ly” thành ra vu vơ nghĩa. Ông Hiếu thì chịu là: không hiểu chữ e ấp nghĩa là gì ở đây; ông Kim thì giải nghĩa gượng chữ e ấp là e lệ, sợ hãi và nặng lòng e ấp là nói Thúc Ông sợ nỗi con đã có vợ rồi mà lại chơi bời, lấy gái giang hồ, vậy ông mới tính bài bắt phải bỏ ra (Lời giải số 5 ở trang 126 cuốn Truyện Thúy Kiều in lần thứ 8, nhà in Tân Việt).

Lại còn một nỗi khó khăn hơn nữa cho người phiên dịch Truyện Kiều viết bằng chữ Nôm ra chữ quốc ngữ. Đó là vì các bản Kiều Nôm cũ thường có nhiều chữ hoặc bị sao chép sai, hoặc bị khắc in sai, cần phải suy nghĩ khảo sát, tốn công mới biết được, mà muốn khảo sát cải chính những chữ sao khắc sai lầm này ra chữ chính xác, thì một là phải thông thạo chữ nôm, hai là phải biết cách viết thảo chữ Hán và chữ nôm, ba là phải nghĩ kỹ lấy ý nghĩa của mấy câu trước sau chữ sai lầm thành vô nghĩa đó. Có đủ ba điều kiện tối cần ấy thì mới có thể đem những chữ sai lầm ấy ra mà phân tích mà suy đoán, tìm lấy mọi lẽ biến chuyển thế nào mà lại có được một chữ vô nghĩa như vậy, rồi lại lấy chữ vô nghĩa này làm hình thức bằng chứng mà đoán ngược lại lấy chữ chính xác nguyên văn. Dưới đây tôi xin kể vài chữ thật hay đã bị người sao chép sai lầm thành ra chữ vô nghĩa, vì hai chữ gần giống nhau:

(1) Chữ “ủm [黯]” lầm ra “điểm [點]” ở câu 367. “Một tường tuyết ủm [黯] sương che” tả cảnh Kim Kiều nhìn ngóng nhau mãi mà chẳng thấy nhau như bị tuyết sương phủ kín. Có bản Kiều in lầm ra là “Một tường tuyết điểm [點] sương che”. Rồi có mấy nhà xuất bản sau thấy chữ “điểm” vô nghĩa, mới đổi bừa ra là “Một tường tuyết chở sương che” hay là “Một tường tuyết đón sương che”. Chữ “đón” cũng gần vô nghĩa như chữ “điểm”, cả chữ “trở” cũng gần vô nghĩa như vậy; người ta chỉ nói “cách trở” hay “ngăn trở” mới có nghĩa, chớ không bao giờ nói riêng lẻ một chữ “trở” bao giờ; và người ta cũng chỉ nói “che chở” chớ không bao giờ nói “trở che” hay “che trở.”

Chữ “điểm[點]” tuy vô nghĩa thật, nhưng còn giữ chút “di tích” nguyên văn cho ta lấy nó làm bằng cứ mà suy đoán ra chữ “ủm [黯]” là nguyên văn, vì [黯] Hán văn là “ảm,” chữ nôm mượn làm “ủm.”

(2) Chữ “lựa [攄]” lầm ra “lừa [驢]” ở câu 3072. “Khuôn thiêng lựa [攄] lọc đã đành có nơi” là lời Thúy Vân khuyên Kiều lại lấy Kim Trọng, ý nói: Trước kia Kiều đã hẹn lấy chàng, rồi gặp gia biến phải bỏ ra đi, nay bỗng lại được gặp nhau, đó thật là ông trời đã lựa chọn kỹ càng hai người lấy nhau thật xứng đáng, nên nay lại cho được kết duyên. Chữ lựa lọc nghĩa là kén lựa rất tinh tế. câu này lời thật hay, ý thật đúng như vậy, thế mà vì lỗi người chép lầm hay người khắc in sai “lựa [攄]” ra “lừa [驢]” rồi lại người phiên âm không biết nghĩa cứ theo chữ lầm mà dịch bừa ra “Khuôn thiêng lừa lọc …” thành vô nghĩa; lại có bản dám đổi hẳn ra là “Khuôn thiêng lừa đảo…” nữa thật đã quá vô nghĩa, lại quá hỗn sược với cả trời nữa!

(3) Chữ “lờ [濾]” chép lầm ra là “làn [瀾]” ở câu: “Lờ [濾] thu thủy, nhợt xuân sơn [曀 春 山] / hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.” Hai câu lục bát này dùng bốn chữ so sánh: lờ, nhợt, ghen, hờn, để tả vẻ đẹp của Kiều: vẻ trong sáng đôi mắt thì làm lờ được màu trong hồ nước lặng mùa thu; vẻ đẹp tươi của đôi lông mày thì làm nhợt được vẻ tươi đẹp mặt cỏ núi mùa xuân; màu thắm hồng đôi má làm cho hoa thua phải ghen, màu xanh rờn lông mày làm cho liễu phải hờn tức. Hai câu lục bát này ý thật hay, vẻ đẹp thanh tú của nàng hơn cả bên cảnh thanh tú của trời đất, lời thật luyện và đăng đối tề chỉnh, liên tiếp với nhau. Hai vế câu sáu chữ này dịch từ câu chữ Hán                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                  [眼 光 秋 氺 眉 淡 春 山 = nhãn quang thu thủy mi đạm xuân sơn = mắt sáng hơn là nước mùa thu, lông mày làm nhợt được màu núi mùa xuân]; câu nguyên văn diễn: lờ thu thủy, nhợt xuân sơn, là rất đúng. Rồi lại thêm một người tái bản sau nữa đổi luôn cả chữ nhợt [曀] ra làm nét [涅] thành ra câu này là “làn thu thủy, nét xuân sơn” nghe êm tai, nên mọi người nghe quen tai, cho là phải, nhưng suy nghĩ cho kỹ thì thật là lệch lạc vô nghĩa, đã không thành câu, lại thiếu ý tả vẻ đẹp, mà lại không lưu loát liền mạch với câu 8 chữ dưới. Còn chứng cớ chữ “lờ” rất đúng là bản Kiều nôm Cụ Nghè Vũ Trinh [武 桢] xuất bản còn để nguyên chữ nhợt [曀] để đối với chữ lờ viết sai ra “làn.”

Đàm Duy Tạo

 

CHƯƠNG 02

MỤC ĐÍCH VÀ CÁCH THỨC  CỦA SỰ ĐÍNH GIẢI

Chính vì 5 lẽ nêu lên trong Chương 01 của cuốn sách này mà Truyện Kiều đã bị người sau hiểu lầm khá nhiều; tôi rất e sợ cho giá trị vô song của viên ngọc văn chương này có thể bị tổn thương nhiều vì những hiểu lầm đó, nhất là đối với tầm mắt tinh tế của các nhà khảo cứu cổ văn ở Âu-Mỹ đang ngưỡng mộ Truyện Kiều và tìm hiểu thêm cái hay, cái đẹp trong đó. Bởi vậy tôi phải đành liều không quản học lực nông cạn, tư tưởng suy quẩn, không sợ tiếng chê cười, mà mạo muội cố công tìm cách xóa bớt những hiểu lầm ấy đi, cho người khảo cứu được bớt mọi điều thắc mắc và việc tìm hiểu được dễ dàng hơn, và cho người thưởng thức truyện Kiều được dễ hiểu thấu hơn ý nghĩa của những câu văn “hàng hàng gấm thêu” này đẹp như thế nào.

Tôi sở dĩ làm tạm được việc này là nhờ còn được một quyển Truyện Thúy Kiều do hai ông Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ xuất bản (trong đó có nêu qua một số chữ và câu di động ở các bản khác) và may tôi còn nhớ được ít điều đã khảo cứu được khi trước, mặc dù ở nơi trơ trụi sách vở này. Công việc đính giải [訂解] như thế nào, nghĩa là việc so sánh các chữ, các câu khác nhau để tìm lấy một chữ hay một câu chính đáng nhất mà cải chính lại chữ hay câu sai lầm như thế nào. Tôi xin kể đại khái như sau đây:

Khi gặp những trường hợp mà mỗi bản in một chữ, hay một câu khác nhau, thì phải suy xét, cân nhắc rõ kỹ mà lựa lấy chữ nào đúng ý đúng nghĩa nhất ở trong câu, hay một câu nào hợp tình hợp ý nhất ở trong đoạn. Sự suy xét này cũng hơi khó vì các bản Kiều đều thường được chữ nọ, sai chữ kia, không chắc cứ nhất định vào một bản nào được. Nhà xuất bản nào mà chẳng khoe rằng bản của mình là theo đúng bản cổ! Thí dụ chữ “ngẫm” hay “ngắm” ở câu 147 “Trông người lai ngẫm đến ta” ở bản ông Kim thì để là “Trông người lại ngắm đến ta.” Tôi cho là “ngẫm” đúng hơn “ngắm” nhiều, vì Kiều thấy tướng Kim Trọng tốt quá – “chẳng sân ngọc bội, cũng phường kim môn”– thì nàng lại nghĩ đến tướng nàng có người thầy tướng đoán xấu quá – “nghìn thu bạc mệnh, một đời tài hoa” – mà nàng lo rằng không biết có kết duyên với chàng được chăng? Chữ “ngẫm” nó khẩn thiết một mạch với chữ “nghĩ” chữ “nhớ” ở hai câu 411 và 413 trên và ý lo âu ở câu 416 dưới: “Một dày một mỏng biết là có nên”. Còn chữ “ngắm” thì đã không ăn nghĩa gì nỗi lo của nàng, lại không hợp với chỗ này, vì nàng có ngắm lại tướng nàng lúc này đâu. Bởi vậy chữ “ngắm” kém phần thâm thúy, không bằng chữ “ngẫm.”

Cả cách lựa chọn các câu, tôi cũng cố ý cân nhắc cẩn thận như vậy để kén lấy câu thật đúng lý đúng chỗ như vậy. Trường hợp một chữ nôm sao chép lầm hay khắc in sai thành ra vô nghĩa, mà người sau suy nhận không ra, bèn đổi ra chữ khác không sát với nghĩa trong câu, hoặc sửa đổi bừa mấy chữ khác, thành câu đó không ăn nghĩa với đoạn đó. Gặp những trường hợp này, tôi phải nhận cho rõ ý nghĩa bao quát của cả đoạn, rồi nhận xét xem những chữ nào đáng chú ý nhất trong các câu dị đồng đó là đem ra phân tích suy nghĩ lấy mọi hình thức biến chuyển từ sự sai nọ đến sự sai kia, mà tìm thấy chữ ý hay nghĩa đúng với cả câu lẫn lộn đó. Thí dụ như chữ “đọt [稡]” trong câu 582 thợ in khắc lầm ra “giọt [湥]”: “Rã rời đọt liễu, tan tành cội mai”; và chữ “lựa [攄]” lầm ra “lừa [驢]” trong câu 3072: “Khuôn thiêng lựa lọc đã đành có nơi”.

Vì chữ nôm có nhiều chữ đọc được thành 2, 3 tiếng Việt, nếu người phiên dịch Truyện Kiều nôm ra quốc ngữ mà không để ý suy nghĩ cẩn thận thì dịch dễ sai lầm. Bởi vậy các bản Truyện Kiều quốc ngữ thường lắm chữ sai. Thí dụ: chữ [脱]có thể đọc là “thoát”, là “thoắt”, là “thoạt”. Trong câu “Thoắt [脱] mua về, thoắt [脱] bán đi” ông Trần Trọng Kim dịch [脱] là “thoắt” thì thật đúng; nhưng trong câu “Thoạt [脱] trông nhờn nhợt màu da” và trong câu “Thoạt [脱] trông nàng đã biết tình” mà ông dịch là: “Thoắt [脱] trông nhờn nhợt màu da” và “Thoắt [脱] trông nàng đã biết tình” thì thật là lầm lẫn.

Có nhiều chữ nôm do tiếng chữ Hán chuyển sang tiếng Việt, tuy đọc hơi khác nhau, thường người ta vẫn lẫn lộn. Thí dụ như chữ [膠] giao là chất dính, ta nói keo sơn gắn bó để chỉ đôi bạn thâm giao, tức là câu chữ Hán nói [膠 漆 之 固 = giao tất chi cố = gắn chữ bền như keo sơn]. Ta nói “keo loan” tức là [鵉 膠 = loan giao = keo nấu bằng xương chim phượng]. Chỉ khác là: khi nói tiếng Hán chữ giao ở dưới: Loan giao, nhưng khi nói tiếng Việt thì chữ keo ở trên: Keo loan. Vậy câu “Keo loan chắp mối tơ thừa cậy em” được cuốn truyện Thúy Kiều dịch “Giao loan chắp mối tơ thừa cậy em” là sai ngữ pháp.

Chữ [惜] tích Hán chuyển ra tiếng Việt là “tiếc” trang 90; chữ này có bản Kiều để là: “Nào người tích lục tham hồng là ai.” Lại có bản đề là: “Nào người tiếc lục tham hồng là ai”. Đành rằng đều không sai cả, nhưng tôi thiết tưởng để chữ “tích lục” hơn là để chữ “tiếc lục” vì hai chữ “tích lục” đều thuần túy là chữ Hán cả, nghe thuận tai hơn.

Lại như chữ “trầm” tức là do chữ “[沈] trầm Hán” chuyển ra, nhưng trong câu 2963 “Nàng đà gieo ngọc chìm châu” mà trong cuốn truyện Thúy Kiều để là “Nàng đà gieo ngọc trầm châu” thì đã sai văn pháp, chữ trầm châu là hai chữ Hán, đi với chữ gieo ngọc là hai chữ Việt đã không luyện, mà nghĩa lại mập mờ để lẫn với hai chữ “[沈 舟]” trầm châu là đánh chìm thuyền xuống mà chết.

Nói tóm lại: Truyện Kiều nghĩa lý rộng sâu, lời văn ngắn gọn đã rất khó hiểu rõ, khó giảng giải, lại các bản nôm cũ thì người sao chép lầm dần, thợ khắc in sai vụng, các bản quốc ngữ thì người dịch không chịu khó suy nghĩ đích đáng, phiên âm bừa bãi để xuất bản và phổ biến. Thế là Truyện Kiều đã giảm mất đôi phần hay đẹp, nhât là đối với các nhà khảo cứu ngoại quốc. Bởi vậy tôi phải ngậm lời biểu lộ, trước khi không quản tài hèn ra công giảo đính và chú giải. Dưới đây tôi xin trình bày những cách thức chú giải để giúp độc giả được dễ hiểu và dễ nhớ Truyện Kiều hơn:

Tổng số 3254 câu thơ trong Truyện Kiều được chia làm 25 chương và chú giải riêng chương nào ngay dưới chương ấy để dễ tra khảo. Mỗi chương có 6 phần sau đây:

1 – Phần chính văn.

2 – Phần đính chính và xác định.

3 – Phần chú giải và dẫn điển.

4 – Phần diễn giải ra văn xuôi.

5 – Phần nêu ra những chữ hay câu có ý móc nối hay có ý thở than hoặc mỉa mai đời.

6 – Đôi khi có thêm phần mấy lời nhận xét phanh phui thâm ý tác giả ký thác tâm tình.

Phần chính văn

Phần chính văn có ghi rõ số từng hai câu lục bát và có đánh dấu những câu có chữ đính chính và những chữ sẽ chú giải ở ngay dưới phần chính văn. Phần chính văn viết rõ ràng cẩn thận vào trong khung kẻ riêng để dễ tìm dễ đọc. Trên mỗi phần chính văn, tôi có đề thêm 3 câu 4 chữ đối, tóm tắt đại khái sự tích trong đoạn để độc giả dễ nhận và dễ tìm dễ nhớ.

Phần đính chính và xác định

Trong phần này tôi sẽ nêu rõ những chữ sai theo hình chữ nôm để làm bằng cứ mà suy xét mọi lẽ biến chuyển sai dần ra chữ vô nghĩa, rồi suy xét ngược lại thấy chữ hình dáng tương tự mà nghĩa hay ý hợp để đính chính lại, chớ không khi nào dám tự ý đột ngột đổi hẳn ra chữ khác, trừ khi gặp những chữ tôi đã đích xác trông thấy trong một vài bản Kiều nôm cũ xưa. Thí dụ như câu 367 “Một tường tuyết ủm [黯] sương che”: Tôi theo chữ điểm [點] suy ra được chữ ủm [黯], chứ tôi không đột ngột sửa đổi bừa bãi ra chữ khác như: “tuyết trở sương che” hay “tuyết đón sương che” như các bản khác. Lại như câu 1181, bản Kiều nôm của ông Vũ Trinh thì in là: “Phỉnh người giẩy xuống giếng thơi”; bản Kiều ông Kim thì in là: “Đem người giẩy xuống giếng thơi”; lại có bản in là: “Lừa người giẩy xuống giếng khơi”. Tôi nghĩ chữ phỉnh [𠶏] nôm (gồm có chữ khẩu [] miệng bên cạnh chữ bỉnh [秉] tán tỉnh) là đúng lắm, vì sát nghĩa với câu dưới: “Nói rồi, rồi lại ăn lời được ngay” và ở trên thì sát nghĩa với câu Sở Khanh phỉnh tán lấy lòng Kiều: “Giá đành dưới nguyệt trong mây / hoa sao hoa khéo đọa đầy mấy hoa”. Nhưng có lẽ vì người phiên âm đầu tiên không hiểu ý nghĩa chữ phỉnh là hay là đúng, mà lại cũng không biết tiếng phỉnh nên mới dịch bừa là “đem”, là “lừa” cho xong lần. Ai cũng thấy chữ “đem” thì thật không sát nghĩa chút nào với câu dưới “Nói rồi…”, mà chữ “lừa” cũng chẳng sát nghĩa chút nào với lời Sở Khanh phỉnh phờ Kiều ở trên. Bởi vậy tôi mới xác định chữ “phỉnh” là đích đáng. Thêm một thí dụ nữa về hiểu lầm là câu 250, chỗ tả Kim Trọng mơ tưởng Kiều. Trong khi bản truyện Thúy Kiều của ông Kim Kỷ viết “Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao” rất vô nghĩa, các bản viết “Bóng hồng liệu nẻo đi về chiêm bao” thì rất đúng và rất hay: Trên thì liền nghĩa với câu “Mây tần khóa kín song the” (ý nói chàng mê tưởng Kiều quá mà chàng nghĩ rằng có lẽ tối nay nàng cũng nhớ tưởng mình quá mà đành ngủ đi để may ra hồn mộng được đi lại với chàng) dưới thì liền ý với câu “Mành tương phân phất gió đàn” ý nói: (chàng tưởng thế nào nàng cũng mơ đến chàng, nên khi chàng thấy gió thổi qua bức mành ống tre kêu như gẩy đàn, chàng cho là hồn nàng đến thật, nên chàng như ngửi thấy mùi thơm của nàng, và nước trà chàng uống ngon hơn, như hồn nàng mời lại chàng uống). Ý câu Truyện Kiều này hay như thế, mà lại viết lầm ra dở như thế thật đáng tiếc!

Phần chú giải và dẫn điển

Chú giải Truyện Kiều là một sự khó khăn vô cùng, vì tác giả thu lượm điển cố rất rộng ở các sách kinh, sử, văn chương nho, lại cả ở những phong dao, tục ngữ và sự tích Việt ta nữa. Tôi thấy có lẽ chưa Truyện Kiều nào đã từng chú giải được đầy đủ và không sai lầm, mặc dù các nhà chú giải là cử nhân, tiến sĩ thâm nho. Còn các nhà sản xuất bản truyện Kiều gần đây thì đều sao chép lại những lời chú giải ở các bản Truyện Kiều cũ mà thêm bớt sửa chữa ít nhiều vậy thôi.Trong lúc tuổi già trí quẫn, lại tay trắng không chút tài liệu nào, ngoài quyển truyện Thúy Kiều, ở nơi đất khách này tôi chỉ có thể một phần gần như chép lại những câu chú giải ở trong cuốn truyện Thúy Kiều mà tôi sữa chữa lại những chỗ sai lầm, một phần tôi  thêm vào hoặc những điều tôi đã khảo cứu được hay nhớ được ở các bản Kiều cũ, hoặc những điển cố ở phong dao tục ngữ ta. Tôi rất chú trọng đến việc giải thích những tiếng cổ của ta và những tiếng ta không hay nói đến nên nhiều người Việt ta không hiểu nghĩa, chẳng hạn như những tiếng: thửa = của ai, thốt = nói, rén chường = rón rén trình thưa, dắng = tiếng ho hắng ra hiệu. Tôi biết tuy tôi đã cố hết sức làm việc này nhưng thật chẳng thấm thía vào đâu vì tài cùng sức kiệt.

Phần diễn giải ra văn xuôi

Tôi thiết tưởng việc diễn lại Truyện Kiều ra lời văn xuôi để giúp độc giả hiểu thêm ý nghĩa từng câu Truyện Kiều là một công cuộc rất cần. Thế mà sao tôi chưa thấy ai để ý đến sự làm việc này? Tôi e rằng nếu giờ đây tôi giấu dốt không ra công khởi xướng phác diễn ra lần đầu thì sau này không ai làm việc này nữa. Vậy tôi mong rằng những bậc cao minh có tâm tới nền văn chương Việt phủ chính dần dần những phần tôi diễn dịch này cho hoàn hảo mãi lên, trước là để giúp người mình dễ thưởng thức Truyện Kiều hơn, sau là để giúp người ngoại quốc khảo cứu Truyện Kiều hiểu thấu rõ ràng hơn. Tôi biết rằng những lời tôi diễn giải từng câu trong Truyện Kiều ra văn xuôi này không được gọn gàng chải chuốt lắm. Đó là vì: phần thì phải vừa diễn vừa như giảng giải nghĩa từng chữ trong câu, phần lại phải thêm những liên từ, giới từ và những chi tiết lặt vặt mà tác giả phải gọt bỏ trong câu văn vần. Bắt buộc phải thêm những chữ đó vào thì mới thật rõ nghĩa, và các câu diễn giải mới lưu thoát liền nhau. Tôi đánh dấu số từng 2 câu ở phần chính văn để độc giả dễ đối chiếu. Thường thì tôi diễn giải 2 câu lục bát liền nhau, nhưng cũng có khi diễn 3 hoặc 4 câu liền nhau.

Những câu hay chữ có ý móc nối hay thở than mỉa mai

Trong Truyện Kiều, những câu hô ứng móc nối đoạn nọ với đoạn kia thường tả hai tình cảm may rủi trái ngược nhau để làm nổi bật lên tình cảnh đoạn sau. Điều này khiến độc giả phải ngạc nhiên thở than cảm động về sự thay đổi bất kì. Như câu tả lòng Kiều trước khi đi hội Đạp thanh thì thật bình tĩnh thản nhiên vô tình: “Êm đềm trướng rủ màn che / tường đông ong bướm đi về mặc ai” có sự hô ứng móc nối với câu “Bóng tà như giục cơm buồn / khách đà lên ngựa người còn nghé theo” tả lòng Kiều ngẩn ngơ vì tình sau khi đi hội Đạp thanh. Lại như câu “Sư càng nể mặt, nàng càng vững chân.” Đọc đến câu này, ta những tưởng Kiều được yên thân ở Chiêu Ẩn Am mãi mãi với Giác Duyên. Nhưng đọc sang đoạn sau ta lại thấy ngay những câu tả tình thế trái ngược ngay lại Giác Duyên thì ta suy ra rằng nàng chẳng được yên thân nữa: “Giác Duyên nghe nói rụng rời … Lánh xa trước liệu tìm đường” và gửi nàng đi sang nhà họ Bạc. Những câu chuyển tiếp đoạn trước xuống đoạn sau, tác giả đặt rất nhiều tài tình, thường chỉ có 2 câu lục bát, mà trên thì kết liễu rất gọn việc đoạn trên, dưới thì mở màn và báo điềm sự sẽ xảy ra ở đoạn dưới, mà thường lại còn tả đúng mùa nào cảnh ấy, thí dụ như 2 câu: “Sen tàn cúc lại nở hoa / sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân” tả Thúc Sinh tưởng Kiều chết thật thương nhớ suốt một năm, mới trở về Vô Tích ở với Hoạn Thư. Chỉ 14 chữ mà khiến ta thấy đầy đủ mọi chi tiết, với sự chuyển tiếp như sau: Hai chữ “sen tàn” đã ý nói cuộc tình duyên đằm thắm như hoa sen với Kiều thế là tàn tạ kết liễu, lại ứng với câu “càng lồng màu sen” ở câu tả lúc mới lấy được nàng. Chữ “cúc” tượng trưng cuộc tình duyên nhạt nhẽo nhưng đứng đắn như hoa cúc với Hoạn Thư. Nhóm chữ “lại nở hoa” báo điềm sẽ lại đoàn tụ hòa hợp với Hoạn Thư. Nhóm chữ “sầu dài ngày ngắn” ý nói chàng sầu thương Kiều quá, thoáng cái đã qua một năm. Chữ “sen” chỉ mùa hè, chữ “cúc” chỉ mùa thu, cộng thêm chữ “đông” và chữ “xuân” thì 4 mùa đó chỉ rõ một năm. Có 14 chữ mà tả đầy đủ rõ ràng bấy nhiêu chi tiết bằng lời văn hay đẹp chải chuốt như vậy, nếu không phải là bậc thiên tài siêu việt về văn chương thì đặt sao nổi! Trong truyện Kiều tác giả thường khéo dùng những lời rất sâu sắc như câu “kiếm lời mà ăn,” ở câu “Bảo rằng đi dạo lấy người / đem về rước khách kiếm lời mà ăn,” để mỉa mai những hạng mụ dầu, ma cô ăn ngon cái lời bẩn thỉu đó. Và như những câu: “cũng trong nha dịch lại là từ tâm,” để mỉa mai bọn nha dịch, trừ Chung lão, thì đều tham ác cả. Lại như chữ “Dạy rằng hương lửa ba sinh / dây loan xin nối cầm lành cho ai” để mỉa mai những hạng Hồ Tôn Hiến cậy oai quyền to mà làm những việc xàm bậy, quên cả danh diện. Tưởng là quan lớn “dạy” gì, nào ngờ quan lớn xin làm chồng kế mụ vợ tướng giặc! Trong Truyện Kiều có nhiều chữ nhiều câu tác giả như có ý đặt ra để thở than cho mọi nỗi hư hỏng, mọi cảnh khốn cực cơ đời, đại khái như những câu: (a) “Điếc tai lân tuất phũ tay tồi tàn” than thở cho những kẻ tham ác bất nhân, mất hết lương tâm; (b) “Tờ hoa đã ký, cân vàng mới trao” mỉa mai thói chắc lép trong nghề buôn bán; (c) “Lễ tân đã đặt, tụng kỳ cũng xong” mỉa mai sự tham nhũng trong quan trường; và (d) “Vương sư ròm đã tỏ tường thật hư” mỉa mai những cuộc hành binh giả đạo đức, ngoài thì đường hoàng danh nghĩa vương giả, mà trong chỉ lén lút như trộm cắp rình mò.

Thâm ý tác giả ký thác tâm tình

Thí dụ như hai câu thở than thảm thê đau đớn dưới đây:

1) Trót lòng trinh bạch từ sau xin chừa – Ôi trinh bạch là cái đức tính cao quý nhất của đàn bà con gái xưa nay, thế mà vì tình thế bị võ lực uy hiếp tàn tệ quá mà phải kêu van trót dại mà đã giữ thân trinh bạch, từ nay xin chừa không dám trinh bạch nữa! Ai đọc đến câu nàng Kiều van lạy Tú Bà này mà chẳng thương khóc cho nàng?

2) Thương thay cũng một kiếp người, hại thay mang lấy sắc tài làm chi? – Ôi “sắc tài” là hai cái thứ của trời ban rất quý cho người đời. Thế mà ở trong tình thế bị “mệnh ghét” này, tác giả phải thở than cho Thúy Kiều và chính cho cả bao người “tài phong mệnh sắc” như tác giả nữa là câu hỏi tại sao lại mang mãi “sắc tài” để cho hại thân đời như thế? 

Những chữ thở than cay đắng cho mỗi đời như vậy, chẳng mấy đoạn trong truyện Kiều là không có ít nhiều. Vậy xin nêu ra để chứng tỏ Truyện Kiều đúng là một tập Đoạn Trường Tân Thanh.

 

CHƯƠNG 03

 

CUỘC ĐỜI TÁC GIẢ TRUYỆN KIỀU

 

Tên tuổi quê quán

Tác giả Truyện Kiều họ Nguyễn [阮] tên húy là Du [攸], tên tự là Tố Như [素 如], tên hiệu là Thanh Hiên [清 軒], và biệt hiệu là Hồng Sơn Liệp Hộ [鴻 山 獵 户] (Phường Săn Núi Hồng). Quê ông ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Vì quê ông ở làng Tiên Điền nên mọi người cũng thường gọi ông là Tiên Điền Tiên Sinh để tỏ lòng kính trọng. Quê ngoại ông Du ở làng Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh [1]. Sinh mẫu ông, bà Trần Thị Thấn [陳 氏 殯], là con gái một họ thế phiệt ở làng Ông Mặc, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Họ Trần nổi tiếng là một họ văn học trung nghĩa, trai gái đều rất đẹp, con gái thường được tuyển vào làm cung phi vương phủ. Bà Thấn [2] lấy lẽ ông Tham tụng (ngang hàng Thủ tướng đời nay) Nguyễn Nghiễm. Ông Du sinh năm Ất Dậu (1766) tức là năm thứ 26 niên hiệu Cảnh Hưng đời vua Hiển Tông nhà Hậu Lê và mất năm Canh Thìn (1820) tức là năm đầu niên hiệu Minh Mệnh triều Nguyễn, thọ 54 tuổi.

Gia thế

Ông Du là dòng dõi một nhà trâm anh, văn chương nổi tiếng xưa nay trong nước. Cụ thủy tổ phát tích đầu tiên khoa bảng lẫy lừng họ Nguyễn Tiên Điền là Trạng nguyên Nguyễn Thuyến [阮 倩] người làng Canh Hoạch [3] xứ Bắc. Ông Thuyến đỗ Trạng nguyên hồi đầu nhà Mạc đồng thời với ông Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông kém ông Khiêm mấy tuổi, nhưng lại đỗ trước ông Khiêm một khoa. Hai ông rất thân nhau và đều có ý ân hận là không may sinh vào thời ngụy Mạc. Khi nhà Lê Trung Hưng ở Thanh Hóa, hai ông tuy đã đều làm quan to với tước Hầu triều Mạc, nhưng đều muốn bỏ triều ngụy Mạc để vào Thanh Hóa phục vụ triều Lê chính thống. Trong một bài thơ ông Khiêm họa lại thơ ông Thuyến, tỏ ý cho ông Thuyến biết: Thế nào nhà Lê cũng lên, nhà Mạc cũng xuống; việc ông định làm là việc rất phải và nên làm ngay kẻo lỡ; tôi cũng muốn làm mà chưa được [4]. Ông Thuyến được lời đồng ý của ông Khiêm, liền đem gia đình vào Trung quy thuận; họ Nguyễn Tiên Điền bắt đầu vào miền Trung từ đó. Ông Thuyến đi rồi, ông Khiêm bị vua Mạc giữ làm Quân sư trong cuộc Tây chinh thành ra không đi được. Ông Thuyến vào Trung, được Lê triều rất trọng dụng, nhưng đến đời cháu không biết vì việc gì mà phải tru di, may được một người trốn thoát lẩn ra bắc với Mạc triều. Khi Mạc bại vong, gia đình họ Nguyễn lại tránh vào Trung và lập nghiệp ở làng Tiên Điền và truyền kế học hành đỗ đạt được sáu, bảy đời. Đời anh em ông Huệ [僡], ông Nghiễm [嚴] là hồi họ Nguyễn Tiên Điền thịnh đạt nhất. Ông Huệ đã đỗ sĩ vọng lại đỗ tiến sĩ khoa Quý Sửu (1733), nhưng vinh quy rồi mất ngay; vua rất thương tiếc và truy phong Quốc thần. Ông Nghiễm năm 21 tuổi đỗ Hoàng giáp khoa Tân Hợi (1731) làm quan đến chức Tham tụng, Thượng thư đại tư đồ, được phong tước Xuân quận công khi về trí sĩ. Nhưng sau đó lại khởi phục làm Đốc tướng trong 10 năm. Ông làm quan trải 3 đời vua Thuần Tông, Ý Tông, Hiển Tông, tại chức gần 50 năm. Con trai cả ông là ông Nguyễn Khản [侃] cũng đỗ tiến sĩ và làm đến Tham tụng, Thượng thư. Con thứ hai là ông Nguyễn Điều [條] thi hội đỗ tam trường, rồi đổi sang nghề võ, làm Trấn thủ ở Hưng hóa, được phong tước Điều nhạc hầu. Con thứ ba là Nguyễn Dao [瑤] đỗ cử nhân, làm Hồng lô tự thừa. Ông Du tác giả Truyện Kiều là con ông Nghiễm và bà trắc thất Trần Thị Thấn. Họ có 4 con trai là Trụ [宙], Nễ [你], Du [攸], Ức [億]. Ông Trụ và ông Nễ đều đỗ cử nhân. Xét trong một họ mà đồng thời có nhiều nhân vật tài cao chức trọng chung vui chung buồn với nước như thế, thật là ít có họ nào sánh kịp vậy.

Niềm riêng tác giả ẩn trong Truyện Kiều

Mấy câu tả tài hoa nhân phẩm Kim Trọng ở trong Truyện Kiều thì thật đúng là tác giả đã tự tả tài phẩm đáng quý của mình.

Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh

Nên phú hậu, bực tài danh

Văn chương nếp đất, thông minh tính trời

Phong tư tài mạo tột vời

Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa

Tác giả đã là dòng dõi trâm anh khoa bảng, sẵn văn chương nếp đất, sẵn thông minh tính trời, lại gặp hồi gia đình thịnh đạt – cha, anh, chú, bác đều thanh giá lừng lẫy, văn đã không ai bằng, võ cũng chẳng kém ai. Tác giả thật đã dụng tâm khéo tả đúng với gia thế, và tài hoa cùng tính tình của mình.  Các thi sĩ nổi tiếng xưa nay phải có thiên tài đặc biệt đã vậy, nhưng lại phải được tình cảm éo le, bước đường chật vật nó điêu luyện, nó kích thích thì mới nẩy ra được văn phẩm tuyệt tác. Ở Tàu xưa thì bài “Quy khứ lai từ” của ông Đào Tiềm, “Đằng vương các tự” của ông Vương Bột, bài “Thục đạo nan” của ông Lý Bạch, 8 bài thơ “Thu hứng” của ông Đỗ Phủ, bài “Tỳ bà hành” của ông Bạch Cư Dị, 2 bài “Xích Bích phú” của ông Tô Đông Pha đều là những tuyệt tác.

Ở nước Việt ta thì có những tuyệt tác như bài “Tự tình khúc” của ông Cao Bá Nhạ, các bài hát nói  của ông Nguyễn Công Trứ và ông Cao Bá Quát, lại còn nhiều bài thơ chữ Hán vô giá của các trung nghĩa thế cùng than thở, như bài “Thuật hoài” của ông Đặng Dung. Những bài thơ văn tuyệt phẩm này đều là sản phẩm trong bước gian nan của các thi sĩ. Tác giả Nguyễn Du cũng vậy, có gặp cảnh long đong, nước phá nhà tan nó điêu luyện kích thích thì mới viết được quyển Đoạn Trường Tân Thanh – một cuốn văn thơ tuyệt tác, hiện nay lưu hành khắp thế gian, văn sĩ bốn phương đều phải phục là hay vào bậc nhất trong kho văn chương thế giới. 

Tài tình và mệnh vận

Tác giả lúc nhỏ thông minh dĩnh ngộ, lớn lên văn tài siêu việt khác người, tính tình hào hoa khoáng đạt. Nói đến “cậu Bảy” (vì ông Du con thứ 7 ông Nghiễm) thì ai cũng phải yêu quý, chịu là bậc phong lưu công tử đệ nhất ở kinh đô Thăng Long. Tiếng phong nhã của cậu Bảy này còn truyền tụng đến mấy mươi năm về sau. Trong thời kỳ trẻ trung vui tươi đầy hy vọng tốt đẹp này, được vui hãy cứ vui kẻo uổng tuổi thanh xuân, cậu Bảy đâu đã cần gì vội nghĩ đến cuộc tranh khôi đoạt giáp, vì sẵn tài hoa, sẵn nếp đất cậu coi như nắm vững trong tay rồi, tội gì sớm buộc vào vòng công danh vội. Nhưng tài mệnh ghét nhau. Năm 19 tuổi, ông vừa bước chân vào đường khoa cử tiến thân, đỗ tam trường khoa Quý Mão (1783) thì ngay năm sau Giáp Thìn (1784) bọn kiêu binh tam phủ vào phá nhà ông Tham tụng Nguyển Khản là nhà tác giả. Ông Khản chạy thoát rồi mang cả gia đình họ Nguyễn lên Sơn Tây với ông Trấn thủ Nguyễn Điều. Sau khi hai ông Khản, Điều định họp quân các trấn lại đón chúa ra, để trừ binh kiêu binh tam phủ, nhưng cơ mưu tiết lộ, việc cứu chúa dẹp loạn không xong. Thế là gia đình tác giả đương thịnh hóa tan, bỏ Thăng Long về ẩn quê miền Trung.

Tác giả thật đã dụng tâm ngầm tả việc Kiêu binh phá nhà họ Nguyễn làm tác giả vỡ mộng đẹp công danh của mình – vừa mới bắt đầu năm trước – bằng đoạn trong Truyện Kiều tả lũ sai nha đầu trâu mặt ngựa, nách thước tay dao vào phá nhà họ Vương, làm cho Thúy Kiều tan duyên đẹp với Kim Trọng vừa mới đính kết đêm qua.

Còn thời kỳ tuổi trẻ tươi vui, và cái cuộc vỡ giấc mộng vàng thì tác giả ngụ ý nói bóng ở trong mấy câu tả tiếng đàn Kiều gảy:

Khúc đâu đầm ấm dương hòa

Ấy là Hồ Điệp hay là Trang Sinh ?

Khúc đâu êm ái xuân tình

Ấy hồn Thục Đế hay hình Đỗ Quyên ?

Qua 4 câu thơ trên, tác giả ví hồi tuổi trẻ của mình thật đầm ấm thảnh thơi như lúc ông Trang Sinh mơ thành bướm bay lượn trên hoa không chút lo âu, và thật êm ái xuân tình như lòng ông Thục Đế trong hồi làm vua lúc thái bình, tha hồ hưởng lạc thú. Còn cuộc vỡ mộng đẹp thì tác giả ví mình như ông Trang Sinh lúc tỉnh dậy ngơ ngẩn thấy mình vẫn là kẻ trăm lo nghìn chán về cuộc đời, chẳng khác gì Thục Đế thác sinh thành Đỗ Quyên thảm sầu nhớ nước, suốt đêm ngày kêu “quốc quốc.”

Khí anh hùng hồi Tây Sơn

Trong hồi nhà Tây Sơn nổi lên, Trịnh bại Lê vong, ông Du đã mấy phen dấy binh lo toan sự khôi phục nhưng đều không thành công, bèn bỏ về quê, ẩn nơi rừng núi, việc đời gác bỏ ngoài tai, lấy săn bắn làm vui, tự hiệu là Hồng Sơn Liệp Hộ. Trong dẫy 99 ngọn núi Hồng Lĩnh, không chỗ nào ông không để chân đến. Trong thời Tây Sơn, cũng có vài cựu thần nhà Lê nổi lên để lo sự khôi phục Lê triều, nhưng khi thất bại đều phải lẩn quất âm thầm ở nơi làng quê sống đời nghèo khổ, như ông nghè Trần Danh Án [陳 名 案] ở Bắc Ninh, trốn tránh mãi ở vùng Từ Sơn, mặt mày gầy xọm. Chỉ có riêng ông Nguyễn Du là đi săn bắn, lẩn quất nhưng vẫn có màu phong lưu công tử.

Lòng trung nghĩa với nhà Lê hồi Nguyễn triều

Hồng Sơn Liệp Hộ đã quyết định gác bỏ công danh, vui cảnh núi rừng để giữ trọn niềm trung nghĩa với nhà Lê. Nhưng khi vua Gia Long nhà Nguyễn diệt được Tây Sơn, thống nhất được sơn hà, và chiêu dụ những trung thần nghĩa sĩ của nhà Lê, ông Du không thể từ chối, nên đành phải ra làm quan với Nguyễn triều cho gia đình được an toàn. Nỗi khổ tâm ông phải ra làm quan với Nguyễn triều, ông đã ngầm tỏ ở trong lời Kiều dở van dở trách Kim Trọng khi tái ngộ :

Chữ trinh còn một chút này,

Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan !

Cái sự ông bất đắc dĩ phải nén lòng trung với nhà Lê xuống mà làm tôi cho nhà Nguyễn này, đã khiến ông mất lòng thành với nhà Nguyễn. Vì thế cho nên đã được trọng dụng mà ông chỉ làm trọn chức phận, không nói năng điều gì ngoài trách nhiệm. Thái độ ấy rõ rệt đến nỗi vua Gia Long đã có lần quở ông “Triều đình dùng tài, cứ ai hiền tài thì dùng, không phân biệt nam hay bắc. Ngươi đã lên đến hàng á khanh thì hễ biết việc gì hay thì phải nói lên chứ, nhưng sao lại cứ rụt rè, e sợ, chỉ vâng vâng dạ dạ cho xong lần như thế ?” 

Cứ theo lẽ nông nổi bên ngoài mà nói, thì lời vua quở ông là đích đáng. Nhưng nếu chiếu theo cái khổ tâm “Từ Thứ quy Tào” của ông mà xét cho sâu sắc đúng tình lý, thì lời quở này thật oan ức, chẳng thấu tình cho ông chút nào. Vì cái thâm tâm “cầm vững chút chữ trung còn lại” với Lê triều cũ, lúc này ông đâu dám tỏ chút nào cho ai biết, nên ông đành ngậm oan vâng lời vua quở mà mang mối uất hận suốt đời. Ông chỉ dám ngầm tỏ cho thiên hạ đời sau biết trong hai câu ông tả tiếng đàn Kiều gảy khi gặp lại Kim Trọng :

Trong sao châu rỏ doành quyên

Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông!

Ta có thể hiểu ý nghĩa hai câu thơ trên như sau:

[Người ngoài vô tình thì nghe tiếng đàn trong trẻo tròn trĩnh như hạt ngọc rơi xuống mặt nước khu bể trong veo dưới ánh trăng sáng đẹp, nhưng có biết đâu dưới đáy bể  bọn nhân ngư vẫn khóc, lệ châu rơi lã chã ] [Người ngoài vô tình thì nghe tiếng đàn có giọng tươi vui như bãi cỏ xuân mặt núi Lam Điền xanh rờn dưới ánh nắng ấm áp, nhưng có biết đâu dưới mặt đất núi có những hạt ngọc non mới đông bị khí nóng nắng ấm làn tan thành khói bốc lên].

Hai câu thơ tả tiếng đàn đó là phương tiện tác giả Truyện Kiều dùng để cho người đời hiểu là chớ thấy ông được Nguyễn triều trọng dụng mà lầm tưởng ông được vinh hiển tươi vui – thực ra, ông chỉ gượng vẻ tươi vui ở bề ngoài, nhưng trong bụng vẫn tủi cực khóc thầm.

Hoạn lộ miễn cưỡng của tác giả Truyện Kiều

Năm 1802 (Gia Long thứ nhất) ông được bổ làm Tri huyện huyện Phù Dực thuộc tỉnh Thái Bình. Ít lâu sau thăng làm Tri phủ phủ Thường Tín thuộc tỉnh Hà Đông rồi ông cáo bệnh xin về hưu. Năm 1806 (Gia Long thứ năm) được triệu về Kinh lãnh chức Đông các học sĩ [東 閣 學 士] (lúc ông 42 tuổi). Năm 1809 (Gia Long thứ tám) được bổ ra làm Cai bạ [該 簿] tỉnh Quảng Bình (lúc ông 45 tuổi). Năm 1813 (Gia Long thứ mười hai) được thăng lên chức Cần chánh điện học sĩ [勤 正 殿 學 士] và sung chức chánh sứ sang cống Trung Hoa (lúc ông 49 tuổi). Đi sứ về, ông được thăng Lễ bộ hữu tham tri [礼 部 右 參 知] và được nghỉ (không biết bao lâu). Năm 1820 (Minh Mệnh thứ nhất) lại có chỉ sai ông đi sứ sang Tàu, nhưng chưa kịp đi thì ông bị bênh mất, thọ 54 tuổi.

CHÚ THÍCH

[1] Làng Hoa Thiều nguyên trước là nửa phía nam làng Ông Mặc (tên nôm là làng Me) thuộc tổng Nghĩa Lập, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Cuối đời Hậu Lê mới chia làng Ông Mặc ra làm hai, thành làng Hương Mặc và làng Hoa Thiều. Làng Hương Mặc vẫn gọi là làng Me, làng Hoa Thiều tên nôm gọi là làng Mấc, tức là tiếng Mặc gọi trạnh ra. Bởi nguyên là một phần làng Ông Mặc, tổ tiên họ Trần là tiến sĩ Trần Ngạn Húc [陳 岸 旭] và tiến sĩ Trần Phi Nhỡn [陳 丕 眼] đều là người làng Ông Mặc. Chính tôi (Đàm Duy Tạo, người làng Me) biết họ Trần làng Mấc này rõ lắm. Con trai, con gái họ này hiện nay vẫn còn nhiều người rất đẹp.

[2] Chữ Thấn [殯], tên sinh mẫu ông Nguyễn Du, thật đáng ngờ là chữ Tần [嬪] lầm ra. Chữ Tần nghĩa là một bực vợ lẽ các vị vua chúa, nghĩa rất hay; còn chữ Thấn nghĩa rất dở, là cái áo quan có người chết chưa chôn. Tôi tin con gái nhà sang trọng không ai đặt tên quái gở như thế.

[3] Canh Hoạch xứ Bắc là một làng có rất nhiều người thi đỗ tiến sĩ.

[4] Hồi còn ở quê nhà, tôi có chép được một tập 100 bài thơ chữ Hán của ông Trạng Trình, trong đó có bài họa thơ ông Thuyến này. Tiếc thay tôi quên hết nguyên văn, chỉ nhớ đại ý nói: “Đêm sắp hết, mặt trăng sắp lặn, đàn chim ngủ ở cành cũ đã dậy gọi chào vầng đông. Ông muốn đón cảnh bình minh thì dậy sớm kẻo muộn; thế là tôi lại thua ông một bước dài nữa.”

 

CHƯƠNG 04

                                                                                                            

CÂU 1 ĐẾN CÂU 6

“Mệnh ghét trai tài, trời ghen gái sắc”

1. Trăm năm trong cõi người ta, [1]

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. [2]

3. Trải qua một cuộc bể dâu, [3]

Những điều trông thấy đà đau đớn lòng.

5. Lạ gì bỉ sắc tư phong, [4]

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen. [5]

Đính chính và xác định  

Câu 4: Chữ “đà” ở câu này, nhiều bản in là “mà”;chỉ có vài bản in là “đà.” Xét ra chữ “đà” có lẽ đúng hơn, vì nó tiếp nghĩa với chữ “một cuộc” ở câu trên, làm cho lời than đau đớn thêm, thấm thía sâu rộng; mới trải có một cuộc bể dâu, mà những điều trông thấy “đà” làm cho tác giả đau đớn lòng, thì từ xưa đến nay, lại từ nay về sau, còn có bao nhiêu cuộc bể dâu nữa? Nêu để chữ “mà” thì hai câu lục bát này không khẩn thiết với nhau.

Chú giải và dẫn điển

[1] Trăm năm có nhiều nghĩa. Chữ trăm năm ở đây thì nghĩa là quãng thời gian lâu dài của một đời người do câu chữ nho [人 生 百 嵗 為 期 = nhân sinh bách tuế vi kỳ = đời sống của người lấy trăm năm làm kỳ hạn]. Ta chúc các cụ già sống lâu trăm tuổi, tức là chúc các cụ được sống đầy đủ cuộc đời trời định. Tác giả dùng chữ trăm năm để chỉ chính đời tác giả.

[2] Tài mệnh ghét nhau lấy ý từ câu chữ Hán [古 来 才 命 两 相 妨 = cổ lai tài mệnh lưỡng tương phương = xưa nay phần tài hoa và phần số mệnh, hai bên nó vẫn làm hại lẫn nhau ở trong đời người].

[3] Cuộc bể dâu cũng gọi là cuộc tang thương, nghĩa là cuộc biến đổi to lớn ở đời như ruộng dâu (tang điền [桑 田]) biến thành biển rộng (thương hải [滄 海]) hay biển rộng biến thành ruộng dâu. Trong truyện thần tiên, bà tiên Ma Cô [蔴 姑] cónói “Từ khi ta được vào hội tiên đến giờ ta đã thấy ba lần biển Đông hóa ra ruộng dâu rồi. Dạo vừa rồi ta đi dự hội ở đảo Bồng lai ta thấy nước biển trong và nông bằng nửa lần hồi trước, có lẽ lại sắp hóa thành ruộng dâu chăng?” Cuộc bể dâu nói đây là cuộc chính biến cuối Lê sang Nguyễn.

[4] Bỉ sắc tư phong [彼 嗇 斯 豐] = Phần kia thiếu thốn; phần này đầy đủ. Sách chữ Hán có câu [豐 于 才 嗇 于 遇 = phong vu tài sắc vu ngộ = đầy đủ về phần tài hoa thì thiếu kém về phần gặp gỡ may mắn].

[5] Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen lấy ý từ câu chữ Hán [造 物 妬 紅 顔 = tạo vật đố hồng nhan = thợ trời ghen với gái má hồng].

Diễn ra văn xuôi

Câu 1 và 2 = Trong một đời người thường gọi trăm năm, ta được sống ở trên cõi người ta này, ta thấy người có tài thì thường số mệnh xấu, cùng khổ suốt đời. Điều này khiến ta khéo nghĩ vẩn vơ, tin rằng người xưa vẫn nói “chữ tài và chữ mệnh ghét nhau” là rất đúng và lòng ta thường uất hận vì những lẽ bất công đó.

Câu 3 và 4 = Ấy bởi cái lẽ tài mệnh ghét nhau như thế nên mới trải qua một cuộc vận nước biến đổi to lớn như ruộng dâu hóa biển cả này mà những điều ta trông thấy đã khiến lòng ta đớn đau vô cùng.

Câu 5 và 6 = Nhưng thôi, mình tuy kém phần vận mệnh may mắn kia, thì đã được đầy đủ phần tài hoa đáng quý này rồi. Luật bù trừ, trời đất xưa nay vẫn thế.

Nhận xét về đoạn mở đầu này

Xét trong đoạn này, tuy ngắn gọn chỉ có 6 câu nhưng ý tứ thật đầy đủ dồi dào, thật bao la tha thiết, vừa than thở cho chính mình tác giả tài cao mệnh yểu (câu 1 và 2), vừa than thở cho khách anh hùng xưa nay cũng gặp bước không may như mình trong buổi loạn lạc (câu 3 và 4) vừa than thở cho một hồng nhan bị ông xanh ghen ghét đày đọa mà mình sắp kể truyện lại vừa để tự an ủi mình và vừa để làm mối chuyển tiếp vào truyện chính. Đọc 6 câu mở đầu này rồi, càng ngẫm nghĩ ta càng thấy cái thiên tài cao siêu phi thường của Tố Như tiên sinh.

Những chữ hay câu có ý móc nối

Nhóm chữ “những điều trông thấy” đọc qua thì thấy chỉ có ý nghĩa bình dân là [“vận khứ anh hùng ẩm hận đa” = vận trời đã bỏ, khách anh hùng phải nuốt hận nhiều], nhưng đâu phải chỉ nói có thế? Chúng còn nói cả đến điều [“thời lai đồ điếu thành công dị” = gặp thời, kẻ câu cá, kẻ hàng thịt cũng làm nên công danh rất dễ nữa]. Những bọn vô tài hữu mệnh mà tác giả than thở kín đáo đó là ai? Xin độc giả cũng nghĩ mà hiểu ngầm như tác giả nói ngầm.

CÂU 7 ĐẾN CÂU 38

“Trang trọng khác vời, phong lưu rất mực”

7. Cảo thơm lần giở trước đèn, [1]
Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh. [2, 3]

9. Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh,
Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng. [4]
11. Có nhà viên ngoại họ Vương, [5]
Gia tư nghỉ cũng thường thường bực trung. [6, 7]
13. Một trai con thứ rốt lòng, [8]
Vương Quan là tự, nối dòng nho gia. [9]
15. Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
17. Mai cốt cách, tuyết tinh thần, [10]
Mỗi người mỗi vẻ, mười phân vẹn mười.
19. Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang. [11]
21. Hoa cười ngọc thốt đoan trang, [12]
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
23. Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
So bề tài, sắc, lại là phần hơn.
25. Lờ thu thủy, nhợt xuân sơn, [13]
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh. [14]
27. Một, hai nghiêng nước nghiêng thành, [15]
Sắc rành đòi một, tài rành họa hai.
29. Thông minh vốn sẵn tư trời,
Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
31. Cung thương làu bậc ngũ âm, [16]
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.

33.Khúc nhà tay lựa nên chương, [17]
Một thiên bạc mệnh, lại càng não nhân. [18]
35. Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh sấp xỉ tới tuần cập kê [19]
37. Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai. [20]

Đính chính và xác định

Câu 18: Nhóm chữ “mỗi người mỗi vẻ” ở câu này nhiều bản Kiều quốc ngữ in lầm ra “mỗi người một vẻ”; lại có bản in lầm là “một người một vẻ.” Tất cả đều nghe không êm thuận tự nhiên bằng “mỗi người mỗi vẻ” để đi với “mười phân vẹn mười”, vì 2 chữ mỗi đi với 2 chữ mười nghe lưu loát tự nhiên hơn.

Câu 25: Lờ thu thủy, nhợt xuân sơn” là diễn theo ý nghĩa câu chữ Hán [眼 光 秋 氺 眉 淡 春 山] = nhỡn quang thu thủy mi đạm xuân sơn = mắt trong sáng hơn nước trong lặng mùa thu, lông mày tươi đẹp hơn núi cỏ xanh tươi mùa xuân. Hai câu lục bát này tả vẻ đẹp của Kiều bằng 4 cách so sánh: (1) mắt thì trong sáng làm lờ được nước mùa thu, (2) lông mày thì tươi đẹp làm nhợt được vẻ tươi đẹp núi mùa xuân đầy cỏ non xanh tươi, (3) đôi má hồng thì làm hoa phải ghen vì thua màu đỏ thắm, và (4) đôi lông mày thì làm cho liễu phải hờn vì kém màu xanh đẹp. Nghĩa rõ ràng là thế, mà các bản Kiều quốc ngữ và phần nhiều các bản Kiều nôm đều in lầm ra thành “Làn thu thủy, nét xuân sơn [瀾 秋 氺 涅 春 山]”! 

Câu 28: “Sắc rành đòi một, tài rành họa hai” các bản quốc ngữ đều in là “Sắc đành đòi một, tài đành họa hai” nghe thật tối nghĩa. Vậy xin xác định là “Sắc rành đòi một tài rành họa hai” cho rõ nghĩa hơn. Trong bản Kiều chữ Nôm, có nhiều chữ [火+亭] rành khắc lầm ra [停] đành như thế.

Chú giải và dẫn điển

[1] Cảo thơm =Cảo là quyển vở do chínhtay người chép. Các cụ nhà nho xưa vẫn gập lá cây trạch lan vào trong sách quý để trừ mọt. Trạch lan cũng gọi là cây mần tưới là loại thảo thân có từng đốt, mỗi đốt có hai lá mọc đối nhau, hình giống lá đào có mùi thơm dịu, ăn được; về mùa đông thì các cụ đeo ở trong túi áo trừ bọ chét, về mùa hè thì nấu tắm trừ ghẻ lở. Cây mần tưới chữ Hán gọi là vân 芸, nên sách có để lá mần tưới thì gọi là vân cảo [芸 槁].

[2] Phong Tình Lục [風 情 録] = Tên cuốn truyện ông Nguyễn Du đi sứ Tàu mua được. Ông thấy Vương Thúy Kiều tả ở trong truyện cũng tài cao số kém gặp cảnh long đong thất chí như ông, nên ông mới mang về diễn ra thành truyện Đoạn Trường Tân Thanh để ký thác tâm sự đau buồn của mình. Người sau cho là ông dịch ở “Thanh Tâm Tài Nhân” ra là lầm. Tôi sẽ có lời kể rõ chuyện tưởng lầm này ở sau đoạn cuối quyển Truyện Kiều tôi chú giải này.

[3] Sử xanh = Người xưa lúc chưa biết làm giấy, lấy mũi dùi nhọn viết chữ vào những thanh cột tre còn lượt tinh xanh, rồi khoan lỗ một đầu xâu lại thành sách. Những sách truyện bằng thanh tre xanh đó người ta gọi là thanh sử [青 史] (sử xanh). Chữ sách [册] trong chữ nho tượng hình sách thanh tre đó.

[4] Hai kinh = Vua Thành Tổ nhà Minh nguyên là con thứ vua Minh Thái Tổ, phong vương ở Yên Kinh sau cướp ngôi vua của cháu ở Nam Kinh, mới gọi Yên Kinh là Bắc Kinh. Bởi vậy nhà Minh có hai kinh đô.

[5] Viên ngoại = Về đời nhà Tống đến đời nhà Minh bên Tàu, những người nhà giàu đứng đắn đều gọi là viên ngoại, chứ không phải là một chức viên ngoại, lang trung ở các bộ.

[6] Gia tư [家 資] = Tất cả vốn liếng tài sản của gia đình.

[7] Nghỉ = Một đại danh từ cổ của ta, tương đương với nó, hắn, ông ấy, cô ấy, vân vân. Trong truyện xưa có câu nói về cô Mỵ Châu “nghỉ ngây, nghỉ dại, nghỉ tin người” (= cô ấy ngây, cô ấy dại, cô ấy tin Trọng Thủy).

[8] Rốt = Người con cuối cùng, cùng với nghĩa chữ út.

[9] Tự = Tên chính thức đặt cho một người, nhất là cho con gái, đã cáo với tổ tiên; nhiều bản quốc ngữ dịch là chữ. Theo tục lệ Tàu trước kia, cha mẹ không đặt tên con sẵn cho con gái lúc nhỏ. Lúc sắp lấy chồng, hai họ mới bàn nhau đặt tên cho cô dâu, để tránh trùng tên với các cụ bên nhà rể. Do đó, con gái chưa có chồng gọi là vị tự [未 字] (= chưa có tên chính thức).

[10] Mai cốt cách [梅 骨 骼] = Hình dáng người có vẻ thanh tao lịch sự như cành hoa mai – Tuyết tinh thần [雪 精 神] = Vẻ mặt tỏ ra có tinh thần sáng sủa và nghiêm trang như tuyết.

[11] Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang lấy điển trong sách tướng: Mặt như mặt trăng đầy, lông mày đậm và ngang như con tằm nằm là tướng tốt có lòng phúc hậu, con cháu đông đúc đề huề.

[12] Thốt = Nói. Ta có câu: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”. Ngọc thốt = Nói toàn những lời đứng đắn đáng quý.

[13] Lờ thu thủy = Lòng mắt trong sáng hơn mặt nước trong lặng mùa thu như lờ đục đi. Nhợt xuân sơn = Lông mày có vẻ tươi đẹp hơn mặt núi có cỏ xanh rờn về mùa xuân, so sánh với nhau thì vẻ tươi núi mùa xuân trông như nhợt bớt đi.

[14] Liễu hờn kém xanh = Đời nhà Đường con gái thường bôi lông mày bằng sáp xanh. Hai câu 25 và 26 dùng 4 cách so sánh để tả sắc đẹp của Kiều: mắt thì trong sáng hơn thu thủy, lông mày thì tươi đẹp hơn xuân sơn. Sắc má thì đỏ đẹp hơn hoa, sắc lông mày thì xanh đẹp hơn lá liễu.

[15] Một hai nghiêng nước nghiêng thành lấy điển từ câu hát của Lý Diên Niên đời Hán Vũ Đế để tả vẻ đẹp em gái chàng cho vua nghe [北 方 有 佳 人 絶 世 而 獨 立] = bắc phương hữu giai nhân, tuyệt thế nhi độc lập = phương bắc có người đẹp tuyệt trần, đứng riêng một mình. [一 顧 傾 人 城 再 顧 傾 人 國] = nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc = nhìn một cái làm nghiêng một thành, nhìn hai cái làm nghiêng cả nước người.

[16] Cung, thương, giốc, trủy, vũ = Năm âm về ca nhạc xét theo giọng đục, trong, cao, thấp. Cung là âm đục thấp nhất, thương âm đục thấp thứ hai, giốc âm trung bình giữa trong đục cao thấp, trủy âm trong cao bực nhì, vũ âm trong cao nhất. Trong câu lục-bát “Trong như tiếng hạc bay qua / đục như nước suối mới sa nửa vời” thì trong là âm vũ, đục là âm cung.

[17] Chương [章] = Bài hát. Trương [張] = Cây đàn.

[18] Một thiên bạc mnh = Tên bản đàn Kiều đặt ra để tả nổi xấu số khổ sở của người đàn bà, con gái.

[19] Cập kê = Đến tuổi sắp lấy chồng.  [筓] = Trâm cài búi tóc. Kinh Lễ nói con gái năm 15 tuổi thì búi tóc gọn lên mà cài cái kê vào, do đó tuổi ấy là tuổi cập kê.

[20] Tường đông ong bướm đi về mặc ai lấy điển từ câu Mạnh Tử [踰 東 隣 而 摟 其 処 女 = du đông lân nhi lâu kỳ xử nữ = trèo sang hàng xóm bên đông mà lôi con gái chưa chồng người ta đi]. Đây ý nói Kiều không để ý đến cậu con trai nào ngấp nghé cả.

Diễn ra văn xuôi

Câu 7, 8 = Ngồi trước đèn giở lần lần những chập sách thơm phức những mùi lá trạch lan ra xem, ta thấy có quyển Phong Tình Lục chép truyện sau đây.

Câu 9, 10 = Truyện chép rằng: Trong đời Gia Tĩnh (1522 – 1566) triều nhà Minh, bốn phương yên ổn và hai kinh Nam, Bắc đều vững vàng không có giặc giã đe dọa.

Câu 11, 12 = Hồi đó ở Bắc Kinh có nhà ông viên ngoại họ Vương, tài sản ông ta cũng vào hạng trung bình.

Câu 13, 14 = Ông có một trai là út đặt tên là Vương Quan và sẽ là người con nối nghiệp học hành nhà sau này.

Câu 15, 16 = Hai con sinh trước là hai cô gái rất trắng đẹp như tiên trên cung trăng; chị tên là Thúy Kiều; em tên là Thúy Vân.

Câu 17, 18 = Hai cô này đều có hình dáng thanh tao như hoa mai và tinh thần trong sáng nghiêm trang như tuyết. Tuy mỗi cô có một vẻ khác nhau, cô nào cũng mười phần đẹp hoàn toàn cả mười.

Câu 19, 20 = Nàng Vân xem ra có vẻ đứng đắn cẩn thận, rất mực khác đời; khuôn mặt thì đầy đặn kín đáo như mặt trăng rằm; đôi lông mày thì nở nang gọn gàng như con tằm nằm.

Câu 21, 22 = Vẻ mặt nàng cười trông tươi đẹp như hoa, giọng nàng nói đã hay, lại thốt ra những lời đứng đắn đáng quý như vàng ngọc; màu tóc nàng đen mượt so với mây, mây phải thua; mà da nàng trắng mịn so với tuyết, tuyết phải nhường.

Câu 23, 24 = Còn nàng Kiều tinh thần trông lại càng sắc sảo, vẻ đẹp trông lại càng mặn mà ưa mắt. So với nàng Vân, thì Kiều hơn về tài sắc.

Câu 25, 26 = Vẻ trong sáng của đôi mắt nàng so với nước mùa thu thì nươc mùa thu phải lờ đục hơn; đôi lông mày tươi đẹp của nàng so với mặt núi mùa xuân xanh rờn những cỏ, thì màu núi mùa xuân phải nhợt đi; sắc tươi thắm mặt nàng so với hoa thì hoa phải thua mà sinh lòng ghen; màu xanh đẹp của lông mày nàng so với liễu thì liễu phải kém mà sinh lòng hờn tức.

Câu 27, 28 = Nàng thật đúng là bực giai nhân tột bực – liếc mắt ngó một cái làm nghiêng đổ một thành người ta; lại liếc mắt ngó cái nữa là làm nghiêng đổ cả nước người ta. Về phần nhan sắc, thì rành rành là chỉ có nàng là nhất, về phần tài hoa thì rành rành là họa may mới được một người bằng nàng nữa là hai.

Câu 29, 30 = Nàng lại sẵn được trời cho tư chất thông minh – thi, họa, ca ngâm, tài hoa đủ nghề.

Câu 31, 32 = Nàng rất giỏi về âm nhạc – các cung các bậc trong âm lục nàng đều lầu thuộc cả, nhất là ngón tài riêng về đánh đàn hồ cầm thì thật ăn đứt không ai theo kịp.

Câu 33, 34 = Chính tay nàng làm ra một bản đàn gọi là “Thiên bạc mệnh” mà khi gảy lên lại càng khiến người ngồi nghe phải sầu não ruột gan.

Câu 35, 36 = Nàng thật là một trang gái tài mạo phong nhã vào bậc nhất trong bọn quần hồng, và xuân xanh đã đến tuổi quấn tóc cài trâm (15, 16 tuổi).

Câu 37, 38 = Hàng ngày nàng vẫn vui ở nơi kín đáo trong nhà trướng rũ màn che, thật êm đềm lặng lẽ không để ý gì đến những kẻ ngấp nghé dòm ngó.

Những câu hay chữ có ý móc nối

Trong truyện Kiều, lắm câu mới đọc thì thấy như là thừa, chỉ đặt cho đủ câu, cho liền vần. Nghĩ vậy là lầm, vì chính những câu đó thường là câu quan hệ, đặt để móc nối những việc về sau. Những câu rất tầm thường trong đoạn này như: “Bốn phương phẳng lặng…”, “Gia tư … bực trung” đều dụng ý móc nối ấy cả. Câu trên thì móc nối xa với câu Kiều khuyên Từ Hải: “Ngẫm từ khởi sự binh đao / đống xương vô định đã cao bằng đầu” cho biết rằng Từ Hải đã bắt đầu làm mất cảnh thái bình ấy. Câu dưới: “Gia tư … bực trung” thì móc nối với sự Viên ông bị tống tiền vì có tài sản.

Những câu tả tướng tốt về Thúy Vân như: “hoa cười ngọc thốt” và “khuôn trăng đầy đặn” gợi trước cho ta biết hạnh phúc của nàng. Những câu tả tướng “anh hoa phát tiết ra ngoài” của Kiều như: mắt trong, lông mày tươi, nét mắt liếc nhìn quyến rũ, để gợi cho ta biết cuộc đời giang hồ của nàng. Những câu tả tài hoa của Kiều như “pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm” và “cung thương làu bực ngũ âm” thì móc nối với biết bao nhiêu cuộc đề thơ và gẩy đàn của nàng về sau.

Câu “Êm đềm trướng rủ màn che” thì dùng ý để móc nối với ý ngược lại của cuộc “bộ hành chơi xuân” cho mãi đến lúc “bóng chiều như giục cơn buồn”. Ý câu “Tường đông ông bướm đi về mặc ai” cũng dùng để móc nối ngược lại với câu “Khách đà lên ngựa, người còn nghé theo” và với câu tưởng nhớ đến Kim Trọng “Người đâu gặp gỡ làm chi / trăm năm biết có duyên gì hay không?”

CHƯƠNG 05

CÂU 39 ĐẾN CÂU 132

“Vui hội đạp thanh, viếng mồ vô chủ”

39. Ngày xuân con én đưa thoi, [1]
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi. [2]
41. Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trang điểm một vài bông hoa. [3]
43. Thanh minh trong tiết tháng ba, [4]
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh. [5]
45. Gần xa nô nức yến anh, [6]
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
47. Dập dìu tài tử, giai nhân,
Ngựa xe như nước, áo quần như chen. [7, 8]
49. Ngổn ngang gò đống kéo lên, [9]
Thoi vàng bỏ rác tro tiền dấy bay.
51. Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
53. Bước dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
55. Nao nao dòng nước uốn quanh, [10]
Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang. [11]
57. Sè sè nấm đất bên đàng, [12]
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
59. Rằng: “Sao trong tiết thanh minh,
 Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”
61. Vương Quan mới dẫn gần xa:
“Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi.
63. Nổi danh tài sắc một thì,
Xôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh. [13]
65.  Phận hồng nhan có mong manh,
Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương. [14]
67. Có người khách ở viễn phương,
Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi.
69. Thuyền tình vừa ghé tới nơi, [15]
Thì đà trâm gẫy bình rơi bao giờ.
71. Buồng không lạnh ngắt như tờ, [16]
Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh.
73. Khóc than khôn xiết sự tình,
Khéo vô duyên ấy là mình với ta.
75.  Đã không duyên trước chăng mà,
Thì chi chút ước gọi là duyên sau.
77. Sắm xanh nếp tử xe châu, [17]
Bụi hồng một nấm mặc dầu cỏ hoa.
79. Trải bao thỏ lặn ác tà, [18]
 Ấy mồ vô chủ, ai mà viếng thăm!”
81. Lòng đâu sẵn mối thương tâm,
Thoạt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa. [19]
83. “Đau đớn thay phận đàn bà!
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
85. Phũ phàng chi bấy hoá công,
Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha.
87. Sống làm vợ sấp người ta, [20]
Hại thay thác xuống làm ma không chồng.
89. Nào người phượng chạ loan chung,
Nào người tích lục tham hồng là ai? [21]
91. Đã không kẻ đoái người hoài,

Sẵn đây ta thắp một vài nén hương.
93. Gọi là gặp gỡ giữa đường,
Họa là người dưới suối vàng biết cho.” [22]
95.  Lầm rầm khấn khứa nhỏ to,
Sụp ngồi đặt cỏ trước mồ bước ra. [23]
97. Một vùng cỏ áy bóng tà, [24]
Gió hiu hiu thổi một vài bông lau.
99. Rút trâm sẵn giắt mái đầu,

Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần.
101. Lại càng mê mẩn tâm thần
Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra. [25]
103. Lại càng ủ dột nét hoa, [26]
Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài. [27]
105. Vân rằng: “Chị cũng nực cười,
Khéo dư nước mắt khóc người bâng quơ.” [28]
107. Rằng: “Hồng nhan tự nghìn xưa,
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu?
109. Nỗi niềm tưởng đến mà đau,
Thấy người nằm đó biết sau thế nào?”
111. Quan rằng: “Chị nói hay sao,
Một lời là một vận vào khó nghe.
113. Ở đây âm khí nặng nề,

Bóng chiều đã ngả dậm về còn xa.”
115.  Kiều rằng: “Những đấng tài hoa,
Thác là thể phách, còn là tinh anh, [29]
117. Dễ hay tình lại gặp tình,
Chờ xem ắt thấy hiển linh bây giờ.”
119. Một lời nói chửa kịp thưa,
Phút đâu ngọn gió cuốn cờ đến ngay. [30]
121. Ào ào trút lộc rung cây, [31]

Ở trong dường có hương bay ít nhiều.
123. Đè chừng ngọn gió lần theo,
Dấu giày từng bước in rêu rành rành.
125. Mắt nhìn ai nấy đều kinh,
Nàng rằng: “Này thực tinh thành chẳng xa.
127. Hữu tình ta lại gặp ta,
Chớ nề u hiển mới là chị em.” [32]
129. Đã lòng hiển hiện cho xem,

Tạ lòng nàng lại nối thêm vài lời.
131. Lòng thơ lai láng bồi hồi,
Gốc cây lại vạch một bài cổ thi.

Đính chính và xác định

Câu 42: Động từ “trang điểm” ở câu này, các bản quốc ngữ đều in là “trắng điểm.” Đó là theo một bản in nôm của một nhân vật theo tây học sửa lầm chữ trang [装] ra chữ trắng (chữ nôm này viết bằng cách gắn thêm chữ bạch [白] trên nóc chữ trang [壯]) cho khắc xuất bản, rồi lại được một ông văn sĩ tây nào đó khen chữ “trắng điểm” thật hay (sự việc này xảy ra trong khoảng 1900-1912). Thế rồi các nhà xuất bản Kiều quốc ngữ, không nghĩ phải trái, cứ ùa theo lời khen của nhà văn sĩ tây mà in câu này thành “Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.” Cũng nên nhắc đến một giai thoại về Tể tướng Bùi Độ đời nhà Đường. Ông Độ có khu vườn cỏ rộng mênh mông tít thẳm, về mùa xuân cỏ non xanh rì phẳng một lượt, khách xem khen mãi. Ông chỉ lũ dê trắng và bảo khách: “Vườn này đẹp thế là nhờ các chú này trang điểm cho khu vườn đẹp thêm.” Chữ “trắng điểm” nghe thật ngô nghê không đúng với lời văn tiếng Việt; vả lại nói “hoa lê” là đã đủ ý trắng rồi, cần gì phải nói trắng nữa cho thừa? Các bản cũ dùng ý hoa lê trang điểm cho cảnh vườn, ý mới hay.

Câu 48: Nhóm chữ áo quần như chen lấy điển ở câu chữ nho tả cảnh xem hội: [士 女 櫛 比 = sĩ nữ chất tị = con trai con gái chen nhau như răng lược]. Chữ áo hàm ý con trai, và chữ quần hàm ý con gái. Có bản in là “áo quần như nen” thật là gượng gạo và vô nghĩa.

Câu 50: “Thoi vàng bỏ rác, tro tiền dấy bay” = Nhóm đi tảo mộ nào cũng mang theo những bó vàng mã cuốn thành thỏi xổ tung ra rác cả đường để cúng những cô hồn, ma quỷ. Họ cũng đốt những tập giấy in tiền cúng trước mồ tổ tiên, gây ra những tro tàn bốc lên bay theo gió. Bốn chữ “tro tiền dấy bay” nghĩa là thế (dấy = bốc lên). Ngổn ngang gò đống kéo lên / thoi vàng bỏ rác, tro tiền dấy bay” lấy ý ở bài thơ thanh minh của thi sĩ Cao Cúc Khanh: [南 北 山 頭 多 墓 田 =nam, bắc sơn đầu đa mộ điền = ở đầu núi bắc và nam có nhiều khu ruộng đầy mồ mả] – [清 明 祭 掃 各 紛 然 = thanh minh tế tảo các phân nhiên = đến ngày lễ thanh minh, mọi người nhộn nhịp đến tảo mộ cúng tế một lượt] [紙 灰 飛 作 白 蝴 蝶 =chỉ hôi phi tác bạch hồ điệp =

tro tiền giấy theo gió bay lên trông giống như đàn bướm trắng] – [淚 血 染 成 紅 杜 鵑 = lệ huyết nhiễm thành hồng đỗ quyên = những giọt nước mắt như máu rỏ xuống nhuộm thành màu đỏ hoa đỗ quyên]. Vì chữ bỏ [𠬕] (= chữ khứ [去] ghép vào với chữ bổ [補]) hình thù khó khắc và in nhòe, có bản đổi thành [捕] (= chữ thủ [扌] ghép vào với chữ bố [甫]) cho dễ khắc. Nhưng người phiên âm đầu tiên không luận ra chữ [扌] (thủ) bên chữ [甫] (bố) là gì, mới đọc lầm ra bõ, cho rằng vàng thỏi ở làng Bõ (?) làm, rồi lại đổi chữ dấy [𧽈] (= chữ khởi [起] ghép vào với chữ duệ [曳]) thành chữ giấy [絏] để đối với chữ bõ cho chỉnh, rõ thật vô nghĩa đến nực cười.

Câu 76: Thì chi chút ước gọi là duyên sau = Kiếp này đã vô duyên với nhau, thì xin chôn cất tử tế để làm duyên ước hẹn kiếp sau. Có bản in là “chút đỉnh” e rằng ý nghĩa không được thiết thực như “chút ước.”

Câu 78: Bụi hồng một nấm mặc dầu cỏ hoa = Chôn thành một ngôi mộ tử tế ở bên con đường cái lớn lúc nào cũng xe ngựa rầm rộ tung bụi đỏ lên, rồi trồng hoa cỏ trang điểm cho đẹp, rồi từ biệt nhờ khách qua đường trông nom. Câu này tả cảnh thật là thê thảm – một nấm mồ hoang nằm ngay giữa đám bụi hồng mà quanh năm chẳng ai thèm ngó đến. Thế mà nhiều bản in đổi chữ ‘bụi hồng” ra “vùi nông” nói là theo hai chữ “thiển thổ [淺土]” ở cuốn Thanh Tâm Tài Nhân. Đổi thế là có hai điều lầm: (1) Thiển thổ là đất nông, chôn tạm, không có long mạch, chứ đâu phải “vùi nông”; (2) Người khách đã sắm nếp tử xe châu chôn cất long trọng, hẹn ước kiếp sau, thì sao lại vùi nông cho xong một cách khinh bạc như vậy?

Câu 82: Chữ thoát [脱] có ba âm: thoát, thoắt, thoạt. Chữ đó thấy ở câu 82 phải phiên âm là thoạt mới đúng nghĩa = thoạt mới nghe, Kiều đã thương tâm rồi.  Phiên âm nó là thoắt thì thật lầm.

Câu 87: Sống làm vợ sấp người ta – Chữ “sấp” ở câu này nghĩa là gái thanh lâu lúc sống, bất cứ ai đến đều phải làm vợ người ta cả. Nhiều bản nôm viết chữ này là [插] (Hán = sáp, nôm = sấp), chứ không viết là [泣] (Hán = khấp, nôm = khắp). Để chữ “khắp” thật là sai, vì làm vợ khắp cả mọi người thế nào được.

Câu 92: Sẵn đây ta thắp một vài nén hương – Chữ “thắp” trong câu này cả các bản nôm hay quốc ngữ đều in không giống nhau: hoặc là “thắp”, là “kiếm”, hay là “đắp.” Nay xin xác nhận “thắp” là đúng, vì “đắp” thì vô nghĩa hẳn đi rồi. Còn “kiếm” thì tuy có nghĩa, nhưng đã sẵn đây rồi, thì e kiếm là thừa.  

Câu 102: Lại càng đứng sững tần ngần chẳng ra – Chữ “đứng sững” nhiều bản quốc ngữ in là “đứng lặng”, không đúng nghĩa bằng bản nôm của cụ nghè Vũ Trinh in là đứng “sững [爽]”. Hơn nữa, đứng sững là như đứng mê đi vì thương cảm quá; còn đứng lặng chỉ là đứng im thôi, đầu óc vẫn tỉnh. Chữ “đứng sững” mới thật khẩn thiết với chữ “tần ngần.”

Câu 120: Những bản in ngọn gió cuốn cờ đúng hơn những bản in trận gió cuốn cờ vì đây chỉ là một luồng gió lốc coi như hồn ma hiện ra, chứ không phải là một trận gió có nhiều cơn liên tiếp.

Chú giải và dẫn điển

[1] Con én đưa thoi = Ngày mùa xuân qua lại như cái thoi dệt vải làm hình hai con én qua lại mau chóng ở trên khung cửi khi người ta dệt vải.

[2] Thiều quang = Ánh sáng non đẹp của mùa xuân. “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi” = Ba tháng mùa xuân (90 ngày mùa xuân) đã qua mất hơn 60 ngày rồi, tức là trời đã sang tháng ba được mấy ngày.

[3] Cành lê trang điểm một vài bông hoa = Các cành lê đã nở ít hoa trang điểm cho bãi cỏ xanh thêm đẹp. Xem lời đính chính câu 42 ở trên.

[4] Thanh minh = Âm lịch chia mỗi năm ra làm 12 tiết và 12 khí. Tháng giêng bắt đầu từ ngày lập xuân gọi là tiết, giữa là ngày vũ thủy gọi là khí. Tháng hai bắt đầu từ ngày kinh chập gọi là tiết, giữa là ngày xuân phân gọi là khí. Tháng ba bắt đầu từ ngày thanh minh gọi là tiết, giữa là ngày cốc vũ gọi là khí.

[5] Tảo mộ [掃墓] = Ngày lễ đi thăm mồ mả tổ tiên, đắp điếm sửa sang lại cho sạch sẽ rồi cúng lễ. Đạp thanh [踏青] = Ngày đi dạo hội cỏ xanh đẹp. Xưa có bà công chúa có một khu vườn hoa rất rộng đẹp. Bà cho đắp mồ mả tượng trưng ở trên các gò đống trong vườn, rồi cứ đến ngày tỵ sau tiết thanh minh, thì mở hội tảo mộ đạp thanh cho dân chúng vào xem. Hội đạp thanh, tảo mộ bắt đầu hợp nhất từ đó.

[6] Yến anh = Hai thứ chim nhỏ hay bay thành đàn. Đây là biểu tượng cho những nhóm thanh niên thanh nữ đi chơi hội.

[7, 8] “Ngựa xe như nước áo quần như chen” lấy ý ở câu chữ nho [車 如 流 水 士 女 櫛 比 = xa như lưu thủy, sĩ nữ chất tị = xe ngựa nối đuôi nhau đi như dòng nước chảy, con trai con gái chen nhau như răng lược]. Áo hàm ý con trai; quần hàm ý con gái. Chữ nho gọi học trò là [青 襟 = thanh khâm = áo xanh].

[9] “Gò đống kéo lên” = Lũ lượt kéo nhau lên các gò đống để tảo mộ.

[10] “Nao nao dòng nước uốn quanh” = Dòng nước lượn cong cong nên thơ.

[11] Ghềnh = Mũi đất dôi ra lòng ngòi nước.

[12] Sè sè = Thấp lè tè ở mặt đất.

[13] Chữ yến anh này khác nghĩa với chữ “yến anh” ở câu 45 trên. Yến anh đây là biểu tượng cho những nhóm trai gái đi hội đông như đàn chim yến chim anh. Còn yến anh ở câu 45 hàm ý bọn khách làng chơi.

[14] Cành thiên hương = Biểu tượng của người con gái đẹp như cành hoa thơm trên trời. Tình sử có câu [天 香 一 枝 = thiên hương nhất chi = một cành hoa thơm đẹp trên trời].

[15] Câu 69 và 70 lấy ý từ Đường thi [一片 情 舟 初 到 岸, 瓶 沈 花 折 已 多 時 = nhất phiến tình chu sơ đáo ngạn, bình trầm hoa triết dĩ đa thời = một chiếc thuyền tình mới tới bờ, bình chìm hoa gãy đã lâu rồi].

[16] Lạnh ngắt như tờ = Vắng lặng khiến khách phải rùng mình. “Tờ” đây là tờ tranh vẽ, tả cảnh buồng Đạm Tiên sau khi nàng chết thì vắng ngắt và im lặng như bức tranh. Các bản quốc ngữ không hiểu chữ tờ này, giảng nghĩa lầm là như mặt tờ giấy – người ta chỉ nói phẳng như tờ giấy, không ai nói lặng hay lạnh như tờ giấy.

[17] Nếp tử = Bộ áo quan bằng gỗ tử (cũng gọi là gỗ giổi), một thứ gỗ quý làm áo quan rất tốt. Xa châu = Linh xa (xe rước hồn) chung quanh có diềm đẹp kết bằng ngọc trai. Câu này lấy điển ở trong Tình sử, kể chuyện một một ông vương tước làm ma cho một người vợ lẽ đẹp chết trẻ, có câu [梓 匣 珠 車, 尽 一 時 之 富 貴 = tử hạp châu xa, tận nhất thì chi phú quý = hòm bằng gỗ tử, xe có diềm ngọc trai, hết sức vẻ giàu sang một thời].

[18] Thỏ lặn ác tà = Mặt trăng lặn, mặt trời tà.

[19] Châu sa = Nước mắt đổ xuống thành giọt.

[20] Sấp = Xem phần đính chính câu 87 ở trên.

[21] Người tích lục tham hồng = Người tiếc vẻ đẹp mặt hoa mày liễu của nàng mà chưa được tiếp xúc với nàng.

[22] Suối vàng = Âm phủ. Theo sách Tả truyện, vua Trịnh Trang Công giận mẹ muốn giết mình để lập em lên thay bèn bắt mẹ ở riêng một nơi và thề với mẹ rằng [不 及 黃 泉 無 相 見 也 =bất cập hoàng tuyền vô tương kiến dã = chưa đến suối vàng không gặp nhau nữa].

[23] Đặt cỏ = Một tục lệ xưa của người Tàu là phúng điếu người quá cố bằng một bó cỏ để kết thành hình súc vật và đốt cho vong hồn người ấy.

[24] Cỏ áy = Cỏ mọc cằn cỗi ở trên đất khô kiệt.

[25] Đứng sững = Xem lời xác định câu 102 ở trên.

[26] Nét hoa = Vẻ mặt đẹp con gái.

[27] Sầu tuôn đứt nối = Chưa hết nỗi sầu này mà đã nghĩ tới mối sầu kia.

[28] Bâng quơ = Không có họ hàng tình nghĩa gì với mình.

[29] Thể phách = Thân thể và phần phách (vía) chủ trương về thất tình : mừng, giận, thương, vui, yêu, ghét, ham muốn. Phần hồn là phần tinh anh chủ trương về đạo đức. Khi chết thì thân thể về đất; phách xuống âm ty; hồn nếu tốt thì được lên trời, nếu không tốt thì phảng phất ở thế gian.

[30] Ngọn gió cuốn cờ = Luồng gió lốc vừa xoáy vừa đi. Các truyện ma quỷ xưa coi hiện tượng thời tiết này là hồn người chết hiện lên. Chữ nho gọi hiện tượng này là [捲 旗 風 = quyển kỳ phong = gió cuốn cờ].

[31] Lộc = Cành lá mới nẩy ra còn non mềm.

[32] U [幽 = tối tăm, thuộc về âm, hồn ma]. Hiển [顯 = sáng sủa, thuộc về dương, người còn sống].

Diễn ra văn xuôi

Câu 39 và 40 = Ngày mùa xuân đi nhanh như cái thoi dệt vải hình chim én đưa đi đưa lại ở trên khung cửi. Chín chục ngày ánh sáng trong đẹp đó, hồi ấy đã qua mất hơn 60 ngày rồi.

Câu 41 và 42 = Ngoài đồng cỏ mọc xanh rờn một màu trông như đến tận chân trời. Lại có thêm một vài hoa lê mới nở trên các cành trang điểm cho cánh đồng cỏ thêm đẹp.

Câu 43 và 44 = Trong tiết thanh minh đầu tháng ba này có hội đạp thanh và lễ tảo mộ cùng mở vào một ngày.

Câu 45 và 46 = Mọi người gần xa nô nức kéo đi từng đoàn, như đàn chim yến anh. Ba chị em Kiều cũng sắm sửa đi bộ vui chơi hội này.

Câu 47 và 48 = Trai thanh gái tú dập dìu một lượt rất đông ; ngựa xe liên tiếp đi như dòng nước chảy ; trai áo xanh, gái quần hồng chen nhau mà đi.

Câu 49 và 50 = Mọi người lũ lượt kéo nhau ngổn ngang lên các gò đống để làm lễ tảo mộ. Những thoi vàng mã cúng ma quỷ cô hồn tung ra rác cả mọi nơi ; những tro giấy vàng, giấy tiền đốt cúng tổ tiên theo gió bốc lên phấp phới. Xem lời đính chính câu 50 ở trên.

Câu 51 và 52 = Lúc bóng nắng đã xế về tây rồi, chị em Kiều mới đan tay nhau cùng trở bước ra về có vẻ tiếc thẩn thơ.

Câu 53 và 54 = Chị em bước lần lần theo con đường trên bờ một con ngòi nhỏ, vừa đi vừa ngắm phong cảnh nơi này.

Câu 55 và 56 = Nào là dòng nước chảy uốn cong cong, nào là một chiếc cầu nho nhỏ ở cuối ghềnh đất nọ bắc ngang qua trên mặt nước.

Câu 57 và 58 = Bỗng trông thấy một nấm mồ thấp lè tè ở bên đường, cỏ trên mộ cằn cỗi, nửa vàng nửa xanh trông thật đìu hiu buồn bã.

Câu 59 và 60 = Kiều chỉ nấm mồ và hỏi : Hôm nay là tiết thanh minh tảo mộ, mà sao ngôi mả này hương khói vắng tanh chẳng ai ngó đến ?

Câu 61 và 62 = Vương Quan mới kể lai lịch gần xa của ngôi mả này cho chị nghe : Đạm Tiên là một ca nhi xưa.

Câu 63 và 64 = Nàng đã từng nổi tiếng lẫy lừng một thời là tài sắc bậc nhất. Ngoài cửa nhà nàng lúc nào cũng xôn xao nhộn nhịp, thiếu gì là khách hào hoa.

Câu 65 và 66 = Nhưng kiếp hồng nhan nàng sao mà mong manh quá ! Đang lúc cành hoa mởn mơ thơm nức những mùi hương trời, thì thoắt đâu bỗng gẫy ngang chừng !

Câu 67 và 68 = Có người khách phương xa nghe tiếng nàng lừng lẫy cũng nao nức lòng, không quản xa xôi, cố công tìm đến gặp.

Câu 69 và 70 = Nhưng khi người khách chứa chan tình mơ ước này vừa ghé đến bến, thì cành hoa đã gẫy, bình ngọc đã tan từ bao giờ rồi.  

Câu 71 và 72 = Người khách vào thì thấy cảnh buồng nàng vắng vẻ lạnh ngắt như bức tranh vẽ và trước sân thì trên những dấu xe ngựa rêu đã mọc lờ mờ xanh một lượt.  

Câu 73 và 74 = Ông ta khóc than kể hết sự tình thương tiếc và nói : Sao ta với nàng lại vô duyên đến thế này ? Không được thấy mặt một lần, không được nói với nhau một lời !

Câu 75 và 76 =Kiếp này đã không có chút duyên nào với nàng, thì nay ta xin làm ma chay chôn cất nàng tử tế để hẹn ước với nàng làm duyên kiếp sau vậy !

Câu 77 và 78 = Hẹn với vong linh nàng thế, rồi ông ta mới sắm sửa lễ tống táng cho nàng linh đình sang trọng vào bậc nhất – quan tài làm bằng gỗ tử là thứ gỗ quý vua chúa vẫn dùng, linh xa chung quanh diềm kết ngọc trai, rồi táng nàng thành một ngôi mộ ở bên con đường lúc nào xe ngựa cũng đi lại, bụi hồng tung bốc.

Câu 79 và 80 = Thế là từ đó đến nay – đã biết bao nhiêu ngày đêm nắng dãi trăng soi – còn ai thăm viếng ngôi mồ vô chủ này nữa đâu ?

Câu 81 và 82 = Lòng Kiều đâu sẵn mối thương xót thế ! Thoạt nghe lời em trai kể, nàng trào nước mắt đầm đìa khóc ngay.

Câu 83 và 84 = Nàng nói : Đau đớn thay phận đàn bà ! Lời người xưa nói “ hồng nhan bạc mệnh ” thật là lời chung cho cả bọn đàn bà, cái kiếp bạc mệnh đó nó có tha cho ai đâu !

Câu 85 và 86 = Sao ông thợ trời nỡ lòng phũ phàng thế nhỉ ? Ông nỡ nào làm cho cái tuổi xanh người ta phải đau đớn mỏi mòn, đôi má hồng lộng lẫy người ta phải nhem nhuốc phôi pha đến thế ?

Câu 87 và 88 = Lúc sống thì ông bắt người ta phải làm vợ bất cứ ai, mà hại thay, lúc chết thì ông lại bắt người ta làm kiếp ma không chồng để hồn không có nơi nương tựa !

Câu 89 và 90 = Trời đã quá phũ phàng với nàng, lại quá tệ bạc với nàng ! Nào những kẻ trước kia thì đằm thắm chung chạ chăn loan gối phượng với nàng, nào những kẻ đã từng được nàng tiếp đón, kẻ thì lúc ra về còn ngẩn ngơ tiếc nhớ mãi đôi lông mày xanh tươi lá liễu của nàng, kẻ thì dốn ngồi say sưa ngắm đôi má hồng đẹp hoa đào của nàng – tất cả đâu rồi, không một ai nhớ đến nấm mồ nàng nữa ?

Câu 91 và 92 = Đã không ai đoái hoài đến nàng nữa, thì sẵn có hương đây ta thắp một vài nén cúng nàng.

Câu 93 và 94 = Gọi là tỏ tình gặp gỡ nhau nơi giữa đường, may ra nàng ở dưới suối vàng thấu cho lòng ta chăng !

Câu 95 và 96 = Hương thắp xong, Kiều lầm dầm khấn khứa mấy lời, rồi ngồi xuống đặt mớ cỏ làm lễ viếng trước mộ.

Câu 97 và 98 = Cúng xong, nàng đứng ngắm cảnh quanh mộ thật buồn – một vùng cỏ cây cằn cỗi dưới bóng nắng xế tà, một vài bông lau phất phơ trước ngọn gió thổi hắt hiu.  

Câu 99 và 100 = Cám cảnh quá, Kiều rút cây trâm cài trên đầu xuống mà vạch vào da một cây gần mồ, đề một bài thơ cảm vịnh.

Câu 101 và 102 = Đề thơ xong, tâm thần thêm mê mẩn, Kiều đứng tần ngần mãi chẳng biết nghĩ ra sao nữa.

Câu 103 và 104 = Chỉ thấy nét mặt như hoa của nàng lại càng ủ ê, nước mắt giọt ngắn giọt dài rơi xuống, như thể mối sầu trong lòng tuôn ra mãi.

Câu 105 và 106 = Thúy Vân thấy vậy bảo chị : Chị rõ thật là đáng nực cười ! Sao mà khéo thừa nước mắt đi khóc người bâng quơ, chẳng có họ hàng thân tình gì với mình như vậy ?

Câu 107 và 108 = Kiều đáp : Từ xưa đến nay, kiếp hồng nhan thường vẫn bạc mệnh như thế. Câu nói “ hồng nhan bạc mệnh ” là câu nói chung cho cả khách má hồng, chẳng chừa ai cả !

Câu 109 và 110 = Nghĩ đến nông nỗi ấy mà chị rất đau lòng. Thấy người nằm dưới nấm mộ quạnh hiu này mà chị rất lo buồn, biết sau này mình sẽ ra sao ?

Câu 111 và 112 = Vương Quan nói :  Sao chị nói năng kỳ vậy ? Càng nói càng vận mãi sự quái gở vào mình đấy !  

Câu 113 và 114 = Thôi chúng ta không nên ở chỗ nặng nề những khí âm u này nữa, về đi thôi ! Trời đã xế chiều rồi, mà đường về thì còn xa !

Câu 115 và 116 = Kiều nói :Những bậc tài hoa thì chỉ chết có phần thể và phách, chứ phần tinh anh là hồn thì còn mãi mãi.

Câu 117 và 118 = Dễ đã mấy khi hai người đồng tình như ta với nàng mà lại gặp nhau ! Ta hãy chờ coi, thế nào cũng sẽ thấy linh hồn nàng hiển hiện cho ta xem bây giờ !

Câu 119 và 120 = Lời Kiều nói chưa ai kịp đáp, thì bỗng thấy một luồng gió lốc như ngọn cờ xoáy đến ngay.

Câu 121 và 122 = Ngọn gió quay ào ào, làm cây cối rung động, làm rơi những lá lộc non xuống, và trong luồng gió như thoang thoảng có mùi thơm.

Câu 123 và 124 = Nhìn theo vết ngọn gió đến đâu thì thấy có vết giầy từng bước in trên mặt đất rõ ràng.

Câu 125 và 126 = Ai nhìn thấy cũng xanh mặt sợ hãi. Kiều nói : Rõ thật lòng thành của ta đã thấu cảm được vong linh nàng rồi đó, có sai đâu !

Câu 127 và 128 = Rồi nàng nói với hồn Đạm Tiên : Chúng ta là đôi bạn hữu tình với nhau, chị đã không nề khách âm phủ, kẻ dương gian mà hiện lên cho nhau biết, thế mới thật là chỗ bạn thân tình chị em !

Câu 129 và 130 = Rồi để đáp tạ tấm lòng của người từ âm phủ, Kiều lại khấn thêm mấy lời nữa.

Câu 131 và 132 = Cao hứng làm thơ của nàng lúc bấy giờ tràn đầy lai láng, không thể nào cầm hãm được nữa. Nàng lại vạch gốc cây đề một bài cổ thi nữa (mặc dù thấy hai em không thích).

Những câu có ý móc nối

Đoạn này chứa đựng nhiều câu báo trước những điều bất hạnh của Kiều :

Những câu Kiều trách trời phũ phàng với đàn bà (“ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha”, “sống làm vợ sấp người ta) báo trước hai lần ở thanh lâu.

Những câu Kiều trách người (lúc người ta sống thì “phượng chạ, loan chung, tiếc lục, tham hồng”; lúc người ta chết thì bỏ mồ mả hương khói vắng tanh”) báo trước những cuộc bị bao kẻ bội bạc lừa đảo.

Câu “Nỗi niềm tưởng đến mà đau / thấy người nằm đó biết sau thế nào” báo trước những cuộc đau thương (tự vẫn không chết, mấy trận đòn làm mất hết nhân cách, và đành nát ngọc tan vàng dưới sông Tiền Đường).

Sự cúng khấn mả Đạm Tiên móc nối với câu Đạm Tiên nói trong giấc mộng Mấy lòng hạ cố đến nhau.” Sự đề hai bài thơ móc nối với câu Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng và với sự Đạm Tiên đưa cho Kiều thêm 10 đầu đề thơ đoạn trường để “câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời.”

Những câu tả cái cầu và ngọn tiểu khê cùng nấm mồ bên đường móc nối với câu Đạm Tiên tả nhà mình “Hàn gia ở mé tây thiên / dưới dòng nước chảy bên trên có cầu.”

Câu Kiều nói với hồn Đạm Tiên “Hữu tình ta lại gặp ta / chớ nề u hiển mới là chị em” móc nối với câu Đạm Tiên trong mộng “Âu đành quả kiếp nhân duyên / cũng người một hội một thuyền đâu xa.”

Những lời tả Kiều đau thương tha thiết cho phận đàn bà móc nối với sự nàng thấy Kim Trọng có phúc tướng, liền ước mong lấy làm chồng để cứu khỏi kiếp bạc mệnh, chứ không phải là do tính tình lẳng lơ.

CHƯƠNG 06                                                                                                       

CÂU 133 ĐẾN CÂU 242

“Tơ duyên kỳ ngộ, giấc mộng đoạn trường”

133. Dùng dằng nửa ở nửa về,
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần.
135. Trông chừng thấy một văn nhân,
Lỏng buông tay khấu, bước lần dặm băng. [1, 2]
137. Đề huề lưng túi gió trăng, [3]
Sau chân theo một vài thằng con con.
139. Tuyết in sắc ngựa câu giòn, [4]
Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời. [5]
141. Nẻo xa mới tỏ mặt người,
Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình.
142. Hài văn lần bước dặm xanh, [6]
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao. [7]
145. Chàng Vương quen mặt ra chào,
Hai Kiều e lệ núp vào dưới hoa. [8]
147. Nguyên người quanh quất đâu xa,
Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh. [9]
149. Nền phú hậu, bậc tài danh, [10, 11]
Văn chương nết đất, thông minh tính trời. [12]
151. Phong tư tài mạo tót vời, [13]
Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa. [14, 15]
153. Chung quanh vẫn đất nước nhà,
Với Vương Quan trước vẫn là đồng thân. [16]
155. Vẫn nghe thơm nức hương lân, [17]
Một nền Đồng Tước khoá xuân hai Kiều. [18]
157. Nước non cách mấy buồng thêu, [19]
Những là trộm nhớ thầm yêu chuốc mòng. [20]
159. May thay giải cấu tương phùng, [21]
Gặp tuần đố lá thoả lòng tìm hoa. [22]
161. Bóng hồng nhác thấy nẻo xa, [23]
Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai. [24]
163. Người quốc sắc, kẻ thiên tài, [25, 26]
Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.
165. Chập chờn cơn tỉnh cơn mê.
Rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn khôn.
167. Bóng tà như giục cơn buồn,
Khách đà lên ngựa, người còn nghé theo.
169. Dưới cầu nước chảy trong veo,
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.
171. Kiều từ trở gót trướng hoa,
Mặt trời gác núi chiêng già thu không. [27]
173. Mảnh trăng chênh chếch dòm song, [28]
Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân.
175. Hải đường lả ngọn đông lân, [29]
Giọt sương trĩu nặng cành xuân la đà.
177. Một mình lặng ngắm bóng nga, [30]
Rộn đường gần với nỗi xa bời bời:
179. Người mà đến thế thì thôi, [31]
Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi!
181. Người đâu gặp gỡ làm chi, [32]
Trăm năm biết có duyên gì hay không? [33]
183. Ngổn ngang trăm mối bên lòng,
Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình. [34]
185. Chênh chênh bóng nguyệt xế mành,
Tựa nương bên triện một mình thiu thiu. [35]
187. Thoắt đâu thấy một tiểu kiều, [36]
Có chiều thanh vận, có chiều thanh tân. [37]
189. Sương in mặt, tuyết pha thân, [38]
Sen vàng lững đững như gần như xa.
191. Rước mừng đon hỏi dò la:

“Đào nguyên lạc lối đâu mà đến đây?” [39]

193. Thưa rằng: “Thanh khí xưa nay, [40]

Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên.
195. Hàn gia ở mé tây thiên, [41, 42]
Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu.
197. Mấy lòng hạ cố đến nhau, [43]
Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng. [44, 45]
199. Vâng trình hội chủ xem tường, [46]
Mà sao trong sổ Đoạn Trường có tên. [47]
201. Âu đành quả kiếp nhân duyên, [48]
Cũng người một hội, một thuyền đâu xa! [49]
203. Này mười bài mới mới ra, [49a]
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời.”  [50, 51]

205. Kiều vâng lĩnh ý đề bài,
Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm. [52]
207. Xem thơ nức nở khen thầm:

“Giá đành tú khẩu cẩm tâm khác thường [53]
209. Ví đem vào tập Đoạn Trường [54]
Thì lèo giải nhất chi nhường cho ai.” [55]

211. Thềm hoa khách đã giở hài,
Nàng còn nắm lại một hai tự tình.
213. Gió đâu sịch bức mành mành,
Tỉnh ra mới biết rằng mình chiêm bao.
215. Trông theo nào thấy đâu nào
Hương thừa dường hãy ra vào đâu đây.
217. Một mình lường lự canh chầy, [56]

Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.
219. Hoa trôi bèo dạt đã rành, [57]
Biết duyên mình, biết phận mình thế thôi!
221. Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi, [58]
Nghĩ đòi cơn lại sụt sùi đòi cơn.
223. Giọng kiều rên rỉ trướng loan, [59]
Nhà Huyên chợt tỉnh hỏi: “Cơn cớ gì? [60]

225. Cớ sao trằn trọc canh khuya,

“Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa?” [61]

227. Thưa rằng: “Chút phận ngây thơ,

Dưỡng sinh đôi nợ tóc tơ chưa đền. [62]
229. Buổi ngày chơi mả Đạm Tiên,
Nhắp đi thoắt thấy ứng liền chiêm bao.
231. Đoạn trường là số thế nào,
Bài ra thế ấy, vịnh vào thế kia.
233. Cứ trong mộng triệu mà suy, [63]
Phận con thôi có ra gì mai sau!”
235. Dạy rằng: “Mộng ảo cứ đâu, [64]

Bỗng không mua não chuốc sầu nghĩ nao.”
237. Vâng lời khuyên giải thấp cao

Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch tương

239. Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng
Nách tường bông liễu bay ngang trước mành.
241. Hiên tà gác bóng chênh chênh,
Nỗi riêng, riêng trạnh tấc riêng một mình.

 Đính chính và xác định

Câu 150: Văn chương nếp đất, thông minh tính trời Chữ nếp trong câu này nghĩa là lề thói đã quen như tờ giấy đã gấp thành nếp sẵn, lúc gập lại rất dễ. Chữ đất đây là mồ mả tổ tiên táng vào được ngôi đất tốt, khiến con cháu được phát đạt. Văn chương nếp đất = Kim Trọng được nền nếp sẵn sàng của mồ mả tổ tiên phát về văn chương, nên chàng học giỏi. Nhiều bản quốc ngữ in thành “văn chương nét đất” là lầm và vô nghĩa. Chữ nếp câu này liền với chữ nền câu trên “Nền phú hậu, bậc tài danh.”

Câu 169: Dưới cầu nước chảy trong veo / bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha lấy hai chữ cầu làm cốt vừa để tả cảnh chiều buồn, vừa ngầm tả cảnh Kiều nghé theo mãi cho đến khi Kim Trọng đã qua cầu và đi khuất bóng rồi, mà nàng vẫn còn vẩn vơ nghĩ: thế là vắng chàng rồi, chỉ còn trơ chiếc cầu không trên dòng nước trong veo, không còn bóng chàng cưỡi ngựa qua cầu nữa, và chỉ còn ngọn liễu phất phơ thướt tha như đưa chàng đi. Những bản đổi chữ “dưới cầu” ra “dưới dòng” thật là lầm, đã làm mất cả ý nghĩa tế nhị thâm trầm đó, và còn có thể biến nó thành vô nghĩa nữa.  

Câu 172: Mặt trời gác núi chiêng già thu không lấy điển từ câu thơ của một thi sĩ đời Đường gửi cho bạn tơ lòng mong nhớ [何 時 最 是 思 君 处, 日 入 斜 窗 晚 寺 鐘 = hà thì tối thị tư quân xứ, nhật nhập tà song vãn tự chung = nhớ anh nhất ấy lúc nào, nắng xiên cửa sổ, chuông chiều chùa vang]. Chiêng già = Chuông chùa đánh lúc chiều tối để niệm Phật và gọi các cô hồn về chùa nương bóng Phật. Câu này cũng như câu trên vừa tả cảnh buồn, vừa ngẫm tả tình nhớ của Kiều. Những bản in “… chiêng đà thu không” đã bỏ mất cái ý tế nhị âm thầm nhớ chàng Kim. Vậy cần phải đính chính lại là “Mặt trời gác núi, chiêng già thu không.”

Câu 176: Giọt sương trĩu nặng cành xuân la đà = Hạt sương bám dần vào thành những giọt nước ở dưới lá làm cành cây nặng trĩu xuống. Có bản quốc ngữ in là “gieo nặng” thành ra vô nghĩa. Chữ nôm trĩu (thủ [扌]+ liễu []) có bản nôm in sai là [招] (Hán = triệu, nôm = gieo).

Câu 190: Hai chữ lững đững ở câu này chữ nôm viết là [浪 蕩] “lãng đãng” nhưng tôi nghĩ chỉ có “lững đững” là vừa hợp tiếng vừa hợp lý hơn, vì lững đững là dở như có, dở như không, gần không ra gần, xa không ra xa, đúng như hồn ma hiện.

Câu 191: Rước mừng đon hỏi dò la – Chữ đon đây nghĩa là đon đả tỏ tình thân quý. Nhiều bản quốc ngữ in sai ra đón là thừa, vì đã ra rước mừng rồi còn đón làm gì nữa. Bản nôm viết chữ đon [敦] thì đúng hơn.

Câu 195: Hàn gia ở tây thiên – Chữ nôm mé (viết = hán [厂]+ mãi [買]) ở câu này các bản quốc ngữ đều dịch lầm ra mái thật vô nghĩa. Thiên là bờ ruộng; ở mé tây thiên là ở bên bờ ruộng phía tây.

Câu 210: Thì lèo giải nhất chi nhường cho ai – Chữ lèo đây là giải băng vải hay giấy treo ở trên giải thưởng, ghi là phần thưởng hạng mấy. Trước khi ai muốn tranh phần thưởng nào thì trình diện với ban giám khảo, rồi chắp hai tay sẽ vuốt cái lèo giải ấy mà ra thi. Bởi vậy ta gọi phần thưởng là giải thưởng, và có câu “tranh lèo giật giải.” Chữ lèo hết thảy các bản Kiều quốc ngữ đều dịch là treo, nghĩa rất không trôi chảy, vì thế là không nhường cho ai sự treo giải nhất, chứ không phải nhường giải nhất. Có sự lầm vậy là vì chữ lèo nôm [繚] (= mịch [糸]+ liêu [尞]), rồi sau khắc lầm ra treo nôm [撩] (= thủ [扌] + liêu [尞]). Người dịch đầu tiên không nghĩ ra, dịch bừa là treo, rồi người sau cứ theo lầm mãi.

Câu 231: Đoạn trường là sổ thế nào – Chữ sổ ở câu này ứng với sổ đoạn trường ở câu lời Đạm Tiên nói ở trên: Mà xem trong sổ đoạn trường có tên. Hết thảy các bản Kiều quốc ngữ đều dịch ra số, thật không khẩn thiết với lời báo mộng.

Câu 235: Dạy rằng mộng ảo cứ đâu – Chữ mộng ảo câu này có bản viết là mộng triệu. Mộng triệu là điềm báo lúc mê ngủ, chứ không có nghĩa hão huyền chẳng đáng tin như mộng ảo. Tôi nghĩ mộng ảo đúng vào nghĩa câu này hơn là mộng triệu.

Câu 240: Nách tường bông liễu bay ngang trước mành – Nhiều bản Kiều quốc ngữ e chữ mành không vần với chữ nghiêng ở câu sau nên đổi bừa ra là “Nách tường bông liễu bay sang láng giềng” thật là vô nghĩa, mất cả vẻ đẹp vẻ hay của câu này. Họ không hiểu các vần anh, inh, ênh vẫn có vần với iêng.

Chú thích và dẫn điển

[1] Lỏng buông tay khấu = Tay khấu là tay cầm cương ngựa. Khi cưỡi ngựa, tay cầm cương co đầu ngựa cao lên thì nó chạy, buông lỏng chùng cương cho đầu ngựa hạ xuống thì nó đi chậm. Vậy, lỏng buông tay khấu = Tay cầm dây cương buông thật dài ra cho ngựa đi bước một rất thong thả.

[2] Dặm băng = đường phẳng rộng rãi dễ đi.

[3 Lưng túi gió trăng = phong lưu đi dạo phong cảnh có mang túi thơ đi theo, để ngâm vịnh được bài thơ nào thì chép đựng vào túi đó.

[4] Tuyết in sắc ngựa câu dòn = ngựa non chàng cưỡi đẹp, sắc trắng ngần như tuyết. Ngựa câu = ngựa khỏe đang sức lớn chạy nhanh. Dòn = tươi đẹp.

[5] Cỏ pha mùi áo nhuộm non da trời = màu áo nhuộm sắc lam non nhợt, ta cũng gọi là màu thiên thanh hay màu hồ thủy.

[6] Hài văn = giày có thêu hoa đẹp đẽ lịch sự.

[7] Một vùng như thể cây quỳnh cành dao diễn tả hình ảnh người đàn ông đẹp, lấy từ điển tích [王 衍 如 琼 林 玉 樹 = Vương Diễn như quỳnh lâm ngọc thụ = Vương Diễn đẹp như cây ngọc dao ở trong rừng ngọc quỳnh].

[8] Hai Kiều = Hai cô gái đẹp, tức là Kiều và Vân. (Xem lời giải số 18 ở dưới).

[9] Nhà trâm anh = Dòng dõi làm quan. Các quan lúc trước khi mặc triều phục vẫn gài cái trâm ở búi tóc để giữ mũ cho ngay, và buộc đôi giải mũ (chữ Hán là anh [纓]) rũ xuống sau lưng.

[10] Nền phú hậu = Giàu có và lòng tử tế trung hậu.

[11] Bực tài danh = Nổi danh tiếng là hạng người có tài hoa.

[12] Nếp đất – Xem lời đính chính câu 150 bên trên.

[13] Phong tư [丰姿] = vẻ mặt đẹp đẽ đầy đặn. Tài mạo [才貌] = mặt mũi linh lợi, khôi ngô, trông biết ngay là người tài giỏi.

[14] Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa = Tính tình bên trong thì rất vui vẻ, nhã nhặn, và cách ăn ở bên ngoài thì trông rất hào hoa, lịch sự.

[15] Hào hoa = Cư xử hào phóng, lịch sự.

16/ Song thân [窗親] = Bạn học chung buồng học với nhau, khác với song thân [双親] là hai bố mẹ.

[17] Hương lân [鄕鄰] = Làng kế bên.

[18] Một nền đồng tước khóa xuân hai Kiều mượn ý câu cuối cùng của bài thơ Đỗ Mục vịnh trận Xích Bích để nói nhà họ Vương có hai cô con gái đẹp chưa chồng. Bài thơ đó như sau:

• [折 戟 沈/沉 沙 鉄 未 銷 = triết kích trầm sa thiết vị tiêu = ngọn giáo gẫy chìm ở các sông mũi sắt chưa tiêu hết] • [私 將 磨 洗 認 前朝 = tư tương ma tẩy nhận tiền triều = ta đem lên mài rửa để xem về triều đại nào]• [東 風 不 與 周 郎 便 = đông phong bất dữ chu lang tiện = nếu trận Xích Bích gió đông không giúp phương tiện cho Chu Du] • [銅 雀 春 深 鎖 二 嬌 = Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều = thì hai cô gái họ Kiều sẽ bị khóa xuân ở nền Đồng Tước].

[19] Buồng thêu = Buồng đàn bà, con gái ngồi thêu dệt. Nước non cách mấy buồng thêu lấy điển từ câu trong sách cổ [相 親 咫 尺 而 渺 若 山 河 = tương thân chỉ xích nhi diểu nhược sơn hà = gần nhau chỉ một gang một thước, mà hóa cách xa nhau như cách núi cách sông].

[20] Trộm dấu thầm yêu chốc mòng Dấu = Yêu một cách sâu xa êm đềm. Trộm dấu = Đem lòng mơ ước ngầm không dám nói với ai. Chốc mòng = Ao ước mơ mòng (nhiều bản quốc ngữ dịch chữ chốc mòng [祝蒙] này là chuốc mòng và giảng nghĩa gượng là bao lâu nay hoặc biết bao nhiêu).

[21] Giải cấu tương phùng lấy điển từ Kinh Thi [邂 遘 相 逢 適 我 願 兮 = giải cấu tương phùng, thích ngã nguyện hề = tình cờ gặp nhau, thật thỏa lòng ước nguyện của ta].

[22] Đố lá = Trong những dịp dạo cảnh xuân, thường có những cuộc đố lá với nhau. Mỗi người mang một cái túi, gặp thứ cây cỏ nào cũng sẽ hái một nhúm lá bỏ vào túi. Cốt phải hái cho nhanh, kẻo tiếng hiệu gọi về hái không kịp. Khi về đấu nhau, ai được nhiều thứ hơn người kia thì thắng cuộc.

[23] Bóng hồng là bởi nhóm chữ [美 人 紅 影 = mỹ nhân hồng ảnh = bóng dáng đẹp của đàn bà con gái].

[24] Xuân lan thu cúc Vua Hậu Chủ nhà Trần bị nhà Tùy bắt, vua nhà Tùy hỏi: “Hai người ái phi của nhà ngươi ai đẹp hơn ai?” Hậu Chủ thưa: [春 蘭 秋 菊 皆 一 時 之 秀 也 = xuân lan thu cúc, giai nhất thì chi tú dã = hoa lan mùa xuân, hoa cúc mùa thu đều là thứ hoa đẹp nhất một mùa]. Ý nói mỗi người đẹp nhất một vẻ, không thể nào phân bì hơn kém được.

[25] Quốc sắc = Người con gái đẹp nổi tiếng trong nước.

[26] Thiên tài = Người có tài hoa trời cho hơn hẳn mọi người.

[27] Chiêng già = Tiếng chuông chùa. Thu không = Đánh lúc hết ngày. Ở các vòm lính canh lúc chập tối đánh trống báo hết ngày gọi là trống thu không; đánh báo hết đêm gọi là trống tan canh.

[28] Gương nga = Mặt trăng.

[29] Hải đường lả ngọn đông lân = Mặt trăng buổi chiều tối hôm Thanh minh, đầu tháng ba, đứng ở phía tây, nên bóng ngọn cây hải đường trông như lả về phía đông. Câu này còn dùng ý tả ngầm: thế là lòng Kiều đã ngả về đông lân rồi, không còn tường đông ong bướm đi về mặc ai nữa. Nhiều câu tác giả tả cảnh thường ngầm ý tả tình như vậy thật là thiên tài.

[30] Tố nga = Mặt trăng.

[31] Người mà đến thế thì thôi Người mà = Đạm Tiên.

[32] Người đâu gặp gỡ làm chi Người đâu = Kim Trọng.

[33] Trăm năm = Duyên vợ chồng.

[34] Câu tuyệt diệu = câu văn thơ hay tột bực, lấy điển ở bốn chữ [絶 妙 好 辞 = tuyệt diệu hảo từ = lời hay rất mực]. Điển tích như sau: Tào Tháo đọc một tấm bia, thấy có lời Sái Ung [蔡邕] phê 8 chữ [黄 絹 幼 婦 外 孫 齏 臼] : • [黄 絹] = hoàng quyên = lụa vàng • [幼 婦] = ấu phụ = con gái nhỏ • [外孫] = ngoại tôn = cháu ngoại • [齏 臼] = tê cửu = cối giã gừng ớt]. Tháo không hiểu nghĩa mới hỏi nàng Sái Văn Cơ [蔡文姬] “Câu cha nàng phê thế nghĩa là gì?” Văn Cơ không biết, Dương Tu thưa: “Đó là bốn chữ tuyệt diệu hảo từ [絶 妙 好 辞], và chàng giảng cho Tháo nghe: • lụa vàng là ti sắc [絲 色] (sắc tơ tằm) hợp thành chữ [絶] (tuyệt = rất) • Con gái nhỏ là thiếu nữ [少 女] hợp thành chữ [妙] (diệu = thần diệu) • Cháu ngoại là [女 子] (con của con gái) hợp thành chữ [好] (hảo = hay) • Cối giã gừng là thụ tân [受 辛] (chịu cay) hợp thành [辤] (từ = lời). Tháo giật mình và chịu Dương Tu là thông minh, tài đoán.

[35] Triện = Chắn song cửa sổ đóng thành hình chữ triện (hoặc như chữ thọ hình tròn, chữ phúc hình vuông).

[36] Tiểu Kiều = Người con gái trẻ, lấy điển từ các chữ đại Kiều [大喬] và tiểu Kiều [小喬] là hai cô họ Kiều. Xem lời giải [18] bên trên.

[37] Phong vận = Có vẻ tài hoa phong nhã. Thanh tân = Có vẻ trong trắng như con gái chưa chồng.

[38] Sương in mặt, tuyết pha thân = Người trong trắng đẹp, nhưng có vẻ lạnh lùng như sương như tuyết. Lấy 6 chữ này để tả vẻ đẹp của người con gái ma thì quá đúng.

[39] Đào nguyên = Nguồn đào. Truyện kể đời nhà Tấn (205-420) có người ngư phủ ngược thuyền lên mãi vào một con suối hai bờ toàn những cây đào hoa nở rất đẹp. Mến cảnh, ngư phủ vượt mãi lên vào một khu động phong cảnh rất đẹp, dân cư rất vui vẻ thái bình, tranh nhau đón tiếp ông ta. Họ kể cho nghe là tổ tiên họ tránh loạn nhà Tần (221-206 trước tây lịch) vào ở đó. Họ rất thích thú khi được ngư phủ kể cho nghe chuyện ở ngoài Tần mất, Hán lên, Hán mất, Tấn lên. Ngư phủ về thăm nhà, rồi muốn mang gia đình lên ở thì không tìm được lối lên nguồn đào nữa. Người sau dùng chữ đào nguyên để nói cảnh tiên.

[40] Thanh khí = Cùng chung một khí chất. Kinh dịch viết [同声相應同氣相求= đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu = hai tiếng nhạc cùng một âm luật thì vang ứng với nhau, hai vật cùng một khí chất thì tìm hút nhau]. Đây nói vì Kiều chung một tâm tình với Đạm Tiên nên họ cảm mến nhau.

[41] Hàn gia [寒家] = Nhà rét lạnh = lời nói khiêm tốn kêu nhà mình là nhà nghèo ở không được ấm áp. Nhưng ở đây hàn gia rõ hợp với cảnh một ngôi mộ quanh năm lạnh lùng chẳng ai hương khói thăm cúng.

[42] Tây thiên [西阡] Bốn bờ ruộng thì hai bờ đầu nam đầu bắc gọi là thiên [阡], hai bờ đầu đông đầu tây gọi là mạch [陌]. Câu này chỉ có 6 chữ mà tả rõ được mả nàng ở một mé bên bờ phía tây đầu nam đầu bắc.

[43] Mấy lòng hạ cố đến nhau = Tấmlòng quý hóa biết bao nhiêu mà cúi xuống đoái nhìn đến tôi !

[44] Mấy lời hạ tứ = Mấy bài thơ ban xuống cho tôi. Hai chữ hạ cố [下顧] và hạ tứ [下賜] đúng với ý nghĩa người ở dưới mả nói với người ở trên.

[45] Ném châu gieo vàng = Hai bài thơ Kiều đề ở gốc cây vịnh nàng Đạm Tiên, lời như vàng như ngọc tuôn ra.

[46] Hội chủ = Bà chủ hội đoạn trường. Chủ đoạn trường lấy nguồn gốc từ truyện một con vượn mẹ thấy con mình bị người bắn chết, nó ôm lấy thây con rồi kêu thảm thiết mà lăn ra chết ; khi người ta mổ nó ra thấy ruột nó đứt thành nhiều đoạn. Sau có nhà văn sĩ dùng nhóm chữ đoạn trường thanh (tiếng đứt ruột) mà đặt tên một cuốn sách ông ta viết. Bởi thế ông Nguyễn Du mới đặt tên truyện Kiều là Tiếng đứt ruột mới.

[47] Sổ đoạn trường = Cuốn sổ biên tên những người số mắc kiếp đoạn trường hoặc đã qua đời như Đạm Tiên, hoặc còn sống mà chưa gặp kiếp đoạn trường như Kiều.

[48] Quả kiếp nhân duyên [果 劫 因 緣]  Theo sách nhà Phật thì kiếp này mình được sung sướng hay phải khổ sở là cái quả báo của việc thiện hay ác mình đã làm kiếp trước. Bởi vậy, ta hay dùng chữ quả kiếp để nói sự khổ nhục là cái quả báo để chuộc lại tội ác mình đã làm kiếp trước. Câu Đạm Tiên nói này nghĩa là : Chúng ta chỉ là vì có cái nhân duyên cùng chung một kiếp quả báo với nhau mà được gặp nhau đây.

[49] Một hội một thuyền = Kẻ trước người sau chung một số kiếp trong hội đoạn trường, cũng như cùng đi với nhau trong một chiếc thuyền ở trên bến mê, đưa người đi trước, đón người đi sau.

[49a] Đầu đề 10 bài thơ mới ra đó là :

1. Tích đa tài [惜 多 才 = đáng tiếc cho mình sao lại nhiều tài].

2. Liên bạc mệnh [怜 薄 命 = thương mệnh bạc].

3. Bi kì lộ [悲 歧 路 = đau cực chỗ đường rẽ].

4. Ức cố nhân [億 故 人 = nhớ người cũ].

5. Niệm nô Kiều [念 奴 娇 = nghĩ thương phận con gái].

6. Ai thanh xuân [哀 青 春 = thương tuổi xuân xanh].

7. Ta kiển ngộ [嗟 騫 遇 = than bước long đong].

8. Khổ linh lạc [苦 零 洛 = khổ thân lưu lạc].

9. Mộng cố viên [夢 故 園 = mơ quê cũ].

10. Khốc tương tư [哭 相 思 = khóc nhớ nhau].

Mười đầu đề này tả đủ kiếp khổ đau của Kiều sau này.

[50] Câu thần = Câu thơ hay như có thần giúp mới làm được, gọi là thần cú [神句].

[51] Bút hoa [筆花] Lý Bạch xưa lúc trẻ mơ thấy cái bút ông đương viết bỗng mọc cái hoa đẹp, từ đó ông nảy tài làm thơ nổi tiếng khắp nước, nên người sau gọi bút người tài thơ là bút hoa.

[52] Khúc ngâm = Bài thơ, bài hát.

[53] Tú khẩu cẩm tâm [繡 口 錦 心] = lời thơ ở miệng ra đẹp như thêu hoa, ý thơ nghĩ ở trong lòng ra đẹp như dệt gấm.

[54] Tập đoạn trường = Tập thơ của những khách đoạn trường tả cảnh đau thương của mình đưa cho chủ hội đoạn trường.

[55] Lèo giải nhất Xem lời đính chính câu 210 bên trên.

[56] Lượng lự = Suy lường lo nghĩ. Bản nôm in là [量慮] (lượng lự). Các bản Kiều dịch lầm ra lưỡng lự, không đúng nghĩa ở chỗ này, vì lưỡng lự nghĩa là dùng dằng chưa biết theo đường nào trong hai đường, không hợp lý ở đây.

[57] Hoa trôi bèo giạt = Kiếp long đong khổ sở nay đây mai đó như hoa trôi theo dòng suối, bèo giạt theo luồng gió thổi.

[58] Lớp lớp sóng giồi = Chưa hết điều lo nọ, lại dồn đến điều lo kia như cánh bèo ở mặt sóng, hết làn sóng nọ đến làn sóng kia nhận chìm xuống.

[59] Giọng kiều = Giọng non trẻ của con gái. Nhiều bản quốc ngữ in là “giọng Kiều (nghĩa là giọng cô Kiều) thật mất cái ý hay của chữ giọng.

[60] Nhà huyên = Mẹ, do chữ huyên thất [萱室] dịch ra. Kinh Thi có câu [安 得 萱 草 言 樹 之 背 = yên đắc huyên thảo ngôn thụ chi bối = ước sao được cây cỏ huyên để trồng ở trước buồng hướng bắc (tức là buồng mẹ ở)]. Bởi vậy các văn sĩ sau mới gọi mẹ là huyên đường [萱 堂] (nhà huyên). Cỏ huyên giống cây huệ, lá hình lưỡi gươm, hoa 6 cánh màu vàng hay đỏ, ăn được, phơi khô gọi là kim châm. Cây huyên xanh suốt năm, nên người xưa trồng ở trước nhà mẹ ở để chúc mẹ khỏe mạnh luôn luôn.

[61] Mầu hoa lê hãy đầm đìa hạt mưa lấy điển tích từ bài Trường Hận Ca [長 恨 歌] của Bạch Cư Dị tả hình Dương Quý Phi ở cung tiên khóc khi thấy sứ giả của Minh Hoàng đến tìm [玉容 寂 寞 淚 闌 干 棃 花 一 枝 春 帶 雨 = ngọc dung tịch mịch lệ lan can, lê hoa nhất chi xuân đái vũ = mặt ngọc u buồn, nước mắt đầm đìa, như một cành hoa lê mang những giọt mưa xuân].

[62[Dưỡng sinh đôi nợ = Công lao cha sinh, mẹ dưỡng.

[63] Mộng triệu [夢 兆] = Điềm báo trong giấc mơ.

[64] Mộng ảo = Mơ ảo trong giấc mộng chẳng đáng tin.

[65] Mạch tương = Nguồn cơn tương tư Kim Trọng. Chữ mạch tương lấy điển từ câu thơ [君 在 湘 江 頭, 妾 在 湘 江 尾, 相 顧 不 相 見, 同 飲 湘 江 水 = quân tại Tương giang đầu, thiếp tại Tương giang vĩ, tương cố bất tương kiến, đồng ẩm Tương giang thủy = chàng ở đầu sông Tương, thiếp ở cuối sông Tương, trông nhau chẳng thấy nhau, cùng uống nước sông Tương”]. Dào mạch tương là giào giạt lòng nhớ ; nhiều bản Truyện Kiều giảng lầm chữ mạch tương là nước mắt khóc lấy điển ở truyện hai bà Nga Hoàng, Nữ Anh khóc vua Thuấn ở bờ sông Tương. Giảng thế thật không đúng trường hợp Kiều bây giờ, vì Kiều khi đó chỉ ao ước lấy được Kim Trọng để gỡ số bạc mệnh chứ đâu có khóc.

Diễn ra văn xuôi

Câu 133 và 134 = Ba chị em còn đang dùng dằng nữa muốn ở, nữa muốn về, thì bỗng nghe tiếng nhạc ngựa lại gần.

Câu 135 và 136 = Đưa mắt lên trông thì thấy một văn nhân buông lỏng tay cương cho ngựa đi thong thả trên đường rộng thẳng.

Câu 137 và 138 = Văn nhân vừa đi vừa ngắm cảnh, có vẻ ung dung. Lòng đầy cao hứng vịnh thơ, sau ngựa có mấy đứa nhỏ đi theo.

Câu 139 và 140 = Chàng cưỡi một con ngựa non sắc trắng ngần, và mặc áo nhuộm xanh da trời.

Câu 141 và 142 = Chị em vừa trông rõ mặt ở nẻo xa, thì người khách đó đã xuống ngựa tiến đến nơi nói truyện.

Câu 143 và 144 = Người khách lần lần đưa đôi giày thêu bước trên đường cỏ xanh, đi đến đâu đẹp lây cho cả vùng đến đấy, trông như cây ngọc quỳnh cành ngọc dao một lượt.

Câu 145 và 146 = Vương Quan vì quen mặt người khách thì chạy ra chào, còn hai cô gái thì e lệ, lánh mặt vào bụi hoa.

Câu 147 và 148 = Chàng khách này nguyên vẫn là người vùng quanh quẩn gần đó, chứ đâu xa lạ gì. Họ chàng là Kim, tên chàng là Trọng và vốn là một nhà dòng dõi trâm anh xưa nay.

Câu 149 và 150 = Chàng đã là con nhà nền nếp giàu có phúc hậu, lại nổi tiếng là bậc tài hoa, đã sẵn đất phát văn chương, lại được trời cho bản chất thông minh.

Câu 151 và 152 = Mặt mày đẹp đẽ nở nang, rõ có vẻ tài giỏi hơn người, trong lòng thì phóng khoáng nhã nhặn, mà bên ngoài thì rất hào hoa lịch sự.

Câu 153 và 154 = Chàng cùng ở một vùng với nhà họ Vương và là bạn chung đèn chung sách với Vương Quan.

Câu 155 và 156 = Chàng vẫn nghe tiếng đồn lừng lẫy là nhà họ Vương ở làng bên có gái cấm cung đẹp như hai cô họ Kiều ở đời Tam Quốc.

Câu 157 và 158 = Tuy ở gần một vùng mà sao buồng hai cô ngồi thêu thùa lại xa như cách sông cách núi, khiến chàng luống những mang lòng yêu dấu thầm kín, ước mong tha thiết.

Câu 159 và 160 = May sao nay tình cờ được gặp nhau trong cuộc đạp thanh đố lá này, thật là thỏa lòng tìm hoa của chàng.

Câu 161 và 162 = Nhác trông thấy bóng dáng hai cô ở nẻo xa, cô nào cũng tươi đẹp thanh tao, cô thì như hoa lan mùa xuân, cô thì như hoa cúc mùa thu, cô nào cũng một vẻ mặn mà tuyệt vời.

Câu 163 và 164 = Một bên là gái quốc sắc, một bên là trai thiên tài ; hai bên trông thấy nhau, trong lòng đã để ý đầy tình cảm với nhau ngay, chỉ còn e lệ chưa dám tỏ ra ngoài mặt với nhau thôi.

Câu 165 và 166 = Chàng thì chập chờn lúc như tỉnh, lúc như mê ; ngồi dốn mãi đó thì không tiện, làm mất tự do của hai cô, mà đứng dậy ra về thì nào có dứt được lòng tiếc rẻ.

Câu 167 và 168 = Bóng chiều xế thấp dần như thúc giục chàng về, làm cho chàng tăng dần cơn buồn tiếc. Khi chàng bất đắc dĩ lên ngựa ra về rồi, nàng đưa ngay mắt nghé theo nhìn chàng mãi.

Câu 169 và 170 = Nàng nhìn theo mãi cho đến lúc khách đã qua cầu khuất bóng rồi, chỉ còn ở dưới cầu thì dòng nước chảy trong veo, chẳng còn bóng khách nữa và ở đầu cầu thì mấy cành tơ liễu thướt tha trong bóng chiều hôm như buồn tiễn khách đi.

Câu 171 và 172 = Lúc Kiều về đến nhà rồi, thì mặt trời đã nằm gác ở trên núi phía tây và chuông chùa đã thỉnh hồi thu không làm lễ chiêu mộ.

Câu 173 và 174 = Mặt trăng đã nghiêng nghiêng dòm vào trong cửa sổ, ánh trăng thành những ánh vàng ở trên mặt nước, và bóng cây in xuống mặt sân.

Câu 175 và 176 = Cây hải đường trông như ngả ngọn sang nhà hàng xóm phía đông ; cành lá xanh non mùa xuân đầm đìa nặng trĩu những hạt sương rũ xuống như người la đà buồn ngủ đầu không ngóc lên được.

Câu 177 và 178 = Nàng ngồi một mình lặng lẽ ngắm trăng, trong lòng rộn rã tơi bời, lúc thì nghĩ chuyện gần như thương Đạm Tiên, như nhớ Kim Trọng, lúc lại nghĩ đến chuyện xa như lo số bạc mệnh, như mong lấy được Kim Trọng để nhờ phúc âm chồng mà gỡ khỏi số kiếp đó.

Câu 179 và 180 = Nghĩ đến Đạm Tiên, nàng than : Người mà bạc mệnh đến thế là cùng, cái đời phồn hoa của nàng thật là đời uổng phí đáng bỏ đi.

Câu 181 và 182 = Nghĩ đến Kim Trọng, nàng lo : Trời cho gặp gỡ nhau để làm chi vậy ? Chẳng biết sau này có nên vợ nên chồng không đây ?

Câu 183 và 184 = Nàng nghĩ ngổn ngang trăm mối trong lòng, rồi làm một bài thơ rất hay để tỏ tâm sự.

Câu 185 và 186 = Trăng lúc đó xuống thấp ngang trước mành, nàng ngồi một mình tựa lưng vào bực trấn song ghép hình chữ triện mà thiu thiu ngủ.

Câu 187 và 188 = Bỗng nàng thấy một cô gái trẻ, vừa có vẻ lịch sự tài hoa, vừa mơn mởn thanh tân rất đẹp.

Câu 189 và 190 = Mặt như in màu sương, thân như pha vẻ tuyết, lững đững đưa đôi gót sen, phảng phảng phất phất lúc như tiến lại gần, lúc như lảng đi xa.

Câu 191 và 192 – Nàng vội chạy ra đón rước và đon đả hỏi han : Tiên nữ ở đào nguyên đi đâu mà lại lạc lối vào đây ?

Câu 193 và 194 = Cô gái thưa : Chị em ta là chỗ thanh khí với nhau, mới gặp nhau lúc ban ngày mà giờ đã quên nhau rồi !

Câu 195 và 196 = Căn nhà nghèo lạnh của em ở mé bên bờ phía tây, gần một ngòi nước chảy mà bên trên có cầu bắc qua.

Câu 197 và 198 = Em cám ơn chị đã có lòng tử tế rất nhiều đoái hoài ngó xuống đến em, mấy bài thơ chị ban xuống cho em thật hay tinh những lời vàng tiếng ngọc vang ra.

Câu 199 và 200 = Em đã đưa lên cho bà chủ hội đoạn trường xem rõ và tra trong sổ đoạn trường thì ra cũng có tên chị.

Câu 201 và 202 = Ôi ta đành chịu vậy, âu đó cũng là nhân duyên của chị em ta chung một quả kiếp, thành ra vẫn là người trong một hội một thuyền với nhau, chẳng xa lạ gì !

Câu 203 và 204 = Này đây có 10 đầu bài thơ vừa mới ra, cần phải nhờ cái ngọn bút tinh hoa của chị vẽ vời nên những câu thơ thần tô điểm cho !

Câu 205 và 206 = Kiều vâng lĩnh nhận ngay 10 đầu đề và theo ý mỗi đầu đề làm thành một bài. Nàng cầm bút và đưa tay thơ tiên nàng ra mà viết luôn một hồi, chỉ trong chốc lát đủ cả mười bài.

Câu 207 và 208 = Đạm Tiên xem thơ nức nở khen thầm rồi nói : Thơ lời đẹp như hoa thêu, ý hay như gấm dệt, giá trị thật khác thường.

Câu 209 và 210 = Ví đem biên vào tập thơ đoạn trường, thì cái lèo giải nhất chắc là chị chẳng để ai tranh được !

Câu 211 và 212 = Trước thềm hoa cô khách đã trở bước ra đi, mà Kiều còn muốn nắm áo giữ lại để nói chuyện thêm nữa.

Câu 213 và 214 = Một cơn gió thổi lay động bức mành xịch một tiếng, nàng sực tỉnh ra mới biết là mình mơ ngủ.

Câu 215 và 216 = Nàng trông theo thì chẳng thấy cô khách mà hình như còn thoảng thấy mùi thơm vẫn quanh quất bên mình nàng.

Câu 217 và 218 = Rồi nàng vào nằm suy lường lo nghĩ một mình lúc canh khuya. Nàng nghĩ đến những nông nỗi trong bước đường xa sau này của mình và lo sợ lắm.

Câu 219 và 220 = Nàng lo nghĩ : Theo điềm mộng vừa rồi, thì rành rõ đời ta sẽ lưu lạc như hoa trôi theo giòng nước, như bèo giạt trước gió sóng. Đạm Tiên đã nói ta cũng có tên trong sổ đoạn trường như nàng, thì chắc ta cũng sống cuộc đời phồn hoa đầy đọa như nàng, chết không ai viếng mả như nàng, ta biết duyên phận ta chẳng ra gì thế thôi, nhưng biết gỡ sao khỏi được !

Câu 221 và 222 = Nàng càng nghĩ, lòng nàng càng cực cội, hết cơn nọ đến cơn kia, dồn dập như làn sóng mặt sông mặt biển ; mỗi cơn cực cội lại một cơn sụt sùi khóc theo.

Câu 223 và 224 = Giọng rền rĩ nỉ non của nàng ở trong mùng làm cho bà mẹ tỉnh dậy hỏi can cớ gì mà khóc.

Câu 225 và 226 = Bà hỏi : Cớ sao mà lại đêm khuya trằn trọc không ngủ lại giàn giụa nước mắt như cành hoa lê đầm đìa mưa xuân như vậy ?

Câu 227 và 228 = Nàng thưa rằng : Con còn trẻ tuổi ngây thơ, chưa báo đáp được công đức cha sinh mẹ dưỡng một chút mảy may nào.

Câu 229 và 230 = Vì ban ngày con thăm mả Đạm Tiên, vừa rồi con chợt ngủ đi, thấy Đạm Tiên báo mộng cho con biết ngay số phận của con sau này.

Câu 231 và 232 = Nàng kể rõ cho bà nghe : nào sổ đoạn trường là sổ thế nào mà nàng cũng có tên ở trong, nào là mười đầu đề thơ Đạm Tiên đưa nhờ nàng làm, và nàng làm như thế nào.

Câu 233 và 234 = Rồi nàng nói tiếp : Cứ theo mộng triệu đó mà suy đoán ra, thì số phận con mai sau thật chẳng ra gì !

Câu 235 và 236 = Vương bà khuyên dạy nàng rằng : Mơ mộng là điềm huyền ảo tin làm gì ! Rõ thật bỗng dưng mua não rước sầu vào thân, lạ quá.

Câu 237 và 238 = Nàng nghe lời mẹ khuyên giải thấp cao đủ lẽ cũng bớt lòng lo nghĩ, nhưng lại tiếp tục bồn chồn nghĩ đến cuộc tình duyên gặp gỡ, nhưng lo chẳng biết có nên chuyện gì không, để nàng nhờ chồng mà thoát khỏi kiếp đoạn trường.

Câu 239 và 240 = Nàng còn đương nghĩ vẩn vơ, thì trời đã sáng. Ngoài cửa sổ chim hoàng oanh đã hót như thỏ thẻ chuyện trò, mấy cành liễu ở khoảng nách tường đầu nhà đã thấy gió đưa phất phơ ở trước mành.

Câu 241 và 242 = Cảnh buổi sớm mùa xuân tuy đẹp vậy, nhưng lòng nàng nào có khuây ; cho đến lúc mặt trời đã cao hơn mái hiên chiếu bóng nghiêng xuống, nàng vẫn còn bận lòng nằm nghĩ tới mọi nỗi lo riêng trong lòng.

Những câu hay chữ có ý móc nối

Câu “cỏ non xanh tận chân trời” đã có ý móc nối với câu tả Kim Trọng “hài văn lần bước dặm xanh”, lại có ý làm tăng thêm vẻ thảm thê cho đoạn tả cảnh mả Đạm Tiên “sè sè nắm đất bên đường / dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh / rằng sao trong tiết thanh minh / mà đây hương khói vắng tanh thế mà ?”

Câu Đạm Tiên nói “mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng” ứng với việc Kiều đề thơ ở thân cây gần mả.

Những câu Kiều nói “dễ hay tình lại gặp tình … hữu tình ta lại gặp ta” có ý móc nối với câu Đạm Tiên nói “… thanh khí xưa nay… âu đành quả kiếp nhân duyên / cũng người một hội một thuyền đâu xa.”

Những câu tả phong tư, tài mạo, phong nhã, tài hoa, của Kim Trọng móc nối với câu Kiều nói sau này với Kim Trọng “…trộm liếc dung quang / chẳng sân ngọc bội, thì phường kim môn.”

Câu “ khách đà lên ngựa người còn nghé theo” móc nối khẩn thiết với câu tả lòng Kim Trọng nghĩ đến sau này “ví chăng duyên nợ ba sinh / thì chi đem thói khuynh thành trêu ngươi ?”

Mấy câu tả cảnh buổi chiều hôm đi tảo mộ về đều khéo mượn cảnh để ngầm tả nỗi lòng của Kiều.

Câu “mặt trời gác núi chiêng già thu không” bề ngoài thì thật khéo tả đúng cảnh buồn lúc chiều sắp tối, cái cảnh lúc mặt trời lặn dần xuống bên kia ngọn núi phía tây, trời tối sầm dần, đã như thu hết tinh thần vui tươi của vạn vật vào cõi u hồn, bên tai lại thủng thẳng vang lên từng tiếng chuông chùa với từng câu lanh lảnh niệm phật làm lễ chiêu mộ cô hồn. Trước cái cảnh ảm đạm ấy, người và vật đều lo tìm cảnh đoàn tụ để yên ủi tâm hồn hiu quạnh. Bởi vậy thơ Đường có hai câu này thật hay : • [何 時 最 是 思 君 处 = hà thì tối thị tư quân xứ = lúc nào là lúc nhớ anh nhất] • [日 入 斜 窗 晚 寺 鐘 = nhật nhập tà song vãn tự chung = đó là lúc nắng chiều vào trong cửa sổ lạnh vắng và tiếng chuông chùa đánh chiêu mộ]. Tác giả mượn ý câu dưới để tả cảnh buồn buổi chiều và ngầm mượn ý câu trên để tả nỗi lòng Kiều tưởng nhớ Kim Trọng.

Hai câu “hải đường lả ngọn đông lân / hạt sương trĩu nặng cành xuân la đà” lời văn thật hay, cảnh tả thật đẹp, nhất là ngụ ý càng thâm thúy. Bề ngoài thì hai câu này tả cảnh thật đẹp đẽ buồn lặng lúc chập tối hôm thanh minh : dưới bóng trăng thượng tuần, cây hải đường như lả ngọn về phía đông, những hạt sương xuân làm cho cành lá rũ lả xuống la đà trước cơn gió thoảng. Nhưng bên trong thỉ mỗi chữ ngụ một ý nghĩa ngầm rất thâm thúy, xin kể rõ như sau : “hải đường” ngụ ý nói Kiều buồn ngủ, hoa hải đường nở lâu hàng tháng, ngày nở nhưng đêm cụp lại gọi là hoa ngủ. Vua Minh Hoàng thấy Dương Quý Phi buổi sáng ngồi thiu thiu như buồn ngủ, mới nói đùa nàng “hoa hải đường đêm ngủ chưa đủ giấc sao ?” Ý ngầm buồn ngủ của chữ hải đường này móc nối với câu “tựa ngồi bên triện một mình hiu hiu” (có buồn ngủ rồi mới ngủ ngồi). “Ngả ngọn đông lân” ngụ ý nói Kiều tưởng nhớ Kim Trọng ; thế là Kiều không còn “tường đông ong bướm đi về mặc ai” nữa vì nàng đã ngả lòng về khách tường đông đó rồi. “Hạt sương trĩu nặng” ngụ ý nói Kiều khóc nước mắt lã chã ; chữ “hải đường” có hạt sương trĩu nặng này móc nối với câu “màu hoa lê hãy đầm đìa hạt mưa” ở dưới. “Cành xuân la đà” ngụ ý tả vẻ mặt kiều lo âu, ủ rũ mỏi mệt gượng ngồi ngắm cảnh cho khuây.

CHƯƠNG 07

     * * * * *

CÂU 243 ĐẾN CÂU 362

“Giong sầu đuổi bóng, nhờ của gặp người”

243. Cho hay là giống hữu tình, [1]
Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong. [2]

245. Chàng Kim từ lại thư song,
Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây. [3]
247. Sầu giong càng khắc càng chầy, [4]
Ba thu dón lại một ngày dài ghê. [5]
249. Mấy lần khóa kín phòng the, [6]
Bụi hồng liệu nẻo đi về chiêm bao. [7]
251. Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao, [8]
Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng.
253. Buồng văn hơi lạnh như đồng,
Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan. [9, 10]
255. Mành tương phân phất gió đàn, [11, 12]
Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình. [13, 14]
257. Ví chăng duyên nợ ba sinh, [15]
Thì chi đem thói khuynh thành trêu ngươi. [16]
259. Bâng khuâng nhớ cảnh, nhớ người,
Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi. [17]
261. Một vùng cỏ mọc xanh rì,
Nước ngâm trong vắt, thấy gì nữa đâu! [18]
263. Gió chiều như gợi cơn sầu,
Vi lô hiu hắt như màu kháy trêu. [19]
265. Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều, [20]
Xăm xăm đè nẻo Lam kiều lần sang. [21]
267. Thâm nghiêm kín cổng cao tường,
Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh. [22, 23]
269. Lơ thơ tơ liễu buông mành, 
Con oanh học nói trên cành mỉa mai. [24]
271. Mấy lần cửa đóng then cài,
Dẫy thềm hoa rụng, biết người ở đâu? [25]
273. Tần ngần đứng trót giờ lâu, [26]
Dạo quanh chợt thấy mé sau có nhà.
275. Là nhà Ngô Việt thương gia, [27]
Buồng không để đó, người xa chưa về.
277. Lấy điều du học hỏi thuê, [28]
Túi đàn cặp sách đề huề dọn sang [29, 30]
279. Có cây, có đá sẵn sàng, [31]
 Có hiên Lãm Thúy, nét vàng chưa phai. [32]
281. Mừng thầm suy ý chữ bài, [33]
Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây.
283. Song hồ nửa khép cánh mây, [34, 35]
Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông. [36]
285. Tấc gang đồng khóa, nguồn phong, [37]
Tít mù nào thấy bóng hồng vào ra.
287. Nhẫn từ quán khách lân la, [38]
Tuần trăng thấm thoắt nay đà thèm hai. [39]
289. Cách tường phải buổi êm trời, [40]
Dưới đào dường thấy bóng người thướt tha.
291. Buông cầm, xốc áo, vội ra,
Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh.
293. Lần theo tường gấm dạo quanh, [41]
Trên đào nhác thấy một cành kim thoa.
295. Giơ tay cất lấy về nhà, [42]
Này trong khuê các đâu mà đến đây? [43]
297. Ngẫm âu người ấy báu này,
Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm!
299. Liền tay ngắm nghía biếng nằm,
 Hãy còn thoang thoảng hương trầm chưa phai.
301. Tan sương đã thấy bóng người,
Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ.
303. Sinh đà có ý đợi chờ,
Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng: [44]
305. Thoa này bắt được hư không, [45]
Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về? [46]
307. Tiếng Kiều nghe lọt bên kia: [47]
“Ơn lòng quân tử sá gì của rơi!

309. Chiếc thoa nào của mấy mươi [48]

Mà lòng trọng nghĩa khinh tài xiết bao!” [49]

311. Sinh rằng: “Lân lý ra vào [50]

Gần đây, nào phải người nào xa xôi!

313. Được rầy nhờ chút thơm rơi

Kẻ đà thiểu não lòng người bấy nay.

315. Bấy lâu mới được một ngày

Dừng chân gạn chút niềm tây gọi là!” [51, 52]

317. Vội về thêm lấy của nhà

Xuyến vàng đôi chiếc khăn là một vuông.

319. Bực mây dón bước ngọn tường, [53, 54]

Phải người hôm nọ rõ ràng chăng nhe?

321. Sượng sùng giữ ý rụt rè, [55]

Kẻ nhìn tận mặt người e cúi đầu.

323. Rằng: “Từ ngẫu nhĩ gặp nhau. [56] 
Thầm trông trộm nhớ bấy lâu đã chồn. [57]
325. Xương mai tính đã rũ mòn, [58]
Lần lừa ai biết hãy còn hôm nay! 
327. Tháng tròn như gởi cung mây, [59]
Trần trần một phận ấp cây đã liều! [60]
329. Tiện đây xin một hai điều, 
Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng?” [61, 62] 
331. Ngần ngừ nàng mới thưa rằng: 
“Thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong, [63, 64]
333. Dù khi lá thắm chỉ hồng, [65, 66]
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha. 
335. Nặng lòng xót liễu vì hoa, 
Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa!” 
337. Sinh rằng: “Rày gió mai mưa, [67]
Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi! 
339. Dù chăng xét tấm tình si, [68]
Thiệt đây mà có ích gì đến ai? 
341. Chút chi gắn bó một hai, 
Cho đành rồi sẽ liệu bài mối manh. 
343. Khuôn thiêng dù phụ tấc thành, [69] 
Cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời. 
345. Lượng xuân dù quyết hẹp hòi, [70]
Công đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru!” 
347. Lặng nghe lời nói như ru, 
Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng. [71, 72] 
349. Rằng: “Trong buổi mới lạ lùng, 
Nể lòng có lẽ cầm lòng cho đang! 
351. Đã lòng quân tử đa mang, 
Một lời vâng tạc đá vàng thủy chung.” [73]
353. Được lời như cởi tấm lòng, 
Giở kim thoa với khăn hồng trao tay. [74]
355. Rằng: “Trăm năm cũng từ đây, [75]
Của tin gọi một chút này làm ghi. 
357. Sẵn tay bả quạt hoa quỳ, [76, 77]
Với cành thoa ấy tức thì đổi trao. 
359. Một lời gắn bó tất giao, [78]
Mái sau dường có xôn xao tiếng người. 
361. Vội vàng lá rụng hoa rơi, 
Chàng về viện sách, nàng dời lầu trang.

Đính chính và xác định

Câu 247: “Sầu giong càng khắc càng chầy”. Chữ giong đây nghĩa là buông thả cho chạy, như ta nói trâu giong bò dắt, giong cương cho ngựa chạy nhanh. Do đó, nghĩa cả câu là: chàng Kim không biết nén hãm lòng sầu nhớ Kiều cho khuây đi để ngủ, lại cứ buông thả mãi con ngựa sầu nhớ trong lòng ra và giong cho nó chạy đuổi theo bóng Kiều, những mong chóng sáng mà đi tìm nàng, thành ra lại càng thấy mỗi trống canh mỗi dài mãi ra. Câu này tác giả lấy ý ở câu thơ của thi sĩ Ngô Tư Kinh [ 愁 逐 漏 声 長 = sầu trục lậu thanh trường = ngồi mà thả lòng sầu cho đuổi thì giờ, thì càng thấy tiếng nước đồng hồ nhỏ giọt càng kéo dài thêm mãi]. Chữ “giong” nôm, nếu là chính mình đi (tự động từ) như giong mát, thì viết [𨀐] (= túc [足] + đông [冬]). Chữ giong này ít dùng nên ít người biết. Các nhà xuất bản Truyện Kiều không biết nghĩa chữ “sầu giong” là gì, nên đổi bừa câu này thành những câu ngô nghê vô nghĩa như: 

Sầu đông càng khắc càng chầy (đổi [𨀐] giong ra [冬] đông ).

Sầu đong càng khắc càng đầy (đổi giong [𨀐] ra đong [𣁲] , chầy ra đầy).

Sầu đong càng lắc càng đầy (đổi giong ra đong, khắc ra lắc).

Rõ  là câu rất hay, mà đổi bừa thành các câu rất dở.

Câu 250: “Bóng hồng liệu nẻo đi về chiêm bao” – Hai câu lục bát này lấy ý ở hai câu kết bài thơ của Từ An Trinh [徐安貞] đời Đường, tả tình thi sĩ đêm nghe cô gái nhà hàng xóm gẩy đàn tranh (chép cả bài ở dưới đây) và nghĩa là : Kim Trọng nghĩ rằng chắc Kiều cũng muốn gặp mình lắm –mà không sao được, nên đành khóa cửa đi ngủ (“mấy lần khóa kín phòng the”), để may ra mộng hồn đi, về được với mình (câu 250). Chữ “bóng hồng” ở câu 250 là mộng hồn của Kiều.

° [北 斗 横 天 夜 欲 闌 =bắc đẩu hoành thiên dạ dục lan = chòm sao Bắc đẩu đã ngang trời đêm đã sắp hết] ° [愁 人 倚 月 思 無 端  =sầu nhân ỷ nguyệt tứ vô đoan = người buồn sầu này ngồi tựa dưới trăng nghĩ vẩn vơ] ° [忽 聞 畫 閣 秦 筝 逸 =hốt văn họa các Tần tranh giật = Bỗng nghe trên lầu vẽ kia có tiếng đàn tranh vẳng lại] ° [知 是 隣 家 趙 女 彈 =tri thị lân gia Triệu nữ đàn = Ta biết đó là tiếng đàn cô gái nước Triệu nhà hàng xóm gảy] ° [曲 成 虚 憶 青 蛾 歛 =khúc thành hư ức thanh nga liễm = khúc đàn gẩy xong, ta đoán là lông mày cô nhíu lại] ° [調 急 遙 知 玉 指 寒 = điệu cấp dao tri ngọc chỉ hàn = điệu đàn mau gấp, ta biết là ngón tay nàng cóng rét] ° [銀 鑰 重 関 聽 未 闢 =ngân dược trùng quan thính vị tịch = khóa bạc ở hai lần cửa, ta chưa nghe tiếng mở] ° [不 如 眠 去 夢 中 看 =Bất như miên khứ mộng trung khan = gì bằng ngủ đi để gặp thấy nhau trong mộng vậy].

Vì chàng tưởng là hồn mộng Kiều sẽ tìm đến với chàng như vậy, nên khi chàng thấy “Mành tương phân phất gió đàn” chàng yên trí là hồn Kiều đến, nên chàng đốt hương để chào, pha trà để mời, thì thấy mùi hương cũng nồng như mùi thơm của nàng lúc chiều, và trà chàng uống cũng được Kiều mời mà hóa ra đậm đà khan lên những giọng tình tứ.

Câu “Bóng hồng liệu nẻo đi về chiêm bao” nghĩa rõ ràng như thế và khẩn thiết với hai câu “Mành tương phân phất gió đàn / hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình” như thế, mà sao phần nhiều các bản Kiều quốc ngữ lại đổi bóng hồng thành bụi hồng và phiên âm liệu nẻo  料裊 ra lẽo đẽo?  “Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao” nghĩa là gì? Thật vô nghĩa, vậy cần phải xác định, không nên để Truyện Kiều có những câu vô nghĩa như vậy.

Câu 258: Hai chữ “đem thói khuynh thành trêu ngươi” ở câu này, nhiều bản quốc ngữ in thành “những thói khuynh thành trêu ngươi” e vô nghĩa, vì khuynh thành làm gì có nhiều thói ?

Câu 264: Hai chữ kháy trêu ở câu này, nhiều bản quốc ngữ dịch ra là “khơi trêu” e không xác đáng, vì hai chữ khơi trêu chỉ có nghĩa là trêu người thôi, còn kháy trêu đã đúng âm với chữ nôm 慨 撩 (khái liêu) lại đúng ý nghĩa hơn: các ngọn lau sậy hình như chúng thấy chàng ngơ ngẩn tẽn tò, chúng bèn phất phơ tỏ ý chế nhạo trêu ghẹo chàng. Chữ kháy là có ý trêu đùa cho tức thẹn.

Câu 281: Bốn chữ suy ý chữ bài ở câu này, các chữ nôm đều khắc chữ suy [推] lầm ra chốn [准] , còn chữ ý [意] thì cũng đọc sai là ấy. Các bản quốc ngữ đều theo các bản nôm mà dịch lầm ra “Mừng thầm chốn ấy chữ bài” thành ra gần như vô nghĩa. Suy ý chữ bài nghĩa là suy ý chữ đề ở biển “lãm thúy hiên” (nơi mái hiên để ngồi chơi mà vơ bằng mắt lấy những cảnh hoa cỏ xanh đẹp). Nhưng chàng cho đó là “cái hiên để vơ lấy các cô Thúy.”

Câu 285: Bốn chữ động khóa nguồn phong [洞 鎖 源 封] nghĩa là cửa động thiên thai thì khóa lại, nguồn nước đào nguyên thì lấp đi. Nhiều bản nôm khắc chữ động [洞] làm chữ đồng [銅], người phiên âm trước không biết cứ theo chữ [銅] mà dịch là đồng, thành ra bắt buộc phải dịch câu này là “Tấc gang đồng tỏa nguyên phong” và giải nghĩa là: cái khóa đồng vẫn còn khóa kín nguyên vẹn như cũ (cho chữ  nguồn [源] là chữ nguyên [原]). Nên cần phải đính chính xác định lại cho rõ nghĩa, kẻo mất hết ý hay lời đẹp của câu này.

Câu 286: Tít mù nào thấy bóng hồng vào ra” – Tít mù nghĩa là xa xôi biệt thẳm, đối lại với chữ tấc gang là rất gần ở câu trên = chỉ gần gần thế mà thành ra xa xôi vô chừng. Nhiều bản quốc ngữ dịch lầm chữ tít mù ra tịt mù, nghe lời đã quê thô, nghĩa lại không đúng, không khẩn thiết với câu trên.

Câu 287: Chữ nhẫn” câu này, bản nôm viết là nhẫn [忍] , chớ không viết là nhận [認] . Chữ nhẫn nghĩa là tất cả, là hết sức kiên nhẫn mà chờ đợi. Nhiều bản quốc ngữ in là “nhận từ…”, kể ra cũng có nghĩa là tính ra từ …, nhưng lời không mạnh và ý không xác đáng bằng “nhẫn từ…”

Câu 295: “Giơ tay cất lấy về nhà” – Chữ cất câu này nghĩa là dùng tay sẽ sàng cẩn thận để nhấc lên cho khỏi gẫy khỏi rơi. Đặt chữ cất vào tình trạng đáng nâng niu âu yếm này thật hay vô cùng. Lắm bản Kiều đổi là “với lấy” thì thật hết ý vị tinh tế.

Câu 307: “Tiếng kiều nghe lọt bên kia” – Tiếng kiều đây là tiếng có giọng trong trẻo trẻ trung non mềm của con gái. Chữ kiều [嬌] đây nghĩa là non mềm. Nhiều bản in lầm chữ kiều này ra Kiều [翹] , cho nghĩa là tiếng nàng Kiều, đó là một sự lầm to, vì Kim Trọng khi ấy đã biết tiếng Kiều bao giờ mà nhận được là tiếng cô ta?

Câu 322: “Kẻ nhìn tận mặt, người e cúi đầu” – Hai chữ tận mặt câu này, nhiều bản in là rõ mặt, thế là sai quá. Vì chàng có nhìn tận mặt thì nàng mới phải e lệ cúi đầu, và phải cần nhìn tận mặt cho biết rõ ràng là người hôm nọ rồi mới dám ngỏ lời nói chuyện.

Câu 325: “Xương mai tính đã rũ mòn – Hai chữ rũ mòn đây cũng nghĩa như gầy mòn, nhưng rũ mòn xác đáng hơn vì ta thêm được ý mỏi mệt như câu thơ Đường mà tác giả đã dùng làm điển tích [梅 骨 瘦 難 支 = mai cốt sấu nan chi = vóc xương thanh lịch như cành mai, gầy quá đi như không đứng được].

Chú giải và dẫn điển

[1] Giống hữu tình = hạng người tài hoa. Sách nho có chỗ nói: Hạng thánh nhân thì không có tình, hạng ngu đần thì không biết tình là gì, chỉ có hạng người tài hoa mới là hạng người hữu tình. Bởi vậy người ta gọi bọn người tài hoa là [情 種 = tình chủng = giống đa tình]. Đây nói Kim Trọng, Thúy Kiều đều là tình chủng.

[2] Mối tơ mành = sợi tơ rất mỏng manh mà khó dứt đứt được; đó tức là sợi tơ tình, không trông thấy mà gỡ không ra, dứt không đứt được.

[3] Canh cánh = vương vít như gài bám vào lòng.

[4] Sầu giong: Xem lời đính chính câu 247 bên trên.

[5] Ba thu dón lại một ngày: Kinh Thi có câu  [ 一日不 見 如 三 秋 兮 = nhất nhật bất kiến như tam thu hề = một ngày không thấy mặt nhau, lâu bằng ba mùa thu]. Chữ dón nghĩa là rèn cái que sắt cho nhỏ lại và dài ra.

[6] Mấy lần khóa kín phòng the –“Mấy lần khóa kín” do bốn chữ “Ngân thược trùng quan”. Các bản quốc ngữ chép nhầm “mấy lần” ra “mấy tần” hoặc “mây Tần” thật vô nghĩa.

[7] Bóng hồng = hình bóng người con gái đẹp. Liệu nẻo = đoán chừng có lẽ bóng vía nàng sẽ tìm đến đây với ta, trong lúc nàng mơ ngủ.

[8] Đĩa dầu – Người ta đốt đèn bằng dầu hột, đổ dầu vào đĩa rồi thả bấc vào, để một đầu bấc hở trên miệng đĩa mà đốt.

[9] Trúc se ngọn thỏ – Bút viết chữ hán quản làm bằng ống trúc, ngòi làm bằng lông thỏ. Trúc se ngọn thỏ ý nói khi chàng muốn làm thơ, thì nghĩ không ra, hình như ngòi bút nó khô mực lại, viết không được.

[10] Phím loan = phím đàn hình đầu ngoài thường làm hình đầu chim phượng. Tơ chùng phím loan ý nói khi chàng muốn gẩy đàn cho khuây thì gẩy không ra tiếng, như dây đàn chùng cả đi.

[11,12] Mành tương = mành làm bằng những gióng trúc con, da có vân đồi mồi, tiện ra từng đoạn ngắn, rồi xâu lại thành từng dây dài mà treo nhiều dây rũ xuống thành bức mành che cửa. Khi gió thổi vào, tiếng trúc đụng nhau kêu xoang xoảng như tiếng đàn.

[13,14] Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình – Xem lời xác định câu 250 bên trên. Chàng Kim thấy gió đụng mành kêu cho là mộng hồn Kiều đến với mình, vội vàng đốt hương lên để mừng và pha trà để cùng uống, chàng thấy mùi hương thơm nồng ngậy lên những mùi chàng nhớ đã được ngửi lúc chiều và vị nước trà đậm đà quá như khan họng những giọng tình trước mặt nàng.

[15] Duyên nợ ba sinh = ba đời, ba kiếp; đôi tình nhân đã thề ước mà không lấy được nhau, thì phải trải qua ba đời lời thề ấy mới tan. Điển tích từ Tình sử: Lý Nguyên [李源] và Viên Trạch [圓 澤] yêu nhau tha thiết. Khi nàng Viên ốm nặng gần chết hẹn với chàng Lý 12 năm sau thì đến Hàng Châu gặp nhau. Lúc chàng đến Hàng Châu chỉ gặp thằng bé chăn trâu hát rằng:

(1) [三 生 石 上 舊 精 魂  = tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn = tinh hồn trên đá ba sinh] (2) [賞 月 吟 風 不 要 言 =thưởng nguyệt ngâm phong bất yếu ngôn = thưởng trăng hát gió, kể tình nữa chi]  (3) [慚 愧 故 人 遠 相 訪 =tàm quý cố nhân viễn tương phỏng = thẹn mình gặp bạn cố tri] (4) [此 身 雖 異 性 長 存 =thử thân tuy dị tính trường tồn = thân này dù khác, tình kia vẫn còn] .

[16] Ví chăng duyên nợ ba sinh / làm chi đem thói khuynh thành trêu ngươi = nếu không có duyên nợ kiếp trước với nhau, thì làm gì nàng lại nhìn theo ta, như vậy để làm lòng ta vương vít. Điển lấy từ Tây Sương Ký: Khi Thôi Oanh Oanh thấy Trương Hồng vào, nàng vội tránh vào buồng, nhưng lại ngó lại nhìn chàng một cái, làm cho chàng say sưa và nghĩ:

[我 明 日透 骨 髓 相 思 病 纏 =Ngã minh nhật thấu cốt tủy, tương tư bệnh triền] 

[怎 當 她  臨 去 秋 波 那 一 轉 =Chẩm đương tha lâm khứ, thu ba ná nhất chuyển]

[我 便 鉄 石 人 也 意 惹 情 牽 =Ngã tiện thiết thạch nhân dã, ý nhạ tình khiên]

Ba câu trên có nghĩa = Ngày mai ta sẽ mắc bệnh tương tư thấm vào đến xương tủy. Ta chịu sao nổi cái khóe mắt của cô ta khi lánh đi, lại ngó lại liếc ta một cái. Ta dẫu có là người sắt đá cũng phải để ý vương tình.

[17] Kỳ ngộ = cuộc gặp gỡ lạ lùng tình cờ.

[18] Nước ngâm trong vắt ngụ ý nói chỉ thấy nước im lặng trong vắt chẳng có bóng ai như chiều hôm qua nữa.

[19] Kháy trêu = có ý đùa cợt trêu ghẹo cho tức, cho thẹn.

[20] Nhớ ít tưởng nhiều = thật ra chỉ nhớ có ít, nhưng vì cứ tưởng tượng thêm mãi ra, niềm nhớ mới tăng lên nhiều.

[21] Lam kiều = cầu Lam. Bùi Hàng [裴 航] đời Đường gặp cô tiên tên là Vân Kiều phu nhân, có cho chàng một bài thơ trong có câu [藍 橋 本 是 神 仙 窟 = Lam kiều bản thị thần tiên quật = Lam kiều là chỗ thần tiên ở]. Về sau, một hôm chàng đi qua cầu Lam vào một quán xin nước uống, gặp nàng tiên Vân Anh [雲 英] đẹp lắm. Chàng ước ao muốn lấy, bà mẹ nàng bảo nếu tìm được cái chầy ngọc để bà tán thuốc thì bà gả nàng cho. Khi chàng được một bà tiên cho chầy ngọc, đem lại nộp thì lấy được Vân Anh. Lam kiều đây chỉ nhà Thúy Kiều ở.

[22] Lá thắm – Đời vua Đường Huy Tông, Vu Hựu vớt được một cái lá ngô đồng màu đỏ từ ngòi nước ở trong cung vua chảy ra, trên lá có đề bài thơ hẹn ai bắt được lá này thì kiếp sau sẽ lấy làm chồng. Hựu quý lắm, về giữ cẩn thận, và cũng lấy cái lá ngô đỏ khác đề thơ họa lại, rồi lên đoạn ngòi trên cung vua mà thả xuống cho trôi vào. Sau có lệnh thải các cung nữ cho ra lấy chồng, Hựu lấy được cô họ Hàn và cả hai bên đều còn giữ đủ hai lá đề thơ.

[23] Chim xanh – Vua Hán Vũ Đế một hôm sắp đi chơi xa, bỗng thấy hai con chim xanh bay vào hành cung. Đông Phương Sóc tâu nhà vua chúng là sứ giả của bà Tây Vương Mẫu đưa tin báo trước. Được một lúc, quả nhiên bà đến thật.

[24] Mỉa mai = chê cười chế nhạo (sáng tìm Kiều như bị lau sậy trêu cười ở ngoài đồng ; trưa tìm Kiều thì như bị chim oanh cười chế ở trước cổng nhà Kiều).

[25] Dẫy = đầy. Ta cũng hay nói đầy dẫy.

[26] Trót giờ lâu = đứng trọn vẹn lâu một giờ.

[27] Ngô Việt thương gia = nhà buôn bán xa ở vùng đất Ngô đất Việt, là vùng phía đông nam nước Tàu. Từ Bắc Kinh xuống Ngô Việt xa lắm.

[28] Du học = từ xa đến đó ở trọ để học hành.

[29] Cặp sách = cái quang treo sách chữ nho, làm bằng gỗ, dưới có cái ván gỗ rộng độ 2 gang, dài độ 3 gang, 2 đầu có đục 2 cái lỗ để lùa 2 thanh gỗ lên làm thành cái quang để xếp 2 chồng sách vào. Khi ở nhà thì treo lên, khi đi đâu thì gánh cho tiện.

[30] Đề huề = dọn sách vở đồ đạc sang nhà trọ một cách đàng hoàng có ý cho ai cũng biết, để hòng đưa tin đến hai cô láng giềng rõ chuyện mình đến đó.

[31] Đá = cảnh núi non bộ chất đá ở giữa cái hồ con.

[32] Lãm thúy hiên [攬 臎 軒] – Xem lời đính chính câu 281 bên trên.

[33] Suy ý chữ bài – Xem lời đính chính câu 281 bên trên.

[34] Song hồ = cửa sổ, cánh có dán một thứ giấy phết dầu cho trong, ánh sáng có thể qua được.

[35] Cánh mây = cánh cửa ở trên gác cao.

[36] Tường đông = nhà phái nữ trú ngụ.

[37] Động khóa nguồn phong – Xem lời đính chính câu 285 bên trên.

[38] Nhẫn – Xem lời xác định câu 287 bên trên.

[39] Thèm haiThèm = sắp sửa. Thèm hai = sắp sửa được hai tháng rồi.

[40] Phải = bất kỳ gặp phải. Truyện Kiều có mấy chỗ chữ phải có ngụ ý thật ra là hữu tình mà làm ra như có vẻ vô tình mà xảy ra như vậy. Chữ phải trong câu “Buồng the phải buổi thong dong” dùng nghĩa này, để nói : gặp buổi tết đoan ngọ thong dong vắng khách nên Kiều vô ý tắm trần không đóng cửa, chứ thực ra Kiều dụng tâm làm ra vô ý để Thúc Sinh được nhìn rõ tấm thân thoát y của mình như một tòa thiên nhiên”, mục đích để cố kết lòng chàng hết sức ra tay cứu mình khỏi lầu xanh.

[41] Tường gấm = bức tường có đắp hình mây, hình triện nổi lên cho đẹp. Xem lời giải [53] về chữ bực mây bên dưới.

[42] Cất lấy = lấy tay sẽ nhấc cao cành hoa lên mà lấy ra một cách rất nhẹ nhàng, nâng niu để khỏi gãy, khỏi rơi.

[43] Khuê các = buồng trên gác, nơi đàn bà con gái ở rất lịch sự.

[44] Ướm lòng = thử nói để dò xét xem lòng nàng ra ý thế nào.

[45] Hư không = bỗng dưng.

[46] Hợp phố xưa kia thuộc về Giao châu (tên gọi nước Nam ta ngày trước), nay thuộc miền giáp biển tỉnh Quảng đông nước Tàu. Hồi bắc thuộc, quan Tầu tham nhũng bắt dân Hợp phố mò ngọc trai đem nộp, cho nên các loài trai có ngọc bỏ đi nơi khác hết. Sau có quan thứ sử là Mạnh Thưởng làm quan thanh liêm, loài ngọc trai lại trở về Hợp phố. Điển tích lấy từ câu [珠 還 合 浦 = châu hoàn Hợp phố = của quý của ai lại trả về người ấy].

[47] Tiếng kiều – Xem lời đính chính câu 307 bên trên.

[48] Nào của mấy mươi = có đáng giá bao nhiêu đâu.

[49] Trọng nghĩa khinh tài = lòng đứng đắn biết trọng điều nghĩa mà khinh của cải.

[50] Lân lý [隣 里] – Lân = hàng xóm. = làng.

[51] Gạn = hỏi tỉ mỉ rõ ràng mọi điều.

[52] Niềm tây = điều riêng tư trong lòng.

[53] Bực mây = những hình mây đắp nổi lên ở mặt tường gấm có thể dùng làm bực leo lên được. Có bản giải thích bực mây là bực vân thê [雲 梯] (thang mây) thật là lầm, vì vân thê là thứ thang để trèo lên ngó vào thành giặc, cao hàng 4 hay 5 mươi thước, phần dưới là cái bục cao có bốn bánh xe, nhiều người có thể đi kín ở dưới đẩy bục thang đi được. Trên bục dựng hai từng thang, mỗi từng cao 20 thước. Thang mây cao như thế, chứ đâu phải cái thang thường ta dùng.

[54] Dón bước = trèo một cách nhanh nhẹn.

[55] Sượng sùng = ngượng nghịu, e thẹn.

[56] Ngẫu nhĩ = tình cờ, bỗng dưng.

[57] Đã chồn = đã mỏi mệt lắm.

[58] Rũ mòn – Xem lời xác định câu 325 bên trên.

[59, 60] Tháng tròn như gửi cung mây / trần trần một mực ấp cây đã liều – Cung mây tức cung trăng ở trên mây, ý nói chỗ người đẹp ở như cô Hằng Nga trên cung trăng. Ấp cây là điển tích lấy từ ba chữ [守 株 人 = thủ châu nhân = người giữ gốc cây]. Xưa có anh thợ cầy ngồi nghỉ ở gốc cây, bỗng một con thỏ sợ chó săn, chạy đâm đầu vào gốc cây chết, anh ta bắt được. Từ hôm đó ngày nào anh ta cũng ra ngồi giữ gốc cây ấy để đợi bắt thỏ. Ý nói Kim Trọng bõ công hàng tháng để mong may ra được gặp Kiều.

[61] Đài gương cũng như lầu trang là tiếng tôn trọng gọi nơi đàn bà con gái cư ngụ. Đây là lời tôn trọng Kim Trọng dùng để gọi Kiều.

[62] Dấu bèo là tiếng Kim Trọng nói nhún, tự coi mình hèn mọn như bèo ở đâu trôi đến.

[63, 64] Thói nhà băng tuyết = nhà tôi vốn là nhà nề nếp đứng đắn. Chất hằng phỉ phong = nhún mình là một gái quê mùa biết giữ lễ nghĩa. Kinh Thi có câu [采 葑 采 菲 無 以 下 體 = thái phong, thái phỉ, vô dĩ hạ thể = hái rau phong, hái rau phỉ, chớ vì phần dưới cứng ăn không ngon mà bỏ]. Rau phỉ, rau phong ngọn gốc đều ăn được, nhưng phần gốc lúc già ăn không ngon, nên bị bỏ. Hàm ý của câu kinh Thi này = vợ chồng phải lấy nghĩa mà yêu nhau suốt đời, chớ có khi trẻ đẹp thì yêu, khi già xấu thì bỏ.

[65] Lá thắm – Xem lời giải [22] bên trên.

[66] Chỉ hồng = duyên vợ chồng, do điển tích Vi Cố như sau : Vi Cố [韋固] học giỏi đang kén vợ. Một hôm thấy ông cụ già ngồi dưới bóng cây giở một cuốn sách ra coi, bên mình có một túi chỉ đỏ. Cố hỏi sách gì, thì ông bảo “Tập sổ biên những cặp vợ chồng phải lấy nhau. Khi ta biên tên vợ chồng vào sổ này và lấy hai sợi chỉ hồng ở túi này mà se với nhau, thì dù hai bên giàu nghèo, sang hèn khác nhau thế nào, cũng phải lấy nhau thành vợ chồng.” Cố hỏi đùa ông cụ se tôi lấy ai, thì ông cụ chỉ vào đứa con gái rách rưới bẩn thỉu, mẹ đặt ngồi ở bờ ruộng để mẹ hái rau. Rồi ông cụ biên tên và lấy hai sợi chỉ se với nhau. Cố giận lắm, thuê người giết con bé, và yên trí là con bé đã chết rồi. Sau Cố long đong mãi không tìm được vợ, kết cục vẫn phải lấy người con gái có thẹo ở mang tai ; và nàng nói lúc bé bị tên giặc chém nhưng may không chết.

[67] Rầy gió mai mưa = việc đời thay đổi bất kỳ, nay may gặp nhau rồi sau đây không gặp được nữa.

[68] Dù chăng = nếu không.

[69] Khuôn thiêng = ông trời. Đây ám chỉ cha mẹ, để trả lời câu Kiều nói “nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.” Nhưng không dám nói thẳng là cha mẹ phụ lòng, e bất nhã, phải nói tránh ra là nếu trời phụ lòng.

[70] Lượng xuân = độ lượng rộng rãi bao dung mọi người, lấy ý từ câu [春 毓 海 涵 = xuân dục hải hàm = hơi xuân nuôi muôn vật, lòng biển chứa muôn sông]. Ý nói bụng dạ rộng rãi tử tế.

[71] Chiều xuân = lòng xuân, do hai chữ xuân tứ [春 思] hay xuân tình [春 情] dịch ra.

[72] Nét thu lấy ý từ hai chữ [秋 波 =thu ba = sóng mùa thu] nghĩa là ánh mắt nhìn có tình tứ.

[73] Tạc đá vàng = nhận lời một cách trịnh trọng như khắc vào bia đá biển vàng.

[74] Khăn hồng = chiếc khăn vuông gói đôi xuyến vàng.

[75] Trăm năm = sự kết duyên làm vợ chồng.

[76] Bả = lấy hai tay nâng mà đưa lên trao một cách trịnh trọng. Hai tay dâng chén rượu lên mời khách chữ Hán là bả tửu [把 酒].

[77] Quạt hoa quỳ = cái quạt giấy đẹp Kiều có vẽ hình hoa quỳ (một giống hoa sen thơm đẹp hướng dương) để tỏ lòng lúc nào cũng muốn ngưỡng mộ chàng. Bả quạt hoa quỳ = hai tay nâng chiếc quạt hoa quỳ lên mà dâng cho chàng làm kỷ niệm. Nhiều bản Kiều, vì người xuất bản không hiểu chữ bả nên đã đổi cả câu “Sẵn tay bả quạt hoa quỳ” ra là “Sẵn tay khăn gấm, quạt qùy” thật là vô vị thô lỗ. Họ không biết rằng quạt hoa quỳ và quạt quỳ khác nhau một trời một vực.  Quạt hoa quỳ như đã nói ở trên, đẹp quý và ý nhị biết bao nhiêu ; còn quạt quỳ (chữ nho gọi là bồ quỳ phiến [蒲葵 扇]) chỉ là cái quạt làm bằng tàu lá cây bồ quỳ (một loài lá gồi) cắt bỏ những tua lá ở chung quanh đi, hình thành cái quạt tròn tròn. Ai lại đem thứ quạt ấy tặng một tình nhân hào hoa như Kim Trọng bao giờ ? Lại còn chiếc khăn gấm đỏ nữa, ở đâu ra mà nói là sẵn tay ? Sau lại để đâu, suốt câu chuyện không thấy nói đến cái khăn gấm ấy chút nào nữa.

[78] Tất giaoTất [漆] = sơn. Giao [膠] = keo. Tất giao là hai thứ nhựa để gắn bó rất chắc. Ý nói Kim Kiều thề ước với nhau rất nghiêm trang.

Diễn ra văn xuôi

Câu 243, 244 = Thế mới biết đã là hạng người vào bực hữu tình, thì đố ai gỡ cho xong được cái mối tơ tình, dù nó rất mong manh.

Câu 245, 246 = Chàng Kim từ lúc về đến phòng học, lúc nào cũng canh cánh nghĩ đến Kiều, không muốn nghĩ đến chuyện gì khác cho khuây nỗi nhớ ấy đi.

Câu 247, 248 = Chàng không biết nén hãm lòng sầu nhớ để khuây ngủ đi, lại cứ tung thả mãi ra như giong cương cho con ngựa sầu nhờ nó đuổi theo thì giờ cho đêm chóng sáng. Nhưng càng thức càng mong thì những khắc canh càng thấy chậm chạp dài thêm mãi ra, rõ ràng đúng như câu trong Kinh Thi, tạm dịch : “Một ngày chẳng thấy mặt nhau / coi dài đằng đẵng khác nào ba thu.”

Câu 249, 250 = Chàng nghĩ giờ này nàng đã khóa kín cửa buồng để ngủ rồi, và có lẽ mộng hồn nàng đang tìm đường đi về đây với mình.

Câu 251, 252 = Chàng không sao nhắm mắt ngủ được. Lúc thì ngắm vầng trăng khuyết, lúc thì nhìn đĩa dầu đèn cạn dần. Lúc thì mặt chàng ngẩn ngơ tưởng nhớ đến mặt nàng, lúc thì lòng chàng bất ổn vì không biết lòng nàng có tưởng nhớ chàng, như chàng tưởng nhớ nàng không ?

Câu 253, 254 = Chàng cảm thấy phòng học chàng vắng lạnh như đồng. Chàng muốn viết thơ để tỏ tình nhớ mến, nhưng nghĩ không ra lời, ngọn bút lông chấm mực đã khô đi mà không viết được câu nào. Chàng muốn gẩy đàn để tỏ nỗi sầu mong, mà không sao gẩy được thành tiếng, như phím dây đàn sửa vặn thế nào cũng vẫn chùng mãi.

Câu 255, 256 = Bỗng hơi gió thoảng đến, làm cho những chuỗi suốt tre hoa ở bức mành cửa đụng nhau kêu như tiếng đàn ; cho là mộng hồn Kiều đến, chàng vội vàng đốt hương để chào đón và pha trà để mời cùng uống với nhau. Chàng thấy mùi khói hương nồng ngậy lên những mùi thơm như mùi nàng mà chàng còn nhớ thoang thoảng từ chiều hôm qua ; chén trà chàng uống ở trước mộng hồn Kiều, thấy vị trà thật đậm đà, thấm thía đầy giọng tình làm cho khan cả cổ họng chàng.

Câu 257, 258 = Chàng những lo không biết rồi ra có lấy được nàng không, nhưng chàng lại mừng lòng yên chí rằng nếu không có duyên nợ ba kiếp với nhau, thì làm sao mà nàng lại nghé mắt liếc theo chàng một cách tha thiết đằm thắm như trêu như ghẹo khi chàng lên ngựa ra về, làm cho chàng phải vương vít tâm tư như vậy ?

Câu 259, 260 = Lòng chàng lúc nào cũng buâng khuâng, nào là nhớ cảnh chiều qua, nào là nhớ mặt nàng, nào là nghĩ đến chỗ tình cờ may mắn gặp nhau. Thế là lúc sáng ra, chàng vội vàng đi ra chỗ đó với đầy lòng si tưởng.

Câu 261, 262 = Nhưng nào có thấy ai ở đó nữa đâu. Chỉ thấy bãi cỏ xanh rì vắng teo và ngòi nước trong veo lặng lẽ chảy, chẳng còn bóng ai chiếu xuống nữa.

Câu 263, 264 = Chàng đứng tần ngần đó mãi, bỗng thấy gió chiều thổi đến như khiêu gợi nỗi sầu và những ngọn lau sậy hiu hắt phất phơ như có vẻ trêu ghẹo chế nhạo chàng.

Câu 265, 266 = Riêng cái trò tương tư nó vẫn thế – nhớ thì ít, nhưng nghĩ đến người tình thì nhiều. Càng tưởng càng nhớ quá, chàng nghĩ rằng thế nào cũng phải đến tận nhà nàng thì mới gặp được nàng. Cũng như Bùi Hàng xưa có đến Lam kiều mới gặp được Vân Anh, chàng xăm xăm theo lối đi thẳng đến nhà Kiều.

Câu 267, 268 = Nhưng ôi ! Khi đến nơi, thì chỉ thấy tường cao ngất, cổng đóng kín, trông thật trang nghiêm thăm thẳm, đúng là hết cách nhắn đưa tin tức.

Câu 269, 270 = Trên ngọn tường thì có mấy cành liễu lơ thơ như mành che, và mấy con hoàng oanh đang líu lo học nói ở trên cành như có ý mỉa mai chế nhạo chàng.

Câu 271, 272 = Chàng nhòm qua khe cổng, thì chỉ thấy mấy lần cửa đóng gài then cẩn thận và hoa rụng đầy thềm mà chẳng thấy bóng ai.

Câu 273 đến 276 = Chàng đứng ngắm tần ngần suốt một giờ lâu rồi đi dạo quanh khu nhà, thì thấy mé sau khu nhà Kiều có nhà một người lái buôn xa ở mãi vùng Ngô Việt chưa về, nhà vẫn bỏ vắng, buồng không ai ở.

Câu 277, 278 = Chàng bèn mượn cớ là du học mà hỏi thuê, rồi đường hoàng thong thả mang túi đàn, mang cặp sách dọn đến ở.

Câu 279, 280 = Nơi nhà này có cây cảnh đẹp, có núi non bộ bằng đá, nhất là lại có mái hiên ngồi ngắm cảnh, biển đề là Lãm Thúy Hiên,” nét chữ thếp vàng còn chưa phai.

Câu 281, 282 = Chàng rất mừng, vì cứ suy ý ba chữ thếp vàng đề ở biển này mà đoán, thì chắc chàng và Kiều đã có duyên trời định từ ba kiếp xưa với nhau rồi. (Chàng suy luận ba chữ Lãm Thúy Hiên cũng có nghĩa “mái hiên để Kim (vàng) vơ (lãm) được Thúy (Kiều).” Xem lời chú giải [32] và lời đính chính câu 281 bên trên.

Câu 283, 284 = Từ ngày đến ở đây, ngày ngày chàng ngồi trong cửa sổ mở hé nửa cánh cửa ra mà ghé mắt trông sang phía tường nhà họ Vương.

Câu 285, 286 = Tuy chỉ gần trong gang tấc, nhưng rõ như động tiên khóa cửa, nguồn đào lấp lối, rõ gần mà hóa xa xôi tít mù, chẳng thấy bóng Kiều ra vào bao giờ.

Câu 287, 288 = Tính từ hôm chàng dọn đến ở nơi nhà thuê này, dần dà đã gần hai tuần trăng rồi.

Câu 289, 290 = Bỗng một hôm trời êm gió mát, tình cờ chàng thấy bên kia tường như có bóng người đi thướt tha dưới cây đào.

Câu 291, 292 = Chàng đương gẩy đàn, liền buông cây đàn xuống và vội vàng xốc áo chạy ra, thì người đã đi khỏi rồi, chỉ còn lại mùi nước hoa thơm phức.

Câu 293, 294 = Chàng đi men theo quanh bức tường gấm mà ngó xem, thì bỗng thấy một cành kim thoa vướng ở trên cành cây đào.

Câu 295, 296 = Chàng liền giơ tay lên, nhấc cao chiếc thoa lên mà lấy đem về. Chàng tự hỏi Cái của quý ở nơi khuê các này cớ sao mà lại đến đây ?

Câu 297, 298 = “Ngẫm coi, người đẹp sang như thế, mà của quý báu như vầy, nếu mà chẳng có duyên với nhau, thì sao lọt vào tay ta được ? ”

Câu 299, 300 = Rồi lúc nào chàng cũng cầm chiếc thoa trên tay mà ngắm nghía cho đến mãi tối đêm quên cả nằm ngủ, và lúc nào mùi hương trầm chiếc thoa chưa phai cũng thoảng bốc lên làm cho lòng chàng say mê ngửi mãi.

Câu 301, 302 = Ngày hôm sau trời mới mờ sáng, đã thấy bóng người quanh quẩn ra ý tìm tòi ở dưới gốc đào bên kia tường.

Câu 303, 304 = Chàng đã có ý đợi chờ, mới đứng cách mặt bên này bức tường mà đưa lời sang nói để ướm xem lòng người bên kia tỏ ra sao.

Câu 305, 306 = Chàng lên tiếng Mình bỗng tình cờ bắt được một cành kim thoa, muốn trả lại mà chẳng biết là của ai đây !”

Câu 307, 308 = Vừa dứt lời, thì chàng nghe có giọng nói trẻ trung đáng yêu thưa lại ngay rằng “Tôi rất cảm ơn lòng người quân tử chẳng sá gì chút của rơi mà mong trả lại. ”

Câu 309, 310 = Chiếc thoa của tôi nào có là của đáng mấy mươi đâu, nhưng tấm lòng trọng nghĩa khinh tài của người mới thật đáng quý, không biết bao nhiêu mà kể cho xiết được.

Câu 311, 312 = Biết đích xác ý Kiều rồi, chàng đáp lời Tôi đây vẫn là chỗ hàng xóm láng giềng, ra vào gần đây luôn luôn thôi, chứ nào phải người xa lạ gì đâu ! ”  

Câu 313, 314 = “Đã lâu lắm rồi, mãi đến hôm nay, mới nhờ chút của rơi này mà gặp được nhau, thật là đã làm rầu rĩ thiểu não lòng tôi lắm ! ”

Câu 315, 316 = “Vậy xin cô dừng chân đứng đợi một chút cho tôi được gạn hỏi cặn kẽ đôi câu cho hiểu lòng nhau.

Câu 317, 318 = Rồi chàng vội chạy về nhà lấy thêm đôi xuyến vàng và một vuông khăn là đỏ đem ra.

Câu 319, 320 = Chàng lanh lẹ sẽ ghé chân vào nét triện mây đắp nổi ở bức tường gấm làm bực mà trèo qua ngọn tường. Sang bên kia rồi, chàng nhận đúng rõ ràng là người hôm nọ.

Câu 321, 322 = Lúc mới, hai người còn sượng sùng giữ ý rụt rè, chàng thì đưa mắt nhìn tận mặt, nàng thì cúi đầu e thẹn.

Câu 323, 324 = Chàng nói Từ hôm bất kỳ gặp nhau, lòng tôi lúc nào cũng âm thầm mong cô, nhớ cô, rõ thật mệt nhọc quá. ”

Câu 325, 326 = “Người tôi vốn đã gầy như cành mai, lại vì mong nhớ mà hao mòn thêm, lắm lúc như muốn lả xuống. Nhưng may sao trời dun dủi còn có hôm nay được gặp nhau ở đây. ”

Câu 327, 328 = “Suốt cả tháng nay, lòng tôi lúc nào cũng như gửi ở bên cô, tuy không chắc được gặp cô nữa, nhưng tôi vẫn một mực liều thân giữ một niềm, chẳng khác gì anh thợ cày ngày ngày ra ngồi gốc cây mà đợi thỏ. ”

Câu 329, 330 = “Nay tiện đây tôi xin hỏi cô có lòng chiếu cố đến kẻ hèn này không ?”

Câu 331, 332 = Kiều thấy chàng hỏi câu hệ trọng quá, khiến lòng nàng rất ngẩn ngơ, mới thưa rằng “Gia đình tôi là một nhà nền nếp trong sạch, trang nghiêm, còn tôi là một gái quê mùa thật thà biết giữ lễ nghĩa. ”

Câu 333, 334 = “Dù có hẹn hò về cuộc tình duyên nữa, thì việc nên hay không nên, cũng phải tùy lòng cha mẹ định liệu. ”

Câu 335, 336 = “Chứ giờ đây vì lòng quân tử quá thương mến tôi mà hỏi tôi như vậy, thì tôi còn trẻ thơ quá, biết đâu mà dám thưa lại !”

Câu 337, 338 = Chàng đáp “Đành vậy, nhưng sự trời nay gió mai mưa, biến đổi khó liệu trước được, dễ đã mấy khi tình cờ gặp nhau vui như thế này. ”

Câu 339, 340 = “Nếu cô không xét soi thấu rõ tấm tình si của tôi, thì thiệt thòi cho tôi quá, mà chẳng ích gì cho ai cả. ” 

Câu 341, 342 = “Tôi chỉ xin cô gắn bó với tôi một lời trước thôi, cho tôi được đành lòng yên chí, rồi sau tôi sẽ xin liệu cách tìm người đi lại mối manh đường hoàng, cô chớ ngại. ”

Câu 343, 344 = “Một khi chúng ta đã gắn bó một lời với nhau rồi thì dù ông trời kia có phụ tấc lòng thành của chúng ta chăng nữa, chúng ta cũng đành liều bỏ qua cả cuộc đời xuân xanh của chúng ta, không lấy ai nữa. ”

Câu 345, 346 = “Còn như chính cái độ lượng bao dung của cô như độ lượng vui hòa mùa xuân bao dung cả muôn vật kia, nay nó lại quá hẹp hòi chẳng bao dung tôi, thì chả hóa ra thiệt thòi cho công đeo đuổi của tôi lắm ru !”

Câu 347, 348 = Nàng đứng im lặng nghe lời chàng êm ái như ru. Những lời êm ái như gió xuân đó dễ khiến lòng nàng mê say nao núng lộ ra khóe mắt ngại ngùng, e thẹn ở trước mặt chàng.

Câu 349, 350 = Rồi nàng ngập ngừng ngỏ lời thưa rằng Trong buổi gặp nhau mới mẻ ta còn lạ lùng nhau này mà để chàng phải nài gạn mãi, em nể lòng chàng lắm, không lẽ nào cầm lòng không nhận lời chàng được. ”

Câu 351, 352 = “Vậy em xin thưa, tấm lòng chàng quân tử đã đa mang đến em tha thiết như vậy, thì em xin trân trọng nhận lời sẽ kết nghĩa trăm năm thủy chung với chàng và xin giữ lời này lâu bền như tạc vào bia đá, khắc vào biển vàng.”

Câu 353, 354 = Được Kiều nhận lời, chàng thật hả hê, lòng như được cởi mở ra, liền giở cành kim thoa và gói khăn hồng bọc đôi xuyến vàng cẩn trọng trao tận tay Kiều.

Câu 355, 356 = Và nói “Cuộc trăm năm của đôi ta kể từ hôm nay, và tôi xin nàng nhận cho một chút của này làm kỷ niệm, ghi nhớ mãi mãi.”

Câu 357, 358 = Kiều cũng lấy chiếc quạt nàng có vẽ đóa hoa quỳ cầm sẵn ở tay, và chiếc thoa vừa nhận được, để vào hai bàn tay mà kính cẩn nâng lên ngang mặt trao dâng cho chàng, để đánh đổi lấy đôi xuyến vàng do chàng tặng.

Câu 359, 360 = Hai bên cùng trao lời thề hẹn gắn bó chặt chẽ như keo sơn với nhau vừa xong thì mé sau như có tiếng người xôn xao.

Câu 361, 362 = Thế là vội vàng chia tay nhau, chàng thì về thư phòng, nàng thì về lầu trang.

Những câu hay chữ có ý móc nối

“Cho hay là giống hữu tình / đố ai gỡ mối tơ mành cho xong” là câu rất hay để chuyển tiếp cuộc tương tư của Kiều với cuộc tương tư của Kim Trọng. Tác giả khéo dùng hai chữ “đố ai” vừa để khuyên người đời chớ có để lòng vướng vào mối tơ tình mong manh lúc mới mà rồi gỡ khó ra, vừa để khuyên đời chớ trách giống hữu tình vương vào lưới tình như Kim Trọng và Thúy Kiều, chỉ vì một cái “nghé theo” hay “nhác thấy” lúc đầu mà rồi khó gỡ.

“Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây” dùng ý móc nối với nhiều câu ở dưới. Vì chàng bâng khuâng nỗi nàng nên mới có sự giong sầu suốt đem dài mất ngủ, càng khắc càng chầy, hết ngắm vầng trăng khuyết lại ngắm đĩa dầu hao. Cũng vì thế mới có sự buồng văn lạnh lẽo, bút khô mực, đàn chùng dây ; mới có sự mơ tưởng mộng hồn nàng đến, đốt hương chào mừng, pha trà cùng uống ; rồi ngày hôm sau mới có sự vội vã ra nơi kỳ ngộ để bị nhìn lau sậy nó kháy trêu, lại xăm xăm đến Lam kiều để bị nghe chim oanh nó mỉa mai.

“Mấy lần khóa kín phòng the / bóng hồng liệu nẻo đi về chiêm bao” móc nối khẩn thiết với câu “Mành tương phân phất gió đàn / hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình” vì chàng Kim tưởng tượng như Kiều đã đóng cửa đi ngủ, cho mộng hồn được lại với chàng nên khi thấy gió làm bức mành tương kêu, chàng cho là mộng hồn Kiều đến thăm mình, nên chàng đốt hương pha trà đón tiếp.

Hai câu “Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu” và “Gió chiều như gợi cơn sầu” tả lòng Kim Trọng bâng khuâng nhớ Kiều, đối lại với hai câu : “Bóng tà như giục cơn buồn” và “Dưới cầu nước chảy trong veo” tả lòng Kiều bâng khuâng nhớ Kim Trọng.

Câu “Lơ thơ tơ liễu buông mành” ở trước nhà Kiều ngầm tả lòng Kim Trọng bực vì những cành liễu có thể che khuất bóng Kiều, đối lại với câu “Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha” ngầm tả lòng Kiều trách liễu hình như phất phơ đưa Kim Trọng đi để trêu nàng.

Ở câu “Gió đâu sịch bức mành mành” thì gió thổi mành làm cho Kiều đương mơ tỉnh dậy, mất bóng Đạm Tiên. Ở câu “Mành tương phân phất gió đàn” thì gió thổi mành làm cho Kim Trọng đương tỉnh hóa mơ như thấy mộng hồn Kiều. Ý văn trong hai ngữ cảnh lần lượt tả Kiều và Kim móc nối nhau một cách kỳ diệu.

Vẫn một cảnh “nước trong,” câu “Dưới dòng nước chảy trong veo” thì làm cho Kiều ngẩn ngơ vì không còn bóng chàng Kim cưỡi ngựa qua cầu nữa ; câu Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu” thì làm cho chàng Kim ngẩn ngơ vì không còn bóng Kiều chiếu xuống dưới nước như hôm qua nữa.

Hai chữ “làm chi” ở câu “Người đâu gặp gỡ làm chi thì tả lòng Kiều đương mừng bỗng lo ; hai chữ “thì chi” ở câu “Thì chi đem thói khuynh thành trêu ngươi” thì làm cho Kim Trọng đương lo hóa mừng.

Hai chữ nét vàng” ở câu “Có hiên Lãm Thúy nét vàng chưa phai mới đọc thì tưởng là thừa, chỉ đặt để lấy vần với câu trên, nhưng đâu phải thế – chính chữ vàng này là chữ rất quan trọng trong câu. Lãm Thúy Hiên mà thếp vàng, nói ngược lại có phải là Kim Lãm Thúy Hiên không ? Lời nói ngược này có hàm ý “đây là mái hiên nơi chàng họ Kim vơ được nàng Thúy” – một điềm tốt quá sự suy đoán của chàng Kim : chàng chỉ đoán lấy được Thúy chị, có ngờ đâu lấy được cả Thúy em !

VƯỜN HOA ANH ĐÀO NHẬT BẢN (SACURA PLANT ) TẠI ĐÀI TƯỢNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN, 3650 DIXIE ROAD, MISSISSAUGA.




Kính mời Quý vị vào xem hình ảnh và video clips của  “Vườn Hoa Sakura Tượng Đài Thuyền Nhân” (3650 Dixie Road, Mississauga, góc đường Burnhamthorpe và Dixie, Mississauga ) trong link dưới đây:

https://photos.app.goo.gl/F515wkgYcAF18FvG7

2020-05-14 – VBPMMA SAKURA TREE PLANTING

9 cây hoa anh đào mầu hồng-đỏ Nhật bản cao 9 feet có rất nhiều nụ hoa sẽ nở hoa vào trước cuối tháng 5, 2020.

Xin nhớ ghé thăm TĐTN và hoa anh đào!

Kính chúc Quý Vị vui vẻ, khóe mạnh và bình an.

 

 

 

Đàm Trung Phán

GSKS hồi hưu

LỜI CẢNH BÁO VỀ NGUY CƠ ĐẠI HÁN của tư tưởng gia LÝ ĐÔNG A từ 80 năm trước.

Hạ Long Bụt sĩ 

Lý Đông A, một tư tưởng gia thâm viễn của Việt tộc, từ những năm 1940, trong tập Chu Tri Lục ( bàn về sự biết chu toàn) tập 3, đã phân tích và trưng ra những nguy cơ của kế hoạch Đại Hán của Tầu, dù là Tầu Quốc hay Tầu Cộng.

Lý Đông A đã nhìn rõ, từ 1943, sau đệ nhị Thế chiến, thế giới 1950-2000 sẽ chuyển mình sang chế độ mới, với các liên minh quốc tế. Tại thời điểm 1940, Căn bản lập trường dân tộc qua Cương Lĩnh 2, đối Tầu, gồm vài điểm quan trọng sau :

  1. Quy luật lịch sử Tầu là : Lấy Tài Hoá Thu Nhân Tâm ( thoát nghĩa Hữu đức giả hữu thổ ), Hưng Hoa diệt Di, thiên hạ đại đồng theo lối Hán mà vũ khí và thủ đoạn chủ yếu là chủng tộc xâm lược.
  2. Tam Dân chủ nghĩa của Tôn Văn cũng là một chủ nghĩa đế quốc : Tôn Văn từng nói với cụ Phan Bội Châu : “ Các ông bất tất phải làm, chỉ là một tỉnh của Tầuchúng tôi làm xong thì xong”, và sau này Tưởng Giới Thạch cũng nói : “ Việt Nam là Tầu, Việt Nam để người Tầu làm giúp cho”.
  3. Năm 1911, Tôn Văn đề xướng Ngũ Tộc Cộng Hoà, gồm 90% là nhân khẩu Tầu, 10% là Mãn, Mông, Tạng, Miêu ( là Việt núi). Năm 1916 Tôn Văn luận Quốc Tộc tức đúc các dân tộc vào một lò mà thống nhất thế giới, chia toàn quốc ra Tỉnh,Quận,Huyện, khoảng 1921-22, Tôn Văn nói : Ta phải đem các dân tộc Thái, Việt…liên hợp lại cùng chống đế quốc.
  4. Năm 1940, Chính Trị Địa Lý Bộ  của chính phủ Trùng Khánh, ra tập Đông Á Địa Lý, quy định 8 con đường phát triển của nòi Hán sau này :

-1/Tây Bá Lợi Á- 2/ Tây Tạng, Ba Tư- 3/Tân Cương- 4/Ấn Độ- 5/Việt, Thái,Miến,Tân Gia Ba- 6/Nam Dương liệt đảo- 7/Úc châu- 8/Thái Bình Dương liệt đảo & Hàn quốc.

Để đạt mục đích, Tầu dùng cách : Lộ Ố Nàm ( lấy vợ An Nam)-Dìu Ố Nàm ( tiêu tiền An Nam)-Chì Ố Nàm ( ở đất An Nam).

Lý Đông A còn trưng rõ : tờ Đại Lộ Nguyệt San ở Thượng Hải, số ngày 1-5-1933 đã đăng bài Nam Dương Hoa Kiều Cộng Hoà Quốc Vận Động, chủ trương lấy Hoa kiều làm chủ lực xâm lược, biến Nam Dương thành Hoa kiều Cộng hoà quốc, về Việt Nam : Bắc kỳ quy về mẫu quốc, Trung kỳ và Nam kỳ thuộc về Hoa kiều thống trị. Trên tờ Quảng Tây Nhật Báo số ngày 26-11-1942 đề xướng “Hoa kiều thổ hoá vận động” qui định bề mặt phải thổ hoá nghĩa là Hoa kiều ăn mặc theo thổ dân, nói tiếng thổ dân, ảnh hưởng văn hoá thổ dân để bề trong tăng tác dụng Hán hoá.

Lý Đông A còn nhấn mạnh : “ Đối riêng VN, họ đang nghiên cứu cách nào lập thành một Tỉnh, nuôi Việt gian thế nào, diệt chữ quốc ngữ thế nào, , tiễu trừ dân tộc ý thức cách nào, làm sao cho người Việt tưởng mình là Hán, khôi phục chữ Nho thế nào…thống trị thế nào…”

5- Tầm quan trọng của đất nước Việt Nam đã được viễn kiến Lý Đông A kết tinh hùng hồn như sau : “ Đất ta là đất cơ sở của Thái Bình Dương, trung tâm của Đông Nam Á, tư lệnh đài của quốc tế, được ta thì tiến lên xưng bá loài người, lui về thì tự thủ muôn thuở…đứng vào thiên hiểm của trung tâm…đời nay nếu ta muốn sống phải hết sức mạnh mà ta hững hờ là thì tất diệt. Lại đời nay, diệt tức là toàn diệt đó, Ta chớ hòng làm Hoà Lan hay Thuỵ Sĩ…ta là cái xương hóc giữa cổ họng chú chiệc…”

LẠM BÀN

1-Đối Tầu, phân tích cặn kẽ của Lý Đông A, 80 năm sau, vẫn còn nguyên vẹn giá trị và vẫn làm kim chỉ nam cho cuộc vận động toàn dân sinh tồn phòng vệ. Nhật, Pháp chỉ là đối thủ chóng qua, Tầu trước sau vẫn là đối thủ truyền kiếp.

2-Trung Cộng đã chiếm Tân Cương, Tây Tạng, từng đánh Ấn Độ 1962, mưu toan ở Nam Dương 1965 …đúng như dự liệu của Lý Đông A, và so với tiết lộ của Wikileaks gần đây, thì mưu lược của Tầu trước sau vẫn là mở đường xuống Đông Nam Á, qua VN, chiếm biển Đông, lối tằm ăn dâu, thuê đất thuê rừng, khai Bâuxít, mỏ quặng, lấn đảo, biển, dùng tài hoá đầu tư khắp VN nhất là đang nhắm vùng biên giới Móng Cáy ( ngũ niên kế hoạch đầu tư hơn 400 tỷ từ nay tới 2015). (1)

3-Lý Đông A nhìn rõ thế giới từ 1950-2000, hậu Thế chiến II, đổi mới theo hướng quốc tế liên minh, mà VN trong liên minh Đại Nam Hải, phải thật mạnh để đối kháng Tầu.

  1. Cảnh báo về âm mưu Hán hoá : nuôi Việt gian, làm sao cho người mình tưởng mình là Hán, diệt trừ chữ quốc ngữ, khôi phục chữ Nho thế nào…vẫn còn nguyên giá trị. Hiện tại vẫn không thiếu người vì lòng yêu chữ Nho-chữ Nôm, vô tình tuyên truyền cho âm mưu đó mà quên rằng, cổ ngữ như LaTinh,Hy Lạp vẫn chỉ là cổ ngữ và quốc ngữ abc mới là nét đặc sắc của Văn hoá linh động cấp tiến Việt, tách rời bóng trùm Hán học.
  2. Trung Cộng công khai gây hấn ở Biển Đông, với 80 tầu chiến, tháng 5-2014, rõ ràng không từ bỏ chính sách cố hữu Đại Hán lạc hậu đó. Nay 2020 TC xây các đảo nhân tạo gần Trường Sa, uy hiếp Phi, Việt, Nam Dương, Mã Lai.

***

Tiếc rằng Lý Đông A đã khuất bóng sớm, từ 1946, không kịp nhìn thấy những chuyển biến rất lớn của thế giới : Tầu Cộng chiếm Hoa lục từ 1949, Tưởng chạy ra Đài Loan, Quốc Cộng VN 1954, VN 1975, Nga sô Đông Âu xụp đổ 1990, thế giới Hồi giáo bừng dậy, cuộc cách mạng điện tử mở rộng thông tin toàn cầu từ 1980….

Nam Dương, nhờ 90% Hồi giáo đã đẩy ngã Cộng sản Hoa kiều xuống biển.

Hàn, Nhật, trở thành cường quốc kinh tế, đối kháng mạnh mẽ với tiềm năng kinh tế của Tầu.

Ấn Độ cũng trở thành một cường quốc, Tầu khó có thể xâm chiếm (2)

Úc châu, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân, Mã Lai, Singapore, Đài Loan…những đảo quốc này với hải quân và hạm đội Hoa kỳ, không dễ gì hải quân mới lớn của Tầu có thể áp đảo, Tầu chưa từng có kinh nghiệm về hải chiến và đại chiến.

Hai khâu yếu nhất hiện tại là Lào và Việt Nam. Nếu VN biết nghiêng hẳn sang khối ASEAN và đại cường Hoa Kỳ, vận động yểm trợ của quan thầy cũ là Nga Sô tạo áp lực miền Tân Cương, Tây-Tây Bắc Trung Hoa, thì VN có thể thoát hiểm và làm chùn chân hồ đội lốt hổ Tầu.

Tại sao Tầu lại là hồ đội lốt hổ ? phân tích ta thấy dân Tầu 1.3 tỷ là loại dân hỗn tạp, nam Dương Tử vốn là giống Bách Việt, cả 56 bộ tộc, dân Hán từng bị Mông Cổ đô hộ 99 năm, Mãn Thanh thống trị 300 năm, binh hùng tướng mạnh, Tống, Minh.. sang đánh VN lần nào cũng tan tành đại bại, đầu thế kỷ XX Nhật Bản vũ bão đánh chiếm Mãn châu, Trung nguyên Tầu, Bát quốc xâu xé bắt nhượng địa, vì sao ? có thể kê ra những nhược điểm của Tầu như sau :

* Dân Tầu không phải là loại dân chiến sĩ –warriors- như Nhật, Mông, đa số là dân buôn bán, trí thức nhào nặn trong Nho Khổng cả ngàn năm, ô hợp, cúi mình theo cấp trên, làm việc lấy lệ, dối trá cho yên thân, trọng tiểu lợi, đầy dẫy những tiểu nhân tài bất cập chí, đầu óc còn phong kiến lạc hậu, chưa nhìn ra thế toàn cầu, vẫn lúi húi trong trò chơi chính trị Chiến quốc Tam quốc. Dân tình dân trí như thế làm sao bá chủ hoàn cầu ?

* Khối người Tầu theo hướng Tự Do Dân chủ, chống Cộng, khá đông vòng quanh thế giới, Đài Loan, Tân Gia Ba, Mỹ, Gia Nã Đại…Lý Quang Diệu từng cảnh tỉnh Đặng Tiểu Bình về đầu óc thực dân lấy mạnh hiếp yếu của Tầu Cộng. Khối này, cộng với những người đối kháng thức thời trong Hoa lục, không để Trung Cộng yên ổn khi có đại biến cố xẩy ra.

* Vũ khí nguyên tử mới không còn nể sợ biển người của Tầu, chưa kể loại quân Tầu phù, ngay cả 200 năm trước cũng đã bị Nguyễn Huệ phá tan trong một tuần lễ. Miếng ăn, nạn đói luôn luôn ám ảnh dân Tầu, dân xấu xí uý tử tham sinh hơn là bền gan sắt đá.

* Âm mưu của Trung Cộng lấy kinh tế bao vây Âu Mỹ, không qua mặt được bậc thầy kinh tài Nữu Ước Luân đôn, bậc thầy chứng khoán, bonds.. Do Thái..Giỏi về thương mại, quen hối lộ, gian thương..sau 30 năm canh tân từ 1979 tới nay Tầu vẫn chưa có nổi một thương hiệu quốc tế như Đại Hàn với Samsung, Hyundai, LG…có nghĩa là một nền kinh tế chậm tiến gia công cho Nhật, Âu, Mỹ…Cựu thủ tướng Anh, M.Thatcher từ 2002 cho rằng phải mất 40 năm nữa Tầu mới tân tiến, giải quyết xong cấu trúc hạ tầng xã hội. Hiện tại Tầu công kích Mỹ lấy Đô La làm loại tiền thống trị thế giới, nhưng đến bao giờ đồng Yuan của Tầu mới có uy tín bằng đô la để được quốc tế chấp nhận ?

* Hiện nay, 2020, Tầu Cộng đang dùng quỷ thuật sinh học Coronavirus từ Vũ Hán phát tán ra, dù vô tình hay hữu ý, thì TC cũng đang dùng quỷ kế phá nền kinh tế tư bản toàn cầu mà chính TC đã dựa vào để phát triển. Quỷ kế này sẽ làm thế giới Tự do khựng lại và đưa tới Đại chiến nếu TC không biết liệu sức mình, chưa kể trước mắt, gậy ông đập lưng ông, kinh tế TC nương nhờ Âu Mỹ cũng sẽ xuống dốc, đã và đang tạo cả trăm triệu người thất nghiệp, tất xã hội phải đổ vỡ, chia rẽ phia phái, địa phương sẽ nổ ra.

Trước trào lưu dân chủ tự do lan tràn toàn thế giới, sách lược Tâm Công của Nguyễn Trãi, từng làm quân Minh tan hàng, có thể dùng để làm rã ngũ quân cán Trung Cộng nếu phối hợp được với các lực lượng đối kháng của chính người Tầu trên thế giới, như Đài Loan, và người Bách Việt nam Dương Tử, người trí thức khát vọng tự do dân chủ ngay trong đất Tầu.

CHÚ THÍCH

1-Năm 1965, cùng với chiến tranh VN, đảng CS Nam Dương với 3.5 triệu đảng viên và 20 triệu người ủng hộ, là đảng mạnh nhất trong 18 đảng, họ toan nắm quyền ở Nam Dương. Khi ấy TT Sukarno lại bỏ Âu Mỹ, nghiêng về Trung Cộng, với lạm phát 650% kinh tế kiệt quệ, Sukarno từng chửi rủa Mỹ : “ Go to Hell with your aid ” đuổi đoàn thiện chí Peace Corp Mỹ, ông bi bệnh, không chịu giải phẫu ở Vienna mà lại quay về với Đông Y Tầu…May nhờ giới quân nhân chống Cộng quyết liệt và khối Hồi giáo thuần thành vốn chống vô thần, đảng CS Nam Dương bị triệt hạ, quần chúng nổi lên giết người Hoa mà họ cho là đứng sau đảng CS ( CS Tầu đã chuyển vũ khí cho CS Nam Dương), họ trả lại đất cho điền chủ bị CS địa phương tước đoạt…Theo Đại sứ Mỹ năm 1966 cho biết khoảng 400,000 CS và thân CS bị tàn sát, Đại sứ Thuỵ điển cho rằng số bị giết ít nhất là 1 triệu người. Hoa Kỳ khi ấy quyết tâm chặn đứng sức bành trướng của Trung Cộng ở biển Đông, từ Mã Lai-Nam Dương-tới Nam VN. Ngày nay, khu Tầu ở Nam Dương không dám đề chữ Hán trên bảng hiệu ! ( Sukarno bị truất 1967, mất năm 1970-tướng Suharto lên thay)

2-Xung đột biên giới Ấn-Tầu 1962 làm Thủ Tướng Nerhu tỉnh ngộ : Huynh đệ Ấn-Tầu-India-China Brothers- chỉ là trò hề, ngay sau đó Ấn tăng cường quân đội gấp đôi để phòng Tầu, cùng vụ hoả tiễn ở Cuba năm ấy , Mỹ và Âu châu nhìn ra tham vọng bành trướng của CS và riêng Nga cũng bắt đầu nghi ngại mối hoạ láng giềng Tầu. ( tài liệu tra cứu từ Google ).

Lvv cập nhật 15-4-2020.

 LỜI CẢNH BÁO VỀ NGUY CƠ ĐẠI HÁN

của tư tưởng gia LÝ ĐÔNG A từ 80 năm trước.

                                                       Hạ Long Bụt sĩ (cập nhật 4-2020)

Lý Đông A, một tư tưởng gia thâm viễn của Việt tộc, từ những năm 1940, trong tập Chu Tri Lục ( bàn về sự biết chu toàn) tập 3, đã phân tích và trưng ra những nguy cơ của kế hoạch Đại Hán của Tầu, dù là Tầu Quốc hay Tầu Cộng.

Lý Đông A đã nhìn rõ, từ 1943, sau đệ nhị Thế chiến, thế giới 1950-2000 sẽ chuyển mình sang chế độ mới, với các liên minh quốc tế. Tại thời điểm 1940, Căn bản lập trường dân tộc qua Cương Lĩnh 2, đối Tầu, gồm vài điểm quan trọng sau :

  1. Quy luật lịch sử Tầu là : Lấy Tài Hoá Thu Nhân Tâm ( thoát nghĩa Hữu đức giả hữu thổ ), Hưng Hoa diệt Di, thiên hạ đại đồng theo lối Hán mà vũ khí và thủ đoạn chủ yếu là chủng tộc xâm lược.
  2. Tam Dân chủ nghĩa của Tôn Văn cũng là một chủ nghĩa đế quốc : Tôn Văn từng nói với cụ Phan Bội Châu : “ Các ông bất tất phải làm, chỉ là một tỉnh của Tầuchúng tôi làm xong thì xong”, và sau này Tưởng Giới Thạch cũng nói : “ Việt Nam là Tầu, Việt Nam để người Tầu làm giúp cho”.
  3. Năm 1911, Tôn Văn đề xướng Ngũ Tộc Cộng Hoà, gồm 90% là nhân khẩu Tầu, 10% là Mãn, Mông, Tạng, Miêu ( là Việt núi). Năm 1916 Tôn Văn luận Quốc Tộc tức đúc các dân tộc vào một lò mà thống nhất thế giới, chia toàn quốc ra Tỉnh,Quận,Huyện, khoảng 1921-22, Tôn Văn nói : Ta phải đem các dân tộc Thái, Việt…liên hợp lại cùng chống đế quốc.
  4. Năm 1940, Chính Trị Địa Lý Bộ  của chính phủ Trùng Khánh, ra tập Đông Á Địa Lý, quy định 8 con đường phát triển của nòi Hán sau này :

-1/Tây Bá Lợi Á- 2/ Tây Tạng, Ba Tư- 3/Tân Cương- 4/Ấn Độ- 5/Việt, Thái,Miến,Tân Gia Ba- 6/Nam Dương liệt đảo- 7/Úc châu- 8/Thái Bình Dương liệt đảo & Hàn quốc.

Để đạt mục đích, Tầu dùng cách : Lộ Ố Nàm ( lấy vợ An Nam)-Dìu Ố Nàm ( tiêu tiền An Nam)-Chì Ố Nàm ( ở đất An Nam).

Lý Đông A còn trưng rõ : tờ Đại Lộ Nguyệt San ở Thượng Hải, số ngày 1-5-1933 đã đăng bài Nam Dương Hoa Kiều Cộng Hoà Quốc Vận Động, chủ trương lấy Hoa kiều làm chủ lực xâm lược, biến Nam Dương thành Hoa kiều Cộng hoà quốc, về Việt Nam : Bắc kỳ quy về mẫu quốc, Trung kỳ và Nam kỳ thuộc về Hoa kiều thống trị. Trên tờ Quảng Tây Nhật Báo số ngày 26-11-1942 đề xướng “Hoa kiều thổ hoá vận động” qui định bề mặt phải thổ hoá nghĩa là Hoa kiều ăn mặc theo thổ dân, nói tiếng thổ dân, ảnh hưởng văn hoá thổ dân để bề trong tăng tác dụng Hán hoá.

Lý Đông A còn nhấn mạnh : “ Đối riêng VN, họ đang nghiên cứu cách nào lập thành một Tỉnh, nuôi Việt gian thế nào, diệt chữ quốc ngữ thế nào, , tiễu trừ dân tộc ý thức cách nào, làm sao cho người Việt tưởng mình là Hán, khôi phục chữ Nho thế nào…thống trị thế nào…”

5- Tầm quan trọng của đất nước Việt Nam đã được viễn kiến Lý Đông A kết tinh hùng hồn như sau : “ Đất ta là đất cơ sở của Thái Bình Dương, trung tâm của Đông Nam Á, tư lệnh đài của quốc tế, được ta thì tiến lên xưng bá loài người, lui về thì tự thủ muôn thuở…đứng vào thiên hiểm của trung tâm…đời nay nếu ta muốn sống phải hết sức mạnh mà ta hững hờ là thì tất diệt. Lại đời nay, diệt tức là toàn diệt đó, Ta chớ hòng làm Hoà Lan hay Thuỵ Sĩ…ta là cái xương hóc giữa cổ họng chú chiệc…”

LẠM BÀN

1-Đối Tầu, phân tích cặn kẽ của Lý Đông A, 80 năm sau, vẫn còn nguyên vẹn giá trị và vẫn làm kim chỉ nam cho cuộc vận động toàn dân sinh tồn phòng vệ. Nhật, Pháp chỉ là đối thủ chóng qua, Tầu trước sau vẫn là đối thủ truyền kiếp.

2-Trung Cộng đã chiếm Tân Cương, Tây Tạng, từng đánh Ấn Độ 1962, mưu toan ở Nam Dương 1965 …đúng như dự liệu của Lý Đông A, và so với tiết lộ của Wikileaks gần đây, thì mưu lược của Tầu trước sau vẫn là mở đường xuống Đông Nam Á, qua VN, chiếm biển Đông, lối tằm ăn dâu, thuê đất thuê rừng, khai Bâuxít, mỏ quặng, lấn đảo, biển, dùng tài hoá đầu tư khắp VN nhất là đang nhắm vùng biên giới Móng Cáy ( ngũ niên kế hoạch đầu tư hơn 400 tỷ từ nay tới 2015). (1)

3-Lý Đông A nhìn rõ thế giới từ 1950-2000, hậu Thế chiến II, đổi mới theo hướng quốc tế liên minh, mà VN trong liên minh Đại Nam Hải, phải thật mạnh để đối kháng Tầu.

  1. Cảnh báo về âm mưu Hán hoá : nuôi Việt gian, làm sao cho người mình tưởng mình là Hán, diệt trừ chữ quốc ngữ, khôi phục chữ Nho thế nào…vẫn còn nguyên giá trị. Hiện tại vẫn không thiếu người vì lòng yêu chữ Nho-chữ Nôm, vô tình tuyên truyền cho âm mưu đó mà quên rằng, cổ ngữ như LaTinh,Hy Lạp vẫn chỉ là cổ ngữ và quốc ngữ abc mới là nét đặc sắc của Văn hoá linh động cấp tiến Việt, tách rời bóng trùm Hán học.
  2. Trung Cộng công khai gây hấn ở Biển Đông, với 80 tầu chiến, tháng 5-2014, rõ ràng không từ bỏ chính sách cố hữu Đại Hán lạc hậu đó. Nay 2020 TC xây các đảo nhân tạo gần Trường Sa, uy hiếp Phi, Việt, Nam Dương, Mã Lai.

***

Tiếc rằng Lý Đông A đã khuất bóng sớm, từ 1946, không kịp nhìn thấy những chuyển biến rất lớn của thế giới : Tầu Cộng chiếm Hoa lục từ 1949, Tưởng chạy ra Đài Loan, Quốc Cộng VN 1954, VN 1975, Nga sô Đông Âu xụp đổ 1990, thế giới Hồi giáo bừng dậy, cuộc cách mạng điện tử mở rộng thông tin toàn cầu từ 1980….

Nam Dương, nhờ 90% Hồi giáo đã đẩy ngã Cộng sản Hoa kiều xuống biển.

Hàn, Nhật, trở thành cường quốc kinh tế, đối kháng mạnh mẽ với tiềm năng kinh tế của Tầu.

Ấn Độ cũng trở thành một cường quốc, Tầu khó có thể xâm chiếm (2)

Úc châu, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân, Mã Lai, Singapore, Đài Loan…những đảo quốc này với hải quân và hạm đội Hoa kỳ, không dễ gì hải quân mới lớn của Tầu có thể áp đảo, Tầu chưa từng có kinh nghiệm về hải chiến và đại chiến.

Hai khâu yếu nhất hiện tại là Lào và Việt Nam. Nếu VN biết nghiêng hẳn sang khối ASEAN và đại cường Hoa Kỳ, vận động yểm trợ của quan thầy cũ là Nga Sô tạo áp lực miền Tân Cương, Tây-Tây Bắc Trung Hoa, thì VN có thể thoát hiểm và làm chùn chân hồ đội lốt hổ Tầu.

Tại sao Tầu lại là hồ đội lốt hổ ? phân tích ta thấy dân Tầu 1.3 tỷ là loại dân hỗn tạp, nam Dương Tử vốn là giống Bách Việt, cả 56 bộ tộc, dân Hán từng bị Mông Cổ đô hộ 99 năm, Mãn Thanh thống trị 300 năm, binh hùng tướng mạnh, Tống, Minh.. sang đánh VN lần nào cũng tan tành đại bại, đầu thế kỷ XX Nhật Bản vũ bão đánh chiếm Mãn châu, Trung nguyên Tầu, Bát quốc xâu xé bắt nhượng địa, vì sao ? có thể kê ra những nhược điểm của Tầu như sau :

* Dân Tầu không phải là loại dân chiến sĩ –warriors- như Nhật, Mông, đa số là dân buôn bán, trí thức nhào nặn trong Nho Khổng cả ngàn năm, ô hợp, cúi mình theo cấp trên, làm việc lấy lệ, dối trá cho yên thân, trọng tiểu lợi, đầy dẫy những tiểu nhân tài bất cập chí, đầu óc còn phong kiến lạc hậu, chưa nhìn ra thế toàn cầu, vẫn lúi húi trong trò chơi chính trị Chiến quốc Tam quốc. Dân tình dân trí như thế làm sao bá chủ hoàn cầu ?

* Khối người Tầu theo hướng Tự Do Dân chủ, chống Cộng, khá đông vòng quanh thế giới, Đài Loan, Tân Gia Ba, Mỹ, Gia Nã Đại…Lý Quang Diệu từng cảnh tỉnh Đặng Tiểu Bình về đầu óc thực dân lấy mạnh hiếp yếu của Tầu Cộng. Khối này, cộng với những người đối kháng thức thời trong Hoa lục, không để Trung Cộng yên ổn khi có đại biến cố xẩy ra.

* Vũ khí nguyên tử mới không còn nể sợ biển người của Tầu, chưa kể loại quân Tầu phù, ngay cả 200 năm trước cũng đã bị Nguyễn Huệ phá tan trong một tuần lễ. Miếng ăn, nạn đói luôn luôn ám ảnh dân Tầu, dân xấu xí uý tử tham sinh hơn là bền gan sắt đá.

* Âm mưu của Trung Cộng lấy kinh tế bao vây Âu Mỹ, không qua mặt được bậc thầy kinh tài Nữu Ước Luân đôn, bậc thầy chứng khoán, bonds.. Do Thái..Giỏi về thương mại, quen hối lộ, gian thương..sau 30 năm canh tân từ 1979 tới nay Tầu vẫn chưa có nổi một thương hiệu quốc tế như Đại Hàn với Samsung, Hyundai, LG…có nghĩa là một nền kinh tế chậm tiến gia công cho Nhật, Âu, Mỹ…Cựu thủ tướng Anh, M.Thatcher từ 2002 cho rằng phải mất 40 năm nữa Tầu mới tân tiến, giải quyết xong cấu trúc hạ tầng xã hội. Hiện tại Tầu công kích Mỹ lấy Đô La làm loại tiền thống trị thế giới, nhưng đến bao giờ đồng Yuan của Tầu mới có uy tín bằng đô la để được quốc tế chấp nhận ?

* Hiện nay, 2020, Tầu Cộng đang dùng quỷ thuật sinh học Coronavirus từ Vũ Hán phát tán ra, dù vô tình hay hữu ý, thì TC cũng đang dùng quỷ kế phá nền kinh tế tư bản toàn cầu mà chính TC đã dựa vào để phát triển. Quỷ kế này sẽ làm thế giới Tự do khựng lại và đưa tới Đại chiến nếu TC không biết liệu sức mình, chưa kể trước mắt, gậy ông đập lưng ông, kinh tế TC nương nhờ Âu Mỹ cũng sẽ xuống dốc, đã và đang tạo cả trăm triệu người thất nghiệp, tất xã hội phải đổ vỡ, chia rẽ phia phái, địa phương sẽ nổ ra.

Trước trào lưu dân chủ tự do lan tràn toàn thế giới, sách lược Tâm Công của Nguyễn Trãi, từng làm quân Minh tan hàng, có thể dùng để làm rã ngũ quân cán Trung Cộng nếu phối hợp được với các lực lượng đối kháng của chính người Tầu trên thế giới, như Đài Loan, và người Bách Việt nam Dương Tử, người trí thức khát vọng tự do dân chủ ngay trong đất Tầu.

CHÚ THÍCH

1-Năm 1965, cùng với chiến tranh VN, đảng CS Nam Dương với 3.5 triệu đảng viên và 20 triệu người ủng hộ, là đảng mạnh nhất trong 18 đảng, họ toan nắm quyền ở Nam Dương. Khi ấy TT Sukarno lại bỏ Âu Mỹ, nghiêng về Trung Cộng, với lạm phát 650% kinh tế kiệt quệ, Sukarno từng chửi rủa Mỹ : “ Go to Hell with your aid ” đuổi đoàn thiện chí Peace Corp Mỹ, ông bi bệnh, không chịu giải phẫu ở Vienna mà lại quay về với Đông Y Tầu…May nhờ giới quân nhân chống Cộng quyết liệt và khối Hồi giáo thuần thành vốn chống vô thần, đảng CS Nam Dương bị triệt hạ, quần chúng nổi lên giết người Hoa mà họ cho là đứng sau đảng CS ( CS Tầu đã chuyển vũ khí cho CS Nam Dương), họ trả lại đất cho điền chủ bị CS địa phương tước đoạt…Theo Đại sứ Mỹ năm 1966 cho biết khoảng 400,000 CS và thân CS bị tàn sát, Đại sứ Thuỵ điển cho rằng số bị giết ít nhất là 1 triệu người. Hoa Kỳ khi ấy quyết tâm chặn đứng sức bành trướng của Trung Cộng ở biển Đông, từ Mã Lai-Nam Dương-tới Nam VN. Ngày nay, khu Tầu ở Nam Dương không dám đề chữ Hán trên bảng hiệu ! ( Sukarno bị truất 1967, mất năm 1970-tướng Suharto lên thay)

2-Xung đột biên giới Ấn-Tầu 1962 làm Thủ Tướng Nerhu tỉnh ngộ : Huynh đệ Ấn-Tầu-India-China Brothers- chỉ là trò hề, ngay sau đó Ấn tăng cường quân đội gấp đôi để phòng Tầu, cùng vụ hoả tiễn ở Cuba năm ấy , Mỹ và Âu châu nhìn ra tham vọng bành trướng của CS và riêng Nga cũng bắt đầu nghi ngại mối hoạ láng giềng Tầu. ( tài liệu tra cứu từ Google ).

Lưu Văn Vịnh cập nhật 15-4-2020.

DỊCH COVID-19 (“Cô” RONA 19) VÀ TIẾNG VỌNG THUYỀN NHÂN

Đàm Trung Phán


“MÀ SAO ÂM KHÍ VẮNG TANH THẾ NÀY?”

Hôm nay bầu trời Mississauga, Canada – nơi đôi vợ chồng già chúng tôi đang cư ngụ trong đời hưu trí – rất âm u. Mưa đang rơi và cái lạnh buốt xương cho người già đã thôi thúc người viết phải ngồi xuống để ghi lại những gì về cơn dịch COVID-19 đang hoành hành. Nhất là những gì mà vợ chồng chúng tôi đang trải qua: may mắn hơn nhiều nơi khác và đây cũng lại là cơ hội để cho chúng tôi và rất nhiều người đời cần phải suy nghĩ về cuộc đời của chính bản thân mình và của thế giới nói chung.

Trong 6 năm qua, người viết khá bận rộn với nhiều thứ. Nhất là vụ xây cất Tượng Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân tại thành phố Mississauga này. Cũng may là Tượng Đài Thuyền Nhân đã tạm thời hoàn tất được khoảng 90% vào đầu tháng 11 năm 2019 trước khi Hội Đồng Thành Phố Mississauga tạm ngưng các công việc xây cất ngoài trời trong những ngày tháng mùa đông. Các anh chị em trong Hội Đồng Quản Trị và các thiện nguyện viên đã may mắn có cơ hội để được tạm nghỉ làm việc trong dịp lễ Giáng Sinh 2019 và đón mừng Năm Mới 2020.

Chúng tôi thấy thoải mái và rất cần được nghỉ lo âu vì cứ phải tiếp tục làm cho xong các “deadlines” liên tục  trong thời kỳ  gây quỹ và nhất là trong thời kỳ xây cất Tượng Đài từ tháng 7 cho đến đầu tháng 11 năm 2019.

Riêng người viết, chúng tôi cảm thấy an tâm vì tượng đài đã “đứng vững” trên bệ đá hoa cương hình ngũ giác và phần xây cất Tượng Đài đã không còn bị những “giòng nước ngầm” quấy phá nữa. Chưa bao giờ người viết cảm thấy được an nhàn mà đi bộ mỗi buổi sáng trong khu vườn, trong các con phố “side street” gần nhà cho đến lúc Khánh Thành vào hôm Nov. 9, 2019. Ngay ngày hôm sau, cơn bão tuyết đã “mở hàng” cho cư dân Mississauga chúng tôi trong 2 ngày liên tiếp!

Niềm an vui khá trọn vẹn. Đi bộ để mà đi, nhất là đi xung quanh Tượng Đài Thuyền Nhân. Đi để mà thấy thân tâm của mình không bị giao động. Đi để mà tự mình đang sống với chính mình. Đi để mà thấy “đôi tình nhân lớn tuổi” đang được hưởng những giây phút với con, với cháu và nhất là được nhìn thấy các cháu nội, cháu ngoại đang khôn lớn trong lứa tuổi hồn nhiên của chúng.

Qua đến tháng Hai trong năm 2020 thì “Cô” (Corona í mà) xuất hiện qua báo chí. Thoạt đầu, chỉ nghĩ là “Cô” (Rona) “xinh đẹp” và bị báo chí “ghen tị” nên hay thêu dệt về “Cô”. Nhất là cái vụ “Fake news” đang lộng hành. Nhưng rồi, may mắn thay, mình lại được xem tin tức qua Youtube của rất nhiều người trong nhiều nơi khác nhau thì mới biết “Cô” nhà ta là như thế nào. Đúng là “Cô hồn” thật rồi. “Cô” đến từ Vũ Hán. Thành phố Vũ Hán mà dân Việt Nam chúng ta được biết qua thơ văn của người Tầu!

Người viết đã già rồi, đã quá “date” nên chẳng sợ chết gì hết. “Chết” chẳng phải là “hết” mà chỉ để “được nghỉ việc” ít lâu (vài năm, vài trăm năm, vài nghìn năm?) Cái thời gian tính sau khi “mình chết” không còn là yếu tố quan trọng trong “thế giới bên kia” nữa.

Tuy nhiên “lão niên” này chỉ thương cho các thế hệ trẻ mà thôi. Sẽ chẳng có “mồ yên mả đẹp nữa” vì “thân tro bụi” này sẽ chóng được được gieo đi trong hồ, trong biển rồi. “Ra đi không hẹn ngày về”!

Khi đang viết những giòng này thì “Cô” đang xuất hiện trên toàn thế giới. “Cô” xuất hiện mạnh nhất tại nơi “chôn nhau, cắt rốn” của “Cô”: Trung Hoa cộng sản. Nhờ “Cô” mà thế giới mới có bằng chứng “lý lịch” của “cô” và có nhiều nghi vấn về sự “có mặt” của “Cô” lắm!

Tuy nhiên, nhờ có “Cô” mà người đời mới bắt đầu phải “nhìn vào bên trong”con người thực sự của mình. Sự xuất hiện của “Cô” đã làm cho thiên hạ phải sống theo luật pháp của quốc gia nơi họ đang sinh sống: Sống cách ly để cho “cô” đỡ có thể “quậy” từ người này qua người khác…

“CÔ” RONA , MÁT DZÊ IN CHÁI NỜ, 2019

Thành phố yên tĩnh hơn: ít xe cộ, ít có đi ngoài đường phố làm phố xá ít náo động hơn, không khí ít bị ô nhiễm, và con nít có dịp được sống quây quần với bố mẹ nhiều hơn… “Back to the basic” như Tây Phương thường nói.

Riêng về cặp vợ chồng già chúng tôi, chúng tôi ít khi đi ra phố lắm, trừ những lúc “ông già nay đã 78” đi bộ xung quanh cái vườn rộng xung quanh chung cư này mà thôi.

Tuần trước, vợ chồng chúng tôi phải lái xe ra một cái “shopping plaza” để người viết gia hạn bằng lái xe và tờ bảo hiểm sức khỏe. Khi “đôi trẻ” tiến tới văn phòng này, chúng tôi bị một nhân viên phái nữ dơ tay chặn lại:

– Xin ông bà đứng lại! (cách bà ta ít nhất 2m /6ft)

Bà ta hỏi chúng tôi có bị bệnh gì không, trong nhà còn có ai cùng sống với chúng tôi không, trong vòng 2 tuần trước có gặp ai mới ở ngoại quốc về không?

Sau khi chúng tôi trả lời “không”, bà ta mới cho chúng tôi vào chỗ nhân viên làm việc. Bà thư ký đeo khẩu trang cũng bắt chúng tôi phải đứng cách xa bà ta 2m/6ft. Tuy nhiên, bà ta làm việc rất nhanh: chỉ trong vòng 5 phút là chúng tôi có ngay được thẻ lái xe và tờ bảo hiểm sức khỏe tạm thời.

Trong cái “plaza” này, tất cả mọi cửa hàng đều đóng cửa hết. Chỉ có hiệu bán cà phê “Tim Hortons” và hiệu bán thực phẩm “Metro” còn mở cửa mà thôi (chính phủ  Ontario cho phép vì họ phục vụ đồ ăn thức uống cho thiên hạ).

Đặc biệt giá xăng rẻ bằng nửa trước khi “cô đến thăm dân một chiều đông” của chúng tôi: 65 xu một lít thay vì 1.20 Gia Kim hai tuần trước đó.

Nhìn thành phố vắng lặng làm người viết nhớ đến một cuốn phim đã được chiếu khoảng 50 năm trước: Thành phố New York bên Mỹ không còn 1 bóng người đi lại khi một anh chàng thủy thủ Mỹ trở về thăm New York.

Đôi “uyên ương” về hưu đã trên 16 cái xuân xanh nay có nhiều thì giờ hơn nên bà thường nấu phở, nấu cháo cho chồng, cho con và cháu ngoại ăn. Hóa ra trong “cái rủi lại có cái “may”(!): chúng tôi được gặp con cháu nhiều hơn cũng là vì nhờ “cô” mà “được” như vậy.

Nhìn cảnh trời u ám dưới làn mưa lạnh (cái lạnh làm buốt cái đôi cẳng già nua), người viết miên man trở về với giòng dĩ vãng…

Đầu thập niên 1960, khi mới đến Sydney, Úc Đại Lợi, người viết thích ra bờ biển và đi thăm mấy cái park lắm. Thích nhất là được ngắm những bức tượng đúc bằng đồng đen, vươn mình đứng trong cái park tĩnh mịch vào lúc chập choạng tối ít người qua lại. Tự nhiên thấy lòng mình lắng xuống: buồn tình vì phải sống xa nhà, vì thấy lo cho thân phụ trong lúc tuổi già: bố, con mỗi người một nơi, và cảm thấy bất an cho gia đình ở Việt Nam trong lúc quê hương đang bị chiến tranh lan tràn từ Bắc vào Nam…

Trong cái se lạnh của mùa Đông đất Úc, trong cái lúc đơn độc của một thanh niên đang phải đối đầu giữa hai nền văn minh giữa Á và Âu, và thời buổi giao thời của hai nền giáo dục Úc và Việt Nam. Đứng lặng nhìn bức tượng trước khi chàng trở về với sách vở trong căn phòng đơn sơ của một thanh niên du học xa nhà…

Sau khi đã tốt nghiệp, chàng thanh niên rời đất Úc để đi đến miền định cư mới. Chỗ nào có các bức tượng đồng đen, chỗ đó sẽ có mặt anh chàng nay đã vào đời. Chàng đã trở thành một nhà giáo, đã có đủ khả năng trong nghành nghề xây cất để thực hiện những gì đã chứa đựng trong trái tim, trong đầu óc của  một nhân vật đang “lang thang trong đại lục trần gian”.

Bốn mươi bốn năm sau, nhà giáo dậy về xây cất và bảo vệ môi sinh tại Canada nay đã về hưu và trở về viếng thăm “chốn xưa”. Ngay tại địa danh “The Heads” tại Sudney, ông già tóc bạc đứng nhìn những ngọn sóng to đánh vào vách đá. Ông hồi tưởng lại hồi còn đang học bên Úc và rồi những hình ảnh của nhiều Thuyền Nhân Việt Nam đang bị các sóng biển đe dọa. Câu chuyện xây Tượng Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam bắt đầu thai nghén từ lúc đó.

Trong những đêm khuya thanh vắng hay trong những lúc đi bộ trong những park vắng người tại Mississauga, “ông giáo già” bèn “lên kế hoạch” làm sao có thể xây tượng đài. Bèn ghi lại trong đầu óc những công việc phải làm:

– Xin miếng đất để xây Tượng Đài

– Phải có cái mẫu (model) của Tượng Đài

– Phải có tiền để xây cất

– Phải có nhân lực…

– Phải có… Phải có…

Càng nghĩ, càng thấy nhiều thứ cần phải làm lắm. Quá nhiều thứ, quá nhiều “ẩn số”… Nói theo kiểu toán học: phương trình ít ỏi mà ẩn số lại quá nhiều thì làm sao mà giải được bài toán này nhỉ?

Bài toán hóc búa này đã “mọc rễ” trong đầu ông “giáo già nay đã về hưu” từ năm 2013.

Xin đất, xin ở đâu nhỉ? Thoạt đầu “ông già” mơ mộng xin được một miếng đất tại Niagara Falls. Hão huyền quá,  đây là nơi quá đẹp, quá lý tưởng. Đây là vùng mà cả thế giới biết đến.  Bèn tự nhủ: “Forget it!”

Toronto ư? Những nơi lý tưởng thì chẳng còn nữa! Lại nhủ thầm: “Forget it!”

Mississauga ư? Hay lắm chứ. Thành phố còn mới, chỗ còn nhiều lắm nhưng mà làm sao mà xin đất đây?

Gãi cái đầu nay tóc đã thưa, ông già tặc lưỡi: “Có gì đâu, mình phải viết đơn xin đất và gửi đến Hội Đồng Thành Phố Mississauga. Mình phải cho họ biết trước là Cộng Đồng VN mình xây Tượng Đài Thuyền Nhân Việt Nam để cám ơn đất nước Canada và người dân Canada đã đón nhận hơn 60,000 thuyền nhân Việt Nam trong đầu thập niên 1980. Mình cần phải có một khu đất để xây Tượng Đài!”

“Biết người, biết mình thì mới làm việc được chứ!” Ông già trên 70 tự nói với chính mình!

Bỗng nghe tiếng vọng trong tâm:

– “Hey, you, Old Man” ! Còn nhớ những kinh nghiệm ngày xưa khi ông quen với ông “Commissioner of Public Works của City of Scarborough” không? Nhờ ông này mà ông đã quen biết với hệ thống hành chính của Hội Đồng Thành Phố Scarborough rồi mà!?

Ông già chợt bừng tỉnh và nhớ lại thời buổi ngày xưa.

Ở tuổi 40, ông đã được trường Công Chánh của Centennial College ủy nhiệm cho chức vụ Giáo Sư Đại Diện College gia nhập Ủy Ban Cố Vấn Duyệt Xét Chương Trình Công Chánh của College. Ủy ban này gồm có 12 hội viên do chính phủ Tỉnh Bang bổ nhiệm để duyệt xét chương trình Công Chánh cho mỗi college (Ontario có tất cả 22 colleges và hầu hết các college đều có chương trình Công Chánh, tiếng Anh gọi là Civil Engineering Technology).  Vị giáo sư gốc Việt này đã trở thành một bạn thân của ông “Commissioner of Public Works”. Nhờ vậy mà sau đó College và Hội Đồng Thành Phố Scarborough ( City of Scarborough Corporation)  đã trở thành 2 “partners” trong lãnh vực “Co-op Education”. Có nghĩa là trường Công Chánh của Centennial College đã được phép gửi sinh viên đi thực tập tại City of Scarborough trong các “Co-op term” để lấy kinh nghiệm ngành nghề. Ngoài ra sinh viên còn được trả lương nữa . Nhờ vậy mà Centennial College đã thâu nhận được sinh viên nhiều hơn trong những năm kế tiếp.

Nhờ quen biết với ông “Commissioner of Public works”, chúng tôi đã có dịp làm quen thêm được nhiều nghị viên (Councillors) của City of Scarborough. Tựu chung các nghị viên rất quan tâm đến vấn đề an sinh của dân chúng. Họ sẵn sàng giúp đỡ dân chúng và các cơ quan khác nếu họ biết rõ mình muốn được giúp đỡ trong lĩnh vực nào.

“Giáo Già Về Hưu” vỗ tay đôm đốp: “Biết rồi! Việc đầu tiên mình phải làm quen với bà Thị Trưởng của Mississauga và một vài nghị viên để họ ủng hộ việc mình đi xin đất.

May mắn thay, chúng tôi đã có dịp gặp bà Bonnie Crombie tại Hội Cao Niên Việt Nam, Mississauga một tuần trước ngày bầu cử của Hội Đồng Thành Phố Mississauga vào giữa tháng 10, năm 2014. Bà hứa với chúng tôi rằng bà sẽ giúp Cộng Đồng VN chúng ta tại vùng Đại Đô Thị Toronto trong việc xin đất nếu bà trúng cử.

Bà đã thắng cử. Bà đã giữ lời hứa. Chúng tôi cũng đã được hai nghị viên Chris Fonseca và Ron Starr giúp đỡ rất nhiều. Họ là 3 người bạn “thân và tốt” của CĐVN chúng ta.

Câu chuyện xây cất TĐVN còn dài lắm. Sẽ còn là chủ đề cho những bài viết sau này. Hiện tại TĐTN đang đứng trơ trơ, không hề sợ bà “Cô” RONA quấy phá gì hết.

TÁC GIẢ VIẾNG THĂM TƯỢNG ĐÀI TRONG MÙA DỊCH COVID – 19

Xin kết luận bằng 2 câu “thơ” dưới đây:

“Cô” đi, “Cô” đến vẫn là “Cô”

Thế giới xịt “Cô”, bớt bụi trần.

Đàm Trung Phán

Giáo Sư Công Chánh hồi hưu

Tháng Tư, 2020

MÁI TRƯỜNG VÀ ĐỒNG SỰ

Đàm Trung Phán

 Có những buổi sáng như hôm nay, tôi vào Staff Lounge thật sớm, uống ly cà phê và ăn Bagel hoàn toàn trong tĩnh lặng. Tôi cần có những giây phút thoải mái này trước khi bước vào lớp học hay chấm bài.

 Uống một ngụm cà phê, ngoài sân trường, lá đang đổi mầu. Cả một bức tranh thật đẹp với mầu vàng, mầu đỏ của rừng phong xung quanh trường. Một cơn gió nhẹ thổi, lá khô bay, tụ đầy cả một góc tường. Mặt trời bắt đầu ló dạng, một chuyện ít khi thấy trong mùa thu tại Canada. Tôi lơ đãng nhìn ra ngoài trời. Bỗng đâu, tôi bị lôi cuốn vào giòng dĩ vãng của mái trường này.

    Trước khi nghỉ hè năm nay, Rick Chan (không phải là tên thật) bào tin cho tôi hay là ông sẽ về hưu vào cuối tháng Tám, sau khi chúng tôi tựu trường. Tin Rick về hưu, tôi không lấy gì làm ngạc nhiên cho lắm vì đã hai năm rồi, ông thường kể cho tôi nghe những dự định của ông sau khi về hưu.

Định mệnh cuộc đời đưa đẩy chúng tôi trở thành đôi bạn thân: chúng tôi là hai kẻ duy nhất còn được tại nhiệm sau khi ngành Công Chánh trong College bị chính phủ đóng cửa vì thiếu ngân quỹ.  Chúng tôi được chuyển sang ngành Bảo Vệ Môi Sinh (Environmental Protection Technology Department) để dạy các môn Công Chánh trong ngành này. 

Năm năm về trước, vợ Rick qua đời sau một thời gian chữa bệnh ung thư máu. Những ngày tháng này, ngày nào Rick cũng vào nhà thương thăm vợ. Rick là người rất ít nói truyện đời tư với ai, nhưng với riêng tôi, Rick hay tâm sự về vợ ông, Julie, và những bệnh nhân ung thư mà ông thường gặp trong nhà thương. Một hôm, tôi đang ngồi trong phòng làm việc, đợi lúc người học trò ra khỏi phòng của tôi, Rick chạy vôi vào phòng và nói:

–  Này ông, nếu không thấy tôi vào trường, chắc ông sẽ biết tại sao!

Giọng Rick bị cắt quãng qua tiếng nấc. Tôi chưa kịp nói gì, Rick đã chạy vội ra hành lang.  Hai ngày sau đó, Julie mấi. Tôi không được đi đưa đám ma Julie. Trong số các đồng sự, Rick chỉ mời riêng tôi đến dự cái Memorial Service cho Julie. Về sau, Rick giải thích:

 –  Trước khi mất, Julie dặn tôi là chỉ có mời những người trong gia đình đi dự đám tang mà thôi và Julie chỉ muốn tôi mời mình ông đến dự cái Memorial Service này ngoài các bạn bè thân của Julie, ông thông cảm giùm nghe! Julie thường hay hỏi thăm về ông khi bà ấy ở trong nhà thương!

Julie tính tình cởi mở, hài hòa và đầy lòng nhân hậu nhưng Rick lại hay khó khăn và khép kín. Sau khi Julie mất, tính tình Rick dễ dãi và cởi mở hơn nhiều. Rick cho tôi hay là lúc sinh thời, Julie thường hay giúp nhà thờ, nhà thương trong các công tác thiện nguyện. Rick đã hối hận không giúp nhiều cho Julie trong các công tác này:

–  Giá mà tôi biết trước, tôi đâu có để cho Julie phải làm hết các việc này một mình! Tôi thật là đã quá khó khăn và ích kỷ với Julie!

Tôi ngồi lắng nghe, và biết là Rick đang rất đau buồn rồi đâm ra tự trách mình. Những năm này, khi Julie còn đang trị bệnh Department của chúng tôi chỉ còn có Tony Level, Rick và tôi sau khi trường đã sa thải các giáo sư khác. Sau giờ dạy, Rick thường hay ở lại nói truyện với Tony và tôi cho tới bẩy, tám giờ tối. Tuy kín đáo, nhưng có nhiều lúc, Rick than với tôi:

–  Giá mà Julie còn sống, tôi sẽ về hưu ngay sau khi được phép về hưu non! Chỉ vài tháng sau khi Julie mất, con chó Chow mà tụi tôi đã nuôi hơn mười năm cũng chết theo luôn!  Hai con tôi đã ra trường và đi làm xa. Tôi sợ cái trống vắng của ban đêm lắm!

Tony bắt đầu dậy trước Rick và tôi ba năm, ông dậy các môn Địa Chánh (Surveying). Ông là một con người có nhiều cái đam mê khác nhau. Đam mê chính của ông là ảo thuật và đi lùng kiếm mua bằng được các puzzles hiếm có để trong những lúc không phải soạn bài, chấm bài hay dậy học, ông tò mò tìm ra bài giải cho cái trò “giải trí” đau đầu này!  Khi tôi mới nhậm chức, và lần đầu tiên bước chân vào phòng vẽ của sinh viên (Drafting Room), tôi thấy trên các bàn vẽ (drafting tables ) bầy la liệt các “đồ chơi” lạ lùng. Tôi nghĩ bụng : “Trường Civil Technology, chứ đâu phải là trường Early Childhood Education mà tại sao lại đầy các ‘đồ chơi’ lạ lùng này? ” Vừa nghĩ vậy, một người cười tươi như hoa bước vào phòng vẽ và tự giới thiệu:

–  Còn nhớ tôi không? Tôi là Tony Level đây! Tôi và ông đã gặp nhau rồi mà! 

Nói xong, ông cho tôi biết là trong mấy tháng hè trước đó, ông sắp loại cho các puzzles mà ông đã kiếm mua trong nhiều năm để ông  mang đi trình diễn trong mùa thu sắp đến. Không cần tôi hỏi, ông hăng say tháo bộ phận nọ, lắp bộ phận kia của một cái puzzle, các ngón tay ông di chuyển rất là nhẹ nhàng. Và ông đã xuất hiện nhiều lần trong Chương Trình Truyền Hình “It Stands to Reason” về puzzles và ảo thuật trong cuối thập niên 1970 tại Toronto. Centennial College cũng đã mời ông đi biểu diễn các màn ảo huật mỗi khi chúng tôi đi tới các trường Trung Học tại Scarborough để tuyển mộ học trò vào ngành Công Chánh và Kiến Trúc.

Trong 27 năm cùng dạy, Tony, Rick và tôi mỗi khi có thì giờ rảnh thường hay trao đổi ý kiến với nhau về các môn học trong phân khoa Kỹ Thuật và nhiều đề tài khác nhau. Mỗi lần  chúng tôi ” khám phá ” ra các … “nghệ thuật  cọp dê bài ” của sinh viên , chúng tôi thường phải trao đổi ý kiến với nhau ngay lập tức, sợ để lâu chúng tôi sẽ rơi vào “bẫy ” của học trò và đề tài này nó …  nguội  mất!  Một lần, Tony cười to và nói với tôi:

–  Này ông xem, kỳ này thế nào tôi cũng bắt được “quân gian” cho mà xem!  Học trò nó nhiều mánh khóe lắm! Tôi cho học trò thi môn “Open Book Test”, lời viết trong đề thi không có gì khác nhau hết, nhưng tôi đã đổi các con số! Học trò đâu có biết là tôi có bốn loại bài thi khác nhau vì mỗi loại có một con số khác nhau. Tôi có thể ngủ gật trong lớp, tha hồ cho các anh chị thao túng, nhưng các “quân gian” sẽ biết tay tôi!

Quả thực, đã có nhiều lần “kẻ cắp gặp bà già”  và những lần như vậy, Tony vui vẻ cho Rick và tôi xem các “chiến lợi phẩm” của ông và ông “than”:

– Chúng khinh thường tôi quá! Tôi phải làm cho chúng biết tay tôi!

Nói rồi, ông cười to, miệng mở đến ngang tai! Nhưng ông lại rất nhân từ với học trò, ông coi họ như con ông vậy. Ông chỉ thích “dọa” sinh viên mà thôi.

Trong mùa chấm thi, ban đêm Tony ở luôn tại trường để có nhiều chỗ mở các bản vẽ Địa Chánh (Surveying drawings) chấm cho dễ và chấm bài thi cho kịp thời hạn trước khi các giáo chức phải nộp điểm cho nhà trường. Khi chúng tôi vào trường ban sáng, lúc đó Tony về nhà ăn sáng và …đi ngủ! Có vài lần, ông không ngủ mấy hôm liền, để chấm bài cho kịp!

Rick là người Trung Hoa, sinh tại Trung Mỹ, nói tiếng Tầu không thông. Rick thích biểu diễn nấu ăn cho các đồng sự trong phòng Thí Nghiệm Vật Liệu (Materials Testing Lab.) do tôi trông coi.  Rick thường hay nấu ăn dùm Julie và ông rất lấy làm tự hào đã có … thâm niên trong nghề làm bếp tại gia, nhất là nấu cho vợ con ăn! 

Rick cũng thường hay táy máy với các puzzles của Tony và hai người bạn này có thể nói truyện với nhau  hàng giờ về đề tài puzzles này mặc dù là họ còn có nhiều việc khác phải làm!

Tony, Rick, tôi và một số đồng sự khác thường rủ nhau đi ăn những khi không phải dậy học hay đi họp. Chúng tôi đã “mạo hiểm” đủ các loại đồ ăn Ấn Độ, Nam Dương, Trung Mỹ, Mã Lai, Tầu, Việt, Nhật…chỉ trừ có món …”Nhựa Mận”  của người Việt nhà mình (tạm dịch là Authentic Vietnamese Hot Dog … cho nó “oai” )  là chúng tôi chưa “thử” mà thôi , vì ở đây không có món… tờ cây … cầy tơ)!

Có lần Rick đã nói với tôi:

–  Thú thực với ông là tôi thích đồ ăn Việt Nam hơn đồ ăn Tầu vì vừa ít mỡ lại vừa nhiều rau hơn! Nhờ ông kiếm giùm cái recipe làm chả giò nghe! Tôi muốn “biểu diễn” cho vợ con món ăn chả giò này ở nhà tôi!

Tôi cũng đã mời các đồng sự của tôi đi ăn phở và cả Rick lẫn Tony đều thích món Phở BòTái &Chín và Phở Gà (không có Trứng Non).

Trong những lúc gặp nhau, chúng tôi thường kể cho nhau nghe tin tức các học trò đã ra trường và như thường lệ bàn với  nhau về các tin tức chính trị, khoa học, tôn giáo, tin lá cải …

Đề tài về “Emotional Intelligence” (tạm dịch là Thông Minh Con Tim ) hay được phe đi ăn bàn đến, nhất là để áp dụng vào cho ban Giám Đốc nhà trường cũng như các sinh viên đã ra trường mà chúng tôi đã có dịp cùng dậy trong nhiều năm trước.

Người mà đã làm chuyển hướng nghề nghiệp và cuộc đời của tôi là ông John McKnight, Trưởng Phòng của ngành Công Chánh hồi đó. Chính ông là người đã cho tôi cái Job Interview và tôi không còn nhớ đã nói gì trong lúc ông phỏng vấn tôi, tôi chỉ cảm thấy là sau đó, cách nói truyện và đối sử của ông với tôi tựa hồ như có tình cha con vậy. Sau hơn một tiếng rưỡi riêng mình ông phỏng vấn tôi, ông mời tôi sang phòng bên cạnh để hai giáo sư khác – ông Tony Level và George Sand – phỏng vấn tiếp về các môn học và kinh nghiệm tôi đã thâu nhận được ở Úc.

Trước khi tôi ra về, ông nói với tôi

– Tôi sẽ lo thu xếp để phòng Tuyển Dụng làm thủ tục thâu nhận anh!

 Sau giờ tan sở, ông McKnight thường ở lại nói truyện với tôi về các kinh nghiệm nghề nghiệp của ông tại Canada, Mỹ và Brazil.

Ông rất giỏi về kỹ thuật, thẳng thắn nhưng rất nóng tính. Có vài lần ông nổi nóng với tôi, tôi nín giận, không trả lời. Một lần, đợi sáng hôm sau, tôi đến văn phòng ông trình bầy sự việc là tôi bị ông nổi nóng vô cớ.

–  Tôi  biết là anh còn trẻ, anh hơn con trai tôi có hai tuổi . Tôi chỉ muốn giúp anh mà thôi nhưng tôi lại quá nóng tính thành ra đôi lúc gây ra xích mích, xin anh đừng buồn nghe!

 –  Nhưng tại sao ông không dám đối chất với mấy ông đồng sự khác của tôi? Lỗi của họ, chứ đâu phải là lỗi tại tôi?

 Tôi lên tiếng.

–  Anh hãy còn trẻ và mới vào nghề, chắc anh chưa hiểu! Tôi muốn “mài dũa” anh để về sau này anh sẽ khá hơn nhiều! Tôi có nói với mấy ông kia mà họ không có nghe tôi!

Thú thực là đôi lúc tôi rất bất bình với ông nhưng tôi luôn luôn trọng ông về tuổi tác, kiến thức kỹ thuật và tôi biết ông không phải là một người xấu bụng. Cũng chỉ vì cái tính nóng nẩy này mà không những ông đã mất cơ hội trở thành Khoa Trưởng Phân Khoa Kỹ Thuật ( Dean of Faculty of Technology ), chức mà ông hằng mơ ước trước khi về hưu. Không nhừng như vậy, ông còn mất luôn cả chức Trưởng Phòng Công Chánh nữa.

Bây giờ, ở cái tuổi xế chiều, tôi hiểu được hậu ý của ông. Đã nhiều năm nay tôi đi kiếm ông để nói lời cám ơn nhưng tuyệt nhiên không ai biết ông ở đâu, còn sống hay đã chết!

Khi tôi mới bắt đầu làm việc, ông Khoa Trưởng Phân Khoa Kỹ Thuật đầu tiên, Frank Phillip, vừa mới về hưu nhưng ông còn ở lại làm việc trong trường để làm cố vấn cho phân khoa Kỹ Thuật trong một thời gian ngắn hạn. Tôi chỉ có cơ hội gặp ông một lần trước khi ông hoàn toàn mãn nhiệm với trường. Ông là một kỹ sư Điện, từng làm Vice President cho một công ty Điện Tử lớn tại Toronto trước khi trở thành một nhà mô phạm. Sau khi ông đã trên 85 tuổi, hàng năm ông đã thường trở lại nhà trường vào Đêm Phát Phần Thưởng cho các sinh viên ưu tú trong các phân khoa.

Chính ông đã trao tặng Giải Thưởng Frank Phillip dành riêng cho sinh viên xuất sắc đang học năm Thứ Ba trong ngành Điện hay Điện Tử. Tôi may mắn có cơ hội gặp lại ông trong những lần phát thưởng này và mỗi lần nói truyện với tôi, ông thường gọi tôi là Tanaka, tên một giáo sư gốc Nhật dậy ngành Kiến Trúc. Tôi lại phải tự giới thiệu lại tên mình và ông vui vẻ xin lỗi vì không còn nhớ được tên ai chính xác. 

Một lần, tôi hỏi ông:

 –  Thưa ông Phillip, thế ông có tin tức gì của ông John McKnight  không?

  Ông chậm rãi trả lời:

 –  Này anh à, ở cái tuổi trên 80 của chúng tôi, chúng tôi ít dám gọi điện thoại cho các bạn đồng trang lứa lắm. Nếu họ đã mất rồi, thì tôi biết nói gì với gia đình họ? Mà thực ra tôi cũng muốn biết tin tức của ông McKnight lắm, nhưng tuyệt nhiên ông ấy không hề liên lạc với bất cứ một đồng sự nào hết sau khi ông ấy về hưu. Thật đáng tiếc!

 Tôi còn có dịp gặp lại ông Phillip được hai, ba năm sau đó.  Ông mất năm 1997, hưởng thọ 93 tuổi. Ông Phillip là một người Tây Phương nhưng có một tinh thần Khổng Mạnh của người Đông Phương, khác hẳn với các Khoa Trưởng kế nghiệp ông sau này . 

Đầu tháng Năm, 1975 khi tôi đang nôn nao muốn biết gia đình đã có những ai đến được đảo Guam hay Camp Pendleton không thì vì lý do nghề nghiệp, tôi hay phải lui tới văn phòng ông Viện Trưởng (College President) Doug Beam. Ông thường hay hỏi thăm về gia đình tôi, nhất là cha tôi, lúc đó đã 80 tuổi và đang ở Camp Pendleton, Hoa Kỳ. Ông Beam đã từng làm Giáo Sư Đại Học , dậy  ngành Luyện Kim và làm Phó Viện Trưởng một trường Cao Đẳng Bách Khoa trước khi nhậm chức Viện Trưởng của trường chúng tôi. Tuy là một Kỹ Sư nhưng ông có khiếu ăn nói lưu loát và có duyên của một chính trị gia kiêm minh tinh màn bạc. Khi nghe ông nói truyện, không bao giờ chúng tôi phải ngủ gật vì cái tính hay khôi hài của ông. Trong những năm ông tại chức, College của chúng tôi phát triển rất nhanh và có tất cả hơn 80 ngành học khác nhau. Cũng vào thời gian này mà phân khoa chúng tôi được dọn sang một campus mới trang bị với các dụng cụ khá tối tân. Khi mãn nhiệm, ông trở thành Viện Trưởng của một College khác, chúng tôi ai nấy đều luyến tiếc ông. Mấy năm sau đó, ông bị ung thư phổi khi đang tại nhiệm. Khi ông còn chẩn bệnh trong nhà thương, nhiều nhân viên hai trường College viết thư thăm ông. Tôi báo tin cho ông biết là gia đình các anh chị em tôi đã an cư lạc nghiệp tại Canada và Hoa Kỳ. Chẳng bao lâu sau đó, ông mất. Riêng tôi, tôi rất tiếc thấy mất một người lãnh đạo giáo dục vừa có đức vừa có tài nhưng tôi tự nhủ là tôi đã có cái may mắn gặp những người xuất chúng như ông Doug Beam.

Chúng tôi còn có 15 hội viên của Hội Sổ Số 649, bắt đầu từ thập niên 80. Người chủ chốt của Hội này là ông Frank Isopo. Ông gốc người Ý, tốt nghiệp Tiến Sĩ Vật Lý tại Âu Châu khi tôi còn mới học Trung  Học. Đầu tháng , ông thường đi thâu tiền của chúng tôi để mua vé số.

Một lần tôi nói đùa:

–  Ông vừa thu tiền, đó là tiền mua sữa của con tôi đấy, ông biết chưa, Ông Bố Già (God Father) của tôi ơi!

 –  Thôi im đi , “you” , ” kid “!  “You” nói với con “You” là khi bọn mình trúng số, không những tha hồ chúng nó có sữa uống mà bố nó còn có Caviar để mà ăn nữa!  

    Ông trả đũa và đắc ý cười tít mắt, không quên gãi cái đầu không còn sợi tóc nào. Ông có thói quen hay gọi chúng tôi là “Kid “và hay “dạy” chúng tôi nếu không có thì giờ đi uống cà phê với ông:

–   Whatza matta with you? No cofee?

Sau khi ông về hưu được một năm, ông bị bệnh và mất rất lẹ trong nhà thương. Những lúc các hội viên Hội Sổ Số ngồi ăn trưa cùng nhau, chúng tôi thường hay nhắc đến ông và tôi có cảm tưởng là “Bố Già” Frank Isopo  đang hút thuốc lá và tươi cười nói với chúng tôi:

 –  Thôi im đi! Đưa cho ta tiền đi mua vé số, các “You”, “Kids”!  Whatza matta with you?

Tôi may mắn còn có dịp làm việc và truyện trò với nhiều đồng sự trong các phân khoa khác ngoài phân khoa Kỹ Thuật, nhất là sau 2 kỳ Giáo Chức Đình Công trong thập niên 80. Người đã mang lại cho tôi những kỷ niệm dịu hiền khó quên là Judy Evans, Thư Viện Trưởng của Campus nơi tôi dậy trong thập niên 80.

Judy có sắc diện của một phụ nữ Tây Phương và tính tình dịu dàng, hiền lành và đảm đang của một phụ nữ Việt Nam thuần túy. Tôi thường gặp Judy trong giờ ăn Lunch hay Coffee Break để bàn về ngân quỹ  dành cho các Sách Giáo Khoa cho ngành Công Chánh và Kiến Trúc.  Con trai út của tôi và con gái lớn của Judy sinh cùng năm nên chúng tôi thường có dịp trao đổi với nhau các diễn biến của hai đứa nhỏ. Rất tiếc là vì ngân sách eo hẹp của trường và các áp lực công vụ, Judy quyết định thôi việc và ở nhà nuôi con. Lâu lâu chúng tôi vẫn rủ nhau đi ăn trưa, trong đó có vài người bạn tromg thư viện của Judy.

Các đồng sự của tôi một số đã về hưu, một số đã qua đời khi về hưu hay tại nhiệm, một số đã đổi nghề bất đắc dĩ, số còn lại vẫn còn… kéo cầy như tôi.

Chúng tôi đã chung cư dưới một mái nhà: Mái Trường này.

Chúng tôi đã có một đại gia đình học trò nay đang rải rác trên thế giới. Mỗi ngành học trong các Phân Khoa, chúng tôi đã có sinh viên tốt nghiệp và đang hăng say làm việc. Những sinh viên này sẽ là những người tiếp tục truyền bá các kiến thức nghề nghiệp của từng Chương Trình học.

Đồng sự nhà giáo chúng tôi vẫn thường liên lạc với nhau qua điện thoại, email hay các cuộc gặp nhau ăn trưa, ăn tối. “Just a phone call away”, như người Âu Mỹ thường nói.

Với những người đã khuất bóng, tôi chưa mất họ, vì ở trong tôi, tôi còn giữ được những điều tôi học hỏi được ở họ và tôi còn tiếp tục truyền nối những điều này tới học trò của tôi.

Rồi tôi sẽ được thong thả về hưu và vĩnh viễn ra đi, đi về đâu  tôi chưa biết được. Chỉ biết là tôi đã và đang có một thời làm việc, vui nhiều hơn buồn với các đồng sự và học trò thuộc đủ loại mầu da và văn hóa khác nhau, dưới mái trường này. Và tôi biết chắc là các kiến thức nghề nghiệp sẽ còn được nối tiếp từ đời này, qua đời kia . 

Xin cám ơn đời, xin cám ơn Thượng Đế!

 Đàm Trung Phán

Mississauga, Canada

November 1999 / March 2020

GIÁNG SINH VÀ RÁNG CHỊU

Đàm Trung Phán

2006/2020

Ðã mười mấy năm qua, tôi lẩn trốn cái vụ đi mua đồ trong ngày “Boxing Day sale” tại Canada mà chắc chỉ dân “Cà Ná Ðiên” chúng tôi mới biết mà thôi.

Ðêm 24 tháng 12 các gia đình Canadian thường tổ chức bữa ăn cho mọi người trong gia đình gồm có ông, bà, cha, mẹ, con và cháu rồi tặng quà Giáng Sinh cho nhau; ngày này được gọi là Christmas Eve. Cuộc vui kéo dài cho tới đêm khuya và nhiều nhà đốt củi trong lò sưởi rồi nướng hạt dẻ, khoai lang hay kẹo marshmellow. Ba cha con chúng tôi đã từng thay phiên nhau mang củi vào nhà, nướng hạt dẻ, khoai lang và marshmellow rất là đầm ấm.

Ngày Giáng Sinh (Christmas day) là ngày thăm viếng, ăn uống với bạn bè, họ hàng và cũng là ngày “thu dọn chiến trường” các giấy gói quà, các hộp giấy đựng quà để mang ra trước nhà mà vứt rác, do đó mà có chữ “Boxing day”.

Sáng sớm ngày 26 tháng 12 (gọi là Boxing day), dân Canadian đi mua đồ đại hạ giá từ lúc 7, 8 giờ sáng, còn sớm hơn là ngày đi làm trong năm nữa vì họ có thể mua được những món hàng “on sale” rẻ được từ 30% đến 70% so với những ngày thường. Các nơi đậu xe (parking lots) trong những “shopping centres” không còn chỗ nào trống cho những ai đến trễ, xe cộ đi chậm như con ốc sên!

Tôi đã lẩn tránh cái vụ “Boxing day shopping” này, phần vì “người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ”, phần vì tôi rất ngán cái vụ kẹt xe nhất là vào những hôm trời đổ tuyết. Tuy nhiên, năm nay tôi “phá giới” vì muốn “đập cổ kính ra tìm lấy bóng” bằng cách lái xe đi shopping một mình. Trong thâm tâm, tôi muốn tự chính mình “sờ mó” được những những cảm giác mà đã làm tôi đau nhức nội tâm trong 12 cái “con giáp cuộc đời của tôi” vừa qua .

Đậu xe cách “shopping centre” nửa cây số, vừa để tôi tránh cái giao thông nhiêu khê trong bãi đậu xe, vừa để đi bộ và suy nghĩ vẩn vơ.

Năm ngoái, chúng tôi đón Giáng Sinh 2005 tại Hà Nội sau chuyến đi thăm Nam Ðịnh. Xe cộ chật ních trên các đường phố xung quanh Hồ Hoàn Kiếm. “Phái đoàn” chúng tôi trên xe bus gồm có 16 người. Ðiều đặc biệt nhất – có một không hai – là bác tài xế nhà ta dám lái giật lùi cái xe bus cỡ lớn trên con đường một chiều để tránh nạn kẹt xe!

Tôi có cảm giác rất là lạ lùng, vui buồn xáo trộn vì đây là lần đầu tiên tôi trở về Hà Nội sau 51 năm xa cách. Xe cộ ở Hà Nội đi bấm còi inh ỏi, chẳng biết còi nào bấm cho xe nào và đèn đỏ thì coi như đèn xanh, luật lệ chẳng giống ai!

Ðây cũng là năm thứ 7, sau khi đời tôi đã “rẽ bước sang ngang” và “tân chính phủ tại gia” với tôi sống “thuận buồm xuôi gió” với nhau. Trên xe bus lại toàn là những người thân nên tôi thầm nghĩ: “Thuyền mình đang tới bến!” (“Am I coming home at last ?”)

Giáng Sinh 2005, “phái đoàn” chúng tôi bay từ Hà Nội vào Huế. Huế đón chào chúng tôi bằng một … cơn mưa xứ Huế nhưng cơn mưa này chẳng làm tôi buồn vì “người vui, cảnh có buồn đâu bao giờ”!

Boxing Day 2005, chúng tôi mặc áo mưa để đi thăm các lăng tẩm tại Huế; tôi cảm thấy rất gần gũi, thân thương dường như tôi đã được trở về từ một cõi xa xăm nào đó. Ðây là lần đầu tiên tôi đưọc viếng thăm Huế.

Ở tuổi 12, tôi phải rời Hà Nội để di cư cùng gia đình vào Nam. Tại Saigon, vì còn nhỏ nên tôi chỉ biết có học và chẳng được đi thăm viếng nơi nào.

Mười chín tuổi, xuất ngoại và đi biền biệt luôn. Thế cho nên tôi có nỗi nhớ quê hương, nhớ văn hóa Việt Nam, nhớ da diết!

Mỗi nơi thăm viếng là tôi chụp hình lia lịa để ghi lại những hình ảnh quê hương. Tôi đã chụp trên dưới 13,000 tấm hình từ Bắc vào Nam và trong những đêm khuya tại Canada, tôi thường mở các hình ảnh Việt Nam chứa đựng trong computer để gợi nhớ lại những nơi mà chúng tôi đã ghé thăm trong chuyến viễn du đó.

Trong bốn năm vừa qua, vợ chồng chúng tôi đã “bỏ xứ Ðiên để tránh nàng Tuyết” mà đi chơi xa trong dịp Giáng Sinh và Năm Mới. Năm nay, chúng tôi không đi đâu hết để mà “vui thú cạo Tuyết, trượt chân”, những mong được ở gần cháu nội và cháu ngoại. Cứ nghĩ đến các cháu là “ông” thấy vui rồi, thây kệ trời tuyết và cái giá lạnh của Canada!

Giáng Sinh 12 năm về trước, đời tôi  đã đi qua cơn bão nội tâm, cơn bão hoành hành công ăn việc làm lẫn đời sống gia đình của tôi. Tôi quyết định đón Giáng Sinh 1994 trong một cái apartment mới luých hoàn toàn chỉ có một mình tôi để xem tôi có những cảm giác gì. Mặc dù là đã “có chương trình đặc biệt về computer” để cho tôi mải miết theo dõi nhưng tôi không tại nào tránh được cái cảm giác đơn độc đến hãi hùng vì đây là năm đầu tiên tôi phải sống ly thân một mình và là lần đầu tiên không “được” ở gần hai con trai trong ngày quan trọng nhất trong năm. Ngày hôm sau (Christmas Day 1994), tôi bay ngay sang Texas để gặp lại các anh chị em cho đỡ buồn.

Trong năm 1994, vì ngân sách cắt giảm, nhà trường bắt đầu sửa soạn đóng cửa bộ môn Công Chánh mà chính tôi đã gây dựng nó trong nhiều năm trước đó. Mặc dù là tôi đã may mắn không bị mất việc như một số đồng sự khác, nhưng tôi lại cảm thấy như mình đã mất đi một phần đời: đứa con tinh thần của tôi đã chết (My “baby project” has died unwillingly)!

Trong thời kỳ này, đời sống gia đình của tôi cũng chẳng còn có thể hàn gắn gì được nữa. Tôi đã cố gắng hết sức rồi!

“Thôi thì thôi nhé … có ngần ấy thôi”! Gone with the wind! Let it be!

Giờ đây nhìn lại, Út của tôi đã ra trường và trở thành một ký giả đang làm việc tại New York. Tôi mỉm cười vu vơ; Út đã thực sự trưởng thành, không hề bị vấp ngã vì sự đổ vỡ của bố mẹ. Cái “baby project” của tôi đã được “mồ yên mả đẹp” kể từ năm 1996. Sau đó tôi đã có “cơ ngơi” mới ở trong trường, không đến nỗi “tệ” như mình tưởng và tôi đã được về hưu non theo ý mình muốn  vào năm 2002. Công ăn việc làm và đời sống gia đình đã được quân bình trở lạị, các con của chúng tôi đã có công ăn việc làm và lập gia đình, thế là tôi đã được “tái sinh” rồi!

Thôi thì ráng chịu mà sống nốt với cuộc đời còn lại để mà chúng tôi có được những Giáng Sinh vui vẻ, bình an với gia đình mới gồm có ông bà và các con, các cháu.

Hy vọng rằng Giáng Sinh 40, 50 năm về sau này của tôi sẽ không có giống như cái “con ngựa bất kham” nữa vì cái Nghiệp Trần Gian của tôi đã được trả xong (My “Earth planet” assignment is terminated as planned!) và tôi có thể sẽ vĩnh viễn “về hưu” với Cõi Trần giống như tôi đang sống đời hưu trí với cái nghề và nghiệp bây giờ của tôi vậy!

Thực sự tôi đang sống hay đang mơ ngủ đây?

Ðàm Trung Phán

Dec.26, 2006 / March 2020

Canada

THÁNG CHÍN VÀ CHA TÔI

PAPA -2001 Fall 2

Ðể tưởng nhớ thân phụ của anh chị em chúng tôi

Ðàm Trung Pháp
Ðàm Trung Phán

2004/2013/2020

Lời nói đầu:

Bài viết này ra mắt Quý Vị độc giả vào năm 2004, sửa lại vào năm 2013 và lần này sửa lại (re-edited) vào năm 2020 với phần

GIẢO-ÐÍNH VÀ TƯỜNG-GIẢI truyện Kiều được GS Đàm Trung Pháp (con trai thứ của cụ Đàm Duy Tạo) đưa lên Viethocjournal.com:

http://viethocjournal.com/category/kim-van-kieu-dinh-giai/kim-van-kieu-dinh-giai-kim-van-kieu-dinh-giai/

Kính mời Quý độc giả bấm nút vào nghe Hồng Vân diễn ngâm bài thơ “Cha Con” của Đàm Trung Phán trong link dưới đây:

Xin mời đọc:

Sáng nay, khi thức dậy, tôi chợt cảm thấy lành lạnh. Cái lạnh từ ngọn gió thổi qua cửa sổ vào nhà. Dụi mắt, nhìn cái hàn thử biểu thấy 12 độ C, tôi thầm nghĩ:

– Nàng Thu thực sự đến rồi!

Tôi định bụng sẽ ra khỏi nhà ngay để đi bộ ra cái park gần nhà với ý định vừa tập thể dục và vừa để chụp hình lá vàng rồi “ngồi trên ghế gỗ công viên” mà viết bài.

Tôi muốn tránh những cú phôn, tôi cũng muốn tạm lánh cái computer để mà được thực sự đối diện với con người tôi và lật trang nhật ký cuộc đời để tìm kiếm lại những hình ảnh về cha tôi và những cảm xúc đã từng làm tôi vui buồn lẫn lộn trong nhiều năm qua.

Nhiều người xung quanh thường có bà mẹ già sống ở một nơi chốn xa xôi nào đó để mà thương, mà nhớ. Riêng anh chị em chúng tôi không có cái “may mắn” đó vì chúng tôi đã phải mất mẹ từ lâu lắm rồi, khi chúng tôi còn nhỏ dại. Mất mẹ, ba anh em trai nhỏ tuổi nhất trong gia đình chúng tôi sống với bố. Chúng tôi được cụ dậy dỗ trong tinh thần Khổng giáo. Nhưng cảnh “gà trống nuôi con” cũng có những cái thiếu sót của nó: ba anh em chúng tôi và ngay cả thân phụ chúng tôi có nhiều lúc thấy trống vắng nội tâm. Ðiều này, khi chúng tôi còn nhỏ, cụ không hề nói ra, chỉ khi tất cả các anh chị em tôi đã có gia đình, lâu lâu cụ mới “tiết lộ” cho chúng tôi hay:

– Ta sống đủ rồi, tất cả các anh chị em tụi bay đã khôn lớn và có gia đình. Ta sống cũng bằng thừa, xin ông Trời cho ta được đi sớm, thế là vui rồi!

Ðã nhiều lần, tôi đã định viết một bài về thân phụ chúng tôi, nhưng cứ mỗi lần đặt bút xuống, tự nhiên tôi thấy rất khó viết vì chúng tôi đã được cụ dậy bảo là sống phải nghiêm túc, cứng cỏi và không để lộ phần tình cảm. Tôi bàn với anh Ðàm Trung Pháp, anh ruột của tôi, là tôi “có nên viết về Cụ” hay không, anh ấy góp ý liền:

– Thì Phán cứ viết đi, anh sẽ viết thêm những phần nào Phán viết còn thiếu. Hai đứa tụi mình viết dùm cho tất cả các anh chị em mình để tưởng nhớ về cụ, OK?

Hôm nay, tôi “phá lệ” và viết đại vì biết đâu đấy, ngày mai, vì một lý lẽ gì đó, mình không còn có thể viết ra được nữa thì sao?

Và nếu mai này, tôi không còn khả năng viết lách và nhớ lại những gì mà tôi muốn viết, tôi sẽ hối hận là chưa viết ra những gì mà các anh chị em chúng tôi vẫn hằng tưởng nhớ và hay nhắc nhau về cụ.

Bạn bè cùng trang lứa với tôi, cả nam lẫn nữ, thường hay nói với nhau:

– Bọn mình thuộc vào “thế hệ sandwich”!

Có nghĩa là thế hệ của chúng tôi bị kẹp giữa hai thế hệ cha mẹ và thế hệ con cái.

 Thế hệ chúng tôi đã bị đảo lộn giữa hai nền văn hóa Ðông và Tây. Hai thế hệ (ông bà và các cháu) thật là khác biệt và đôi lúc cũng rất khác biệt với thế hệ của chúng tôi nữa, ấy vậy mà thế hệ chúng tôi phải đóng vai của “thế hệ sen kẽ” (sandwich generation) để móc nối thế hệ ông bà và thế hệ con cháu với nhau.

Những lúc tĩnh lặng, một mình trong đêm khuya hay khi đi bộ dọc theo bờ hồ, ngoài park, nghĩ về thế hệ cha mẹ của chúng tôi, tôi chỉ thấy thương cảm mà thôi.

Cha tôi “sinh bất phùng thời” và mẹ tôi đã luôn luôn phải đầu tắt mặt tối và lo âu. Hoàn cảnh gia đình của ông nội tôi đã không thể giúp cha tôi được đi học như ý muốn. Theo Nho học thì đã lỗi thời, theo Tây học và chữ quốc ngữ thì đã “hơi già”. Cụ phải tự học để trở thành một ông giáo trường làng tại Phúc Yên, Bắc Việt. Tuy chỉ tự học trong vài năm thôi, tiếng Pháp của cụ vững lắm, nhất là về văn viết. Cụ dậy học rất nghiêm trang và kỹ lưỡng, học trò ai cũng kính phục. Quê nội tôi tại Bắc Ninh cho nên cha tôi phải đạp xe đạp đi đi về về, mỗi tuần ít nhất một lần, giữa Bắc Ninh và Phúc Yên, có khi phải đi ban đêm nữa. Mẹ tôi ở nhà tại Bắc Ninh để thuê người làm ruộng và chăm nom đàn con còn nhỏ dại.

Cha tôi có rất nhiều sách chữ Nho, chữ Nôm, chữ Tây, chữ Quốc Ngữ. Thuở còn bé tí teo, thú vui của tôi là lấy sách chữ Nho của bố ra làm đồ chơi vì tôi thích lấy ra và bỏ vào những tờ lá khô được ép giữa các trang sách. Cha tôi chỉ vui vẻ nhìn tôi và không hề la mắng tôi. Tôi cũng rất thích dở các sách chữ Tây ra để mà xem hình, chữ nghĩa lúc đó thì chưa biết một tí gì! Nạn lụt năm Ất Dậu 1945 đã làm hư hại nhiều sách của cụ và cụ đã phải tốn nhiều thì giờ để “chữa bệnh” cho từng cuốn sách.

Cha tôi lập gia đình sớm, và vài năm sau khi có con trai đầu lòng thì cha tôi góa vợ. Cha tôi “đi thêm bước nữa” khi lấy mẹ chúng tôi, và hai cụ có thêm bốn trai và một gái. Anh cả của chúng tôi được gửi lên Hà Nội để học trường Bưởi và được hai cụ cưới vợ cho theo phong tục Việt Nam. Chị gái duy nhất của chúng tôi, cũng “được” theo phong tục Việt Nam hồi bấy giờ: chị không được cha mẹ cho đi học lên cao và bắt buộc phải ở nhà để trông nom các em trai và công việc đồng áng. Tới tuổi khôn lớn, các em trai của chị rất thương cảm vì chị sinh vào thời buổi và xã hội với quan niệm “cho con gái đi học để chúng viết thư cho trai và về làm dâu người ta, phí của”!

Khi anh em trai chúng tôi còn trẻ, nhiều lần, chị tức khí và la chúng tôi:

– Chỉ vì tụi mày mà tao phải ở nhà và không được đi học!

Tôi “hứng chí” trả lời chị:

– Ði học để chị viết thư cho trai ấy à!?

Nói xong, tôi chạy cho lẹ, nhưng nếu lỡ mà chị tóm được thì cũng chỉ ăn vài cái củng đầu mà thôi! Bây giờ, chúng tôi đã ở tuổi có con, có cháu, mỗi khi nhắc đên truyện xưa, tích cũ, chúng tôi, nhất là chị chỉ bò lăn ra mà cười với nhau cho … huề cả làng.

Sau khi em trai út của chúng tôi sinh ra được ít lâu, chiến tranh giữa Việt Minh và Pháp lan tràn đến làng quê của gia đình chúng tôi tại Bắc Ninh, và cha tôi phải mang anh chị em chúng tôi chạy loạn trên Thái Nguyên. Mẹ tôi và em út phải ở lại nhà vì sức khỏe không cho phép. Chạy loạn thì phải chạy ban đêm vì ban ngày, máy bay của Tây trông thấy sẽ bắn chết. Tôi rất buồn ngủ và đói bụng và nhiều lúc ngỗ nghịch tôi đã chu chéo lên:

– Con không thèm đi chạy loạn nữa đâu, Bố ơi!

Tội nghiệp, thế là cha tôi phải cõng tôi mà đi, nếu không cả gia đình chạy loạn sẽ bị nguỵ đến tính mạng. Bây giờ, mỗi khi nhớ lại chuyên xưa, tôi thấy thương cha mẹ vô cùng.

 Những hình ảnh và tình cảm này vẫn còn được “stored” trong cái “memory card” của đầu óc tôi:

Tôi vẫn trôi theo giòng định mệnh,
Hàng triệu người, sao chỉ thấy mình tôi?
Tôi sinh ra giữa lúc bom đạn ngang trời,
Người nằm xuống vì bom rơi, vì nạn đói!
Những đêm tối, theo cha tôi đi chạy loạn
Mẹ ở lại nhà vì vướng bận em thơ.
Buổi tối đói, tôi mong mỏi đợi chờ
Hình bóng Mẹ và im lìm tiếng súng.

Sau lúc tản cư này, chính tay cụ đã viết chữ bằng bút chì và hai anh em chúng tôi (Pháp, Phán) phải “đồ” (tô) lại bằng bút mực cho đúng nét chữ. Chúng tôi phải viết đâu ra đó, nếu không sẽ bị “thước kẻ đánh vào tay!” Ngoài môn toán đố, cụ còn dậy kèm chúng tôi môn Pháp văn, cụ bắt đọc to và thật rõ từng chữ một. Những năm về sau, khi toàn gia đình chúng tôi đã được đoàn tụ tại Hà Nội, cụ thường đọc “dictée” cho hai anh em chúng tôi viết.

Gia đình chúng tôi được thực sự sống quây quần hạnh phúc tại Hà Nội từ 1952 đến 1954. Di cư vào trong Nam, cha mẹ tôi hầu như tay trắng vì tất cả nhà cửa, ruộng vườn đã để lại ngoài Bắc hết. Năm 1955, thân mẫu của chúng tôi đột ngột qua đời tại Saigon khi mới 50 tuổi. Anh cả của chúng tôi đã có gia đình và ra ở riêng từ lâu. Chị lớn của chúng tôi phải đi làm tại lục tỉnh để kiếm tiền phụ giúp cho cụ. Anh thứ của chúng tôi được học bổng học Nông-Lâm-Mục tại Bảo Lộc. Cha tôi bắt buộc phải trở thành “gà trống nuôi con” chăm nom cho ba anh em trai út chúng tôi tại Saigon.

Sau khi thân phụ chúng tôi không còn dậy tại trường Tiểu học Phú Nhuận nữa, cụ được mời dậy Hán văn tại trường Trung học Gia Long vào năm 1957 cũng như dịch sách chữ Hán sang chữ Quốc Ngữ cho Sở Tu Thư thuộc Bộ Giáo Dục trong những năm kế tiếp.

Cụ luôn luôn mặc quần áo ta rất chỉnh tề mỗi khi đi dậy học hay khi ra phố. Mỗi buổi tối, sau khi ăn cơm xong, cụ huấn luyện cho ba anh em trai chúng tôi ngồi xuống bàn mà học và Cụ thường kèm thêm Pháp văn và Việt văn cho chúng tôi. Cụ còn thuê thợ đóng một cái bảng đen thật dài để cho chúng tôi giải những bài toán và vẽ hình.

Trong thâm tâm, cụ luôn luôn mong ước cho các con cháu của cụ biết trọng sự học, phải học hành cho đến nơi đến chốn, và nhất là phải biết trọng luân thường, đạo lý.

Mấy năm trước đây, một chị bạn của chúng tôi ngày xưa học trường Gia Long đã cho tôi xem một bức hình chụp chung của các giáo sư dậy trong trường Gia Long hồi cuối thập niên 50. Trong hình, tôi nhận ra ngay một giáo sư khăn đóng, áo dài: vị này chính là cố giáo sư Ðàm Duy Tạo, thân phụ của chúng tôi! Tôi thấy bàng hoàng và sững sờ: cả một thời “hoa bướm ngày xưa” hiện ra trước mắt!

Hồi đó một số nữ sinh Gia Long đã hay đến thăm ông thầy dậy môn Hán văn tại căn nhà chúng tôi. Cỡ tuổi của họ so với anh Pháp và tôi cũng chỉ “xêm xêm” với nhau mà thôi! Tự nhiên tôi thấy tôi trở về với căn nhà của gia đình chúng tôi tại đường Yên Ðổ với cái bảng đen rất dài trong phòng ngoài và thân phụ chúng tôi đang ngồi đọc “chữ Tây” hay chữ Nho. Thế rồi anh Pháp và tôi đi du học, căn nhà nay chỉ còn có cha tôi sống lủi thủi với chú em út mới vừa lên trung học. Những hình ảnh này không làm sao tôi quên được, để rồi sau khi tôi đã 50 tuổi, trong lúc ngồi chấm bài trước bàn thờ của cha mẹ chúng tôi, tôi đã ghi lại những giòng thơ dưới đây:

Con còn nhớ …
Năm con mười ba tuổi
Một đêm Trung Thu
Bất thần Mẹ ra đi vĩnh cửu
Bố gánh chịu thân gà trống nuôi con!
Mười chín tuổi, con ra đi
Máy bay cất cánh
Bố ở lại…
Bạn đời với văn chương chữ nghĩa,
Bần thần thương nhớ con trai.
Vì tương lai, sự nghiệp
Hay vì con vướng mộng giang hồ?

Cụ không hề tục huyền. Sau khi anh Pháp và tôi đã xuất ngoại, Cụ chỉ ước nguyện còn được sống thêm vài năm để trông nom cho chú em út của chúng tôi tốt nghiệp đại học, thế là cụ mãn nguyện lắm rồi!


Cụ viết thư đều đặn cho tôi và có một lần, cụ đã viết cho tôi:

“Nếu Bố giầu có, Bố đâu muốn để hai đứa phải đi du học xa nhà vì Bố nhớ hai đứa lắm!” Ðêm hôm đó, tôi lang thang ra bờ biển ngắm về phương trời quê hương xa vời vợi nơi nào để nhớ về cha tôi.

Năm 1965, tôi được chính phủ Úc cho vé máy bay về thăm gia đình nhưng chính thân phụ tôi đã gửi điện tín sang khuyên tôi không nên về vì cụ sợ tôi sẽ bị kẹt lại Việt Nam vì những “coups d’etat” bất tử. Sau biến cố Mậu Thân 1968, cụ cũng đã khuyên tôi nên ở lại ngoại quốc mặc dù cụ cũng rất muốn gặp lại tôi.

Rồi tôi đi biền biệt sang lập nghiệp tại Canada và không còn hy vọng gì để gặp lại cha già và các anh chị em của tôi nữa. Tới tuổi “tri thiên mệnh” tôi mới thấu hiểu được những cái nhọc nhằn, đơn độc của kiếp “gà trống nuôi con” và những hy sinh gan dạ của cụ chỉ vì cụ thực sự mong mỏi cho tôi được sống an bình tại ngoại quốc trong khi đó hàng ngày cụ vẫn mong thư của tôi gửi về:

Cuộc đời ra sao?
Con đi vào một thế giới khác

Không người thân bên cạnh.
Bố ở nhà canh cánh mong con,
Đời thiếu vuông tròn!

Trong niềm đau thương của đất nước, tôi gặp lại được cha già, anh em trong lúc mất nước nhà tan vào hồi tháng Sáu, 1975. Lúc này, cụ đã gần 80 tuổi. Hồi nhỏ, tôi không hề thấy cha tôi khóc, nhưng lần này, cụ đã thật sự khóc, khóc thương đất nước rơi vào tay cộng sản, khóc thương cho các con cháu của cụ còn kẹt lại bên Việt Nam .

Sau khi các anh chị em chúng tôi đã được sống ổn định tại Hoa Kỳ và Canada, cụ đã mừng rỡ thấy anh Pháp và tôi trở thành hai nhà giáo theo truyền thống của gia đình họ nội. Cụ thường hỏi thăm tôi về công việc nhà trường của tôi. Cụ chẳng đòi hỏi gì, có chăng chỉ là:

– Nếu có thể được, nhớ mua cho Bố mấy cuốn sách chữ Hán và nhất là cuốn tự vị chữ Hán và tiếng Pháp, nghe con!

Tôi lên phố Tầu mua biếu cụ một bộ tự điển chữ Hán sau khi cụ đã viết tên bằng chữ Hán cho tôi. Có lần tôi phải đợi họ đặt mua từ bên Hồng Kông dùm cho cụ. Một lần tôi thấy một cuốn báo chữ Tầu có nhiều hình ảnh đẹp, tôi hí hửng mua về tặng cụ với niềm vui thú như ngày xưa tôi đã “mong mẹ về chợ” để có quà vậy! Ngày hôm sau, cụ tặc lưỡi và nói với tôi:

– Người Tầu bây giờ họ “lãng mạn“thật! Ai lại trai gái mới quen nhau mà chưa chi đã nhẩy lên giường liền! Thật chẳng còn có cái lễ nghĩa gì cả!

Tôi phải quay mặt ra chỗ khác mà phì cười. Chẳng qua chỉ là vì tại tôi không biết chữ Hán mà vớ đại ngay phải một cuốn báo “porno” của dân Hồng Kông!

Khi cụ đã gần cửu tuần, sức khỏe sa sút, anh Pháp tôi từ Texas lên thăm cụ tại Montreal, Canada. Anh tôi có xin cụ một đôi câu đối để treo trong phòng làm việc. Cụ vui vẻ tự mài mực Tầu, cắt hai miếng giấy đỏ dài, miệng lẩm bẩm những lời sắp viết. Tay trái cầm kính “lúp” và tay phải cụ xoay xoay ngọn bút lông ưng ý nhất. Cụ viết chậm lắm và nét bút đã run nhiều. Cụ viết cho anh tôi đôi câu đối lấy từ một bài thơ của Trình Hiệu đời nhà Tống:

Vạn vật tĩnh quan giai tự đắc
Tứ thời giai hứng dữ nhân đồng

Ý nghĩa rất hiền hòa, nhân ái: hãy bình thản quan sát để mà thấy mọi vật đều tự đâu vào đó, và trong khắp bốn mùa hãy tìm hứng thú mà giao hảo với tha nhân. Ðó cũng chính là lối sống trong suốt cuộc đời của cụ, một nhà nho can đảm, bình thản đã chấp nhận cuộc đời mà mệnh Trời đã định.

Giờ đây, tuy thân xác của cụ không còn nữa nhưng cụ vẫn còn sống ngay trên các ngón tay của chúng tôi: những giòng chữ viết của tất cả các anh chị em chúng tôi đều từa tựa giống như chữ cụ đã viết vì chính cụ đã đích thân viết bằng bút chì để cho chúng tôi đồ lại khi anh chị em chúng tôi mới tập viết chữ!

Cụ đã không để lại cho chúng tôi tiền bạc nhưng cái di sản quý báu nhất của Cụ để lại cho anh chị em chúng tôi và cháu, chắt của cụ, đó là chúng tôi sống thuận hòa với nhau, trọng sự hiếu nghĩa, trọng sự học hành cho đến nơi đến chốn và cố gắng làm sao sống cho hợp với đạo làm người.

Lâu lâu, tôi vẫn thường gặp cụ trong những giấc mơ. Cụ trông tuy rất già nhưng vẫn còn khỏe mạnh. Khi tôi gặp khó khăn trong những giấc mơ, cụ luôn luôn tự nhiên xuất hiện bên cạnh tôi như để chia sẻ và giúp đỡ cho tôi qua khỏi những giây phút căng thẳng trong đời sống. Cụ sống trong tâm tưởng của tôi và tôi thấy rất nhẹ nhàng và thương yêu mỗi lần tôi nghĩ tới cụ.

Mùa Thu năm 2013, để tưởng nhớ đến Cụ, anh chị em chúng tôi xin kính mời Quý Vị vào đọc:

TRUYỆN KIM-VÂN-KIỀU
ÐÀM DUY TẠO
GIẢO-ÐÍNH VÀ TƯỜNG-GIẢI


trong blog dưới đây:

http://kimvankieu.wordpress.com/

MỘT TRONG NHỮNG BÀI THƠ “FABLES DE LA FONTAINED” mà Cụ đã chuyển ngữ sang tiếng Việt khi Cụ đang định cư tại Toronto và Montreal, Canada:

https://damtrungphan.wordpress.com/2013/03/12/tho-ngu-ngon-la-fontaine-va-than-phu-chung-toi/

Đại gia đình hội ngộ tại Dallas với, các con, cháu, chắt và bạn hữu vào cuối tháng 8, 2013 để tưởng nhớ đến Cụ Đàm Duy Tạo và xum họp với nhau trong đời hưu trí của anh-chị-em chúng tôi.

Ðàm Trung Phán

Đàm Trung Pháp

Tháng Chín 2004 / 2013/ Feb. 2020
Mississauga, Canada

Việt Nam

Việt Nam

Kiếm tiền online

Kiếm tiền tại nhà hàng ngày . các cách kiếm tiền free online

Shop Mỹ Phẩm - Nước Hoa

Số 7, Lê Văn Thịnh,Bình Trưng Đông,Quận 2,HCM,Việt Nam.

Công phu Trà Đạo

Trà Đạo là một nghệ thuật đòi hỏi ít nhiều công phu

tranlucsaigon

Trăm năm trong cõi người ta...

Nhạc Nhẽo

Âm thanh.... trong ... Tịch mịch !!!

~~~~ Thơ Thẩn ~~~~

.....Chỗ Vơ Vẩn

Nguyễn Đàm Duy Trung's Blog

Trang Thơ Nguyễn Đàm Duy Trung

%d bloggers like this: