Đàm Trung Phán

Những bài viết …..

VƯỜN HOA ANH ĐÀO NHẬT BẢN (SACURA PLANT ) TẠI ĐÀI TƯỢNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN, 3650 DIXIE ROAD, MISSISSAUGA.




Kính mời Quý vị vào xem hình ảnh và video clips của  “Vườn Hoa Sakura Tượng Đài Thuyền Nhân” (3650 Dixie Road, Mississauga, góc đường Burnhamthorpe và Dixie, Mississauga ) trong link dưới đây:

https://photos.app.goo.gl/F515wkgYcAF18FvG7

2020-05-14 – VBPMMA SAKURA TREE PLANTING

9 cây hoa anh đào mầu hồng-đỏ Nhật bản cao 9 feet có rất nhiều nụ hoa sẽ nở hoa vào trước cuối tháng 5, 2020.

Xin nhớ ghé thăm TĐTN và hoa anh đào!

Kính chúc Quý Vị vui vẻ, khóe mạnh và bình an.

Đàm Trung Phán

GSKS hồi hưu

LỜI CẢNH BÁO VỀ NGUY CƠ ĐẠI HÁN của tư tưởng gia LÝ ĐÔNG A từ 80 năm trước.

Hạ Long Bụt sĩ 

Lý Đông A, một tư tưởng gia thâm viễn của Việt tộc, từ những năm 1940, trong tập Chu Tri Lục ( bàn về sự biết chu toàn) tập 3, đã phân tích và trưng ra những nguy cơ của kế hoạch Đại Hán của Tầu, dù là Tầu Quốc hay Tầu Cộng.

Lý Đông A đã nhìn rõ, từ 1943, sau đệ nhị Thế chiến, thế giới 1950-2000 sẽ chuyển mình sang chế độ mới, với các liên minh quốc tế. Tại thời điểm 1940, Căn bản lập trường dân tộc qua Cương Lĩnh 2, đối Tầu, gồm vài điểm quan trọng sau :

  1. Quy luật lịch sử Tầu là : Lấy Tài Hoá Thu Nhân Tâm ( thoát nghĩa Hữu đức giả hữu thổ ), Hưng Hoa diệt Di, thiên hạ đại đồng theo lối Hán mà vũ khí và thủ đoạn chủ yếu là chủng tộc xâm lược.
  2. Tam Dân chủ nghĩa của Tôn Văn cũng là một chủ nghĩa đế quốc : Tôn Văn từng nói với cụ Phan Bội Châu : “ Các ông bất tất phải làm, chỉ là một tỉnh của Tầuchúng tôi làm xong thì xong”, và sau này Tưởng Giới Thạch cũng nói : “ Việt Nam là Tầu, Việt Nam để người Tầu làm giúp cho”.
  3. Năm 1911, Tôn Văn đề xướng Ngũ Tộc Cộng Hoà, gồm 90% là nhân khẩu Tầu, 10% là Mãn, Mông, Tạng, Miêu ( là Việt núi). Năm 1916 Tôn Văn luận Quốc Tộc tức đúc các dân tộc vào một lò mà thống nhất thế giới, chia toàn quốc ra Tỉnh,Quận,Huyện, khoảng 1921-22, Tôn Văn nói : Ta phải đem các dân tộc Thái, Việt…liên hợp lại cùng chống đế quốc.
  4. Năm 1940, Chính Trị Địa Lý Bộ  của chính phủ Trùng Khánh, ra tập Đông Á Địa Lý, quy định 8 con đường phát triển của nòi Hán sau này :

-1/Tây Bá Lợi Á- 2/ Tây Tạng, Ba Tư- 3/Tân Cương- 4/Ấn Độ- 5/Việt, Thái,Miến,Tân Gia Ba- 6/Nam Dương liệt đảo- 7/Úc châu- 8/Thái Bình Dương liệt đảo & Hàn quốc.

Để đạt mục đích, Tầu dùng cách : Lộ Ố Nàm ( lấy vợ An Nam)-Dìu Ố Nàm ( tiêu tiền An Nam)-Chì Ố Nàm ( ở đất An Nam).

Lý Đông A còn trưng rõ : tờ Đại Lộ Nguyệt San ở Thượng Hải, số ngày 1-5-1933 đã đăng bài Nam Dương Hoa Kiều Cộng Hoà Quốc Vận Động, chủ trương lấy Hoa kiều làm chủ lực xâm lược, biến Nam Dương thành Hoa kiều Cộng hoà quốc, về Việt Nam : Bắc kỳ quy về mẫu quốc, Trung kỳ và Nam kỳ thuộc về Hoa kiều thống trị. Trên tờ Quảng Tây Nhật Báo số ngày 26-11-1942 đề xướng “Hoa kiều thổ hoá vận động” qui định bề mặt phải thổ hoá nghĩa là Hoa kiều ăn mặc theo thổ dân, nói tiếng thổ dân, ảnh hưởng văn hoá thổ dân để bề trong tăng tác dụng Hán hoá.

Lý Đông A còn nhấn mạnh : “ Đối riêng VN, họ đang nghiên cứu cách nào lập thành một Tỉnh, nuôi Việt gian thế nào, diệt chữ quốc ngữ thế nào, , tiễu trừ dân tộc ý thức cách nào, làm sao cho người Việt tưởng mình là Hán, khôi phục chữ Nho thế nào…thống trị thế nào…”

5- Tầm quan trọng của đất nước Việt Nam đã được viễn kiến Lý Đông A kết tinh hùng hồn như sau : “ Đất ta là đất cơ sở của Thái Bình Dương, trung tâm của Đông Nam Á, tư lệnh đài của quốc tế, được ta thì tiến lên xưng bá loài người, lui về thì tự thủ muôn thuở…đứng vào thiên hiểm của trung tâm…đời nay nếu ta muốn sống phải hết sức mạnh mà ta hững hờ là thì tất diệt. Lại đời nay, diệt tức là toàn diệt đó, Ta chớ hòng làm Hoà Lan hay Thuỵ Sĩ…ta là cái xương hóc giữa cổ họng chú chiệc…”

LẠM BÀN

1-Đối Tầu, phân tích cặn kẽ của Lý Đông A, 80 năm sau, vẫn còn nguyên vẹn giá trị và vẫn làm kim chỉ nam cho cuộc vận động toàn dân sinh tồn phòng vệ. Nhật, Pháp chỉ là đối thủ chóng qua, Tầu trước sau vẫn là đối thủ truyền kiếp.

2-Trung Cộng đã chiếm Tân Cương, Tây Tạng, từng đánh Ấn Độ 1962, mưu toan ở Nam Dương 1965 …đúng như dự liệu của Lý Đông A, và so với tiết lộ của Wikileaks gần đây, thì mưu lược của Tầu trước sau vẫn là mở đường xuống Đông Nam Á, qua VN, chiếm biển Đông, lối tằm ăn dâu, thuê đất thuê rừng, khai Bâuxít, mỏ quặng, lấn đảo, biển, dùng tài hoá đầu tư khắp VN nhất là đang nhắm vùng biên giới Móng Cáy ( ngũ niên kế hoạch đầu tư hơn 400 tỷ từ nay tới 2015). (1)

3-Lý Đông A nhìn rõ thế giới từ 1950-2000, hậu Thế chiến II, đổi mới theo hướng quốc tế liên minh, mà VN trong liên minh Đại Nam Hải, phải thật mạnh để đối kháng Tầu.

  1. Cảnh báo về âm mưu Hán hoá : nuôi Việt gian, làm sao cho người mình tưởng mình là Hán, diệt trừ chữ quốc ngữ, khôi phục chữ Nho thế nào…vẫn còn nguyên giá trị. Hiện tại vẫn không thiếu người vì lòng yêu chữ Nho-chữ Nôm, vô tình tuyên truyền cho âm mưu đó mà quên rằng, cổ ngữ như LaTinh,Hy Lạp vẫn chỉ là cổ ngữ và quốc ngữ abc mới là nét đặc sắc của Văn hoá linh động cấp tiến Việt, tách rời bóng trùm Hán học.
  2. Trung Cộng công khai gây hấn ở Biển Đông, với 80 tầu chiến, tháng 5-2014, rõ ràng không từ bỏ chính sách cố hữu Đại Hán lạc hậu đó. Nay 2020 TC xây các đảo nhân tạo gần Trường Sa, uy hiếp Phi, Việt, Nam Dương, Mã Lai.

***

Tiếc rằng Lý Đông A đã khuất bóng sớm, từ 1946, không kịp nhìn thấy những chuyển biến rất lớn của thế giới : Tầu Cộng chiếm Hoa lục từ 1949, Tưởng chạy ra Đài Loan, Quốc Cộng VN 1954, VN 1975, Nga sô Đông Âu xụp đổ 1990, thế giới Hồi giáo bừng dậy, cuộc cách mạng điện tử mở rộng thông tin toàn cầu từ 1980….

Nam Dương, nhờ 90% Hồi giáo đã đẩy ngã Cộng sản Hoa kiều xuống biển.

Hàn, Nhật, trở thành cường quốc kinh tế, đối kháng mạnh mẽ với tiềm năng kinh tế của Tầu.

Ấn Độ cũng trở thành một cường quốc, Tầu khó có thể xâm chiếm (2)

Úc châu, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân, Mã Lai, Singapore, Đài Loan…những đảo quốc này với hải quân và hạm đội Hoa kỳ, không dễ gì hải quân mới lớn của Tầu có thể áp đảo, Tầu chưa từng có kinh nghiệm về hải chiến và đại chiến.

Hai khâu yếu nhất hiện tại là Lào và Việt Nam. Nếu VN biết nghiêng hẳn sang khối ASEAN và đại cường Hoa Kỳ, vận động yểm trợ của quan thầy cũ là Nga Sô tạo áp lực miền Tân Cương, Tây-Tây Bắc Trung Hoa, thì VN có thể thoát hiểm và làm chùn chân hồ đội lốt hổ Tầu.

Tại sao Tầu lại là hồ đội lốt hổ ? phân tích ta thấy dân Tầu 1.3 tỷ là loại dân hỗn tạp, nam Dương Tử vốn là giống Bách Việt, cả 56 bộ tộc, dân Hán từng bị Mông Cổ đô hộ 99 năm, Mãn Thanh thống trị 300 năm, binh hùng tướng mạnh, Tống, Minh.. sang đánh VN lần nào cũng tan tành đại bại, đầu thế kỷ XX Nhật Bản vũ bão đánh chiếm Mãn châu, Trung nguyên Tầu, Bát quốc xâu xé bắt nhượng địa, vì sao ? có thể kê ra những nhược điểm của Tầu như sau :

* Dân Tầu không phải là loại dân chiến sĩ –warriors- như Nhật, Mông, đa số là dân buôn bán, trí thức nhào nặn trong Nho Khổng cả ngàn năm, ô hợp, cúi mình theo cấp trên, làm việc lấy lệ, dối trá cho yên thân, trọng tiểu lợi, đầy dẫy những tiểu nhân tài bất cập chí, đầu óc còn phong kiến lạc hậu, chưa nhìn ra thế toàn cầu, vẫn lúi húi trong trò chơi chính trị Chiến quốc Tam quốc. Dân tình dân trí như thế làm sao bá chủ hoàn cầu ?

* Khối người Tầu theo hướng Tự Do Dân chủ, chống Cộng, khá đông vòng quanh thế giới, Đài Loan, Tân Gia Ba, Mỹ, Gia Nã Đại…Lý Quang Diệu từng cảnh tỉnh Đặng Tiểu Bình về đầu óc thực dân lấy mạnh hiếp yếu của Tầu Cộng. Khối này, cộng với những người đối kháng thức thời trong Hoa lục, không để Trung Cộng yên ổn khi có đại biến cố xẩy ra.

* Vũ khí nguyên tử mới không còn nể sợ biển người của Tầu, chưa kể loại quân Tầu phù, ngay cả 200 năm trước cũng đã bị Nguyễn Huệ phá tan trong một tuần lễ. Miếng ăn, nạn đói luôn luôn ám ảnh dân Tầu, dân xấu xí uý tử tham sinh hơn là bền gan sắt đá.

* Âm mưu của Trung Cộng lấy kinh tế bao vây Âu Mỹ, không qua mặt được bậc thầy kinh tài Nữu Ước Luân đôn, bậc thầy chứng khoán, bonds.. Do Thái..Giỏi về thương mại, quen hối lộ, gian thương..sau 30 năm canh tân từ 1979 tới nay Tầu vẫn chưa có nổi một thương hiệu quốc tế như Đại Hàn với Samsung, Hyundai, LG…có nghĩa là một nền kinh tế chậm tiến gia công cho Nhật, Âu, Mỹ…Cựu thủ tướng Anh, M.Thatcher từ 2002 cho rằng phải mất 40 năm nữa Tầu mới tân tiến, giải quyết xong cấu trúc hạ tầng xã hội. Hiện tại Tầu công kích Mỹ lấy Đô La làm loại tiền thống trị thế giới, nhưng đến bao giờ đồng Yuan của Tầu mới có uy tín bằng đô la để được quốc tế chấp nhận ?

* Hiện nay, 2020, Tầu Cộng đang dùng quỷ thuật sinh học Coronavirus từ Vũ Hán phát tán ra, dù vô tình hay hữu ý, thì TC cũng đang dùng quỷ kế phá nền kinh tế tư bản toàn cầu mà chính TC đã dựa vào để phát triển. Quỷ kế này sẽ làm thế giới Tự do khựng lại và đưa tới Đại chiến nếu TC không biết liệu sức mình, chưa kể trước mắt, gậy ông đập lưng ông, kinh tế TC nương nhờ Âu Mỹ cũng sẽ xuống dốc, đã và đang tạo cả trăm triệu người thất nghiệp, tất xã hội phải đổ vỡ, chia rẽ phia phái, địa phương sẽ nổ ra.

Trước trào lưu dân chủ tự do lan tràn toàn thế giới, sách lược Tâm Công của Nguyễn Trãi, từng làm quân Minh tan hàng, có thể dùng để làm rã ngũ quân cán Trung Cộng nếu phối hợp được với các lực lượng đối kháng của chính người Tầu trên thế giới, như Đài Loan, và người Bách Việt nam Dương Tử, người trí thức khát vọng tự do dân chủ ngay trong đất Tầu.

CHÚ THÍCH

1-Năm 1965, cùng với chiến tranh VN, đảng CS Nam Dương với 3.5 triệu đảng viên và 20 triệu người ủng hộ, là đảng mạnh nhất trong 18 đảng, họ toan nắm quyền ở Nam Dương. Khi ấy TT Sukarno lại bỏ Âu Mỹ, nghiêng về Trung Cộng, với lạm phát 650% kinh tế kiệt quệ, Sukarno từng chửi rủa Mỹ : “ Go to Hell with your aid ” đuổi đoàn thiện chí Peace Corp Mỹ, ông bi bệnh, không chịu giải phẫu ở Vienna mà lại quay về với Đông Y Tầu…May nhờ giới quân nhân chống Cộng quyết liệt và khối Hồi giáo thuần thành vốn chống vô thần, đảng CS Nam Dương bị triệt hạ, quần chúng nổi lên giết người Hoa mà họ cho là đứng sau đảng CS ( CS Tầu đã chuyển vũ khí cho CS Nam Dương), họ trả lại đất cho điền chủ bị CS địa phương tước đoạt…Theo Đại sứ Mỹ năm 1966 cho biết khoảng 400,000 CS và thân CS bị tàn sát, Đại sứ Thuỵ điển cho rằng số bị giết ít nhất là 1 triệu người. Hoa Kỳ khi ấy quyết tâm chặn đứng sức bành trướng của Trung Cộng ở biển Đông, từ Mã Lai-Nam Dương-tới Nam VN. Ngày nay, khu Tầu ở Nam Dương không dám đề chữ Hán trên bảng hiệu ! ( Sukarno bị truất 1967, mất năm 1970-tướng Suharto lên thay)

2-Xung đột biên giới Ấn-Tầu 1962 làm Thủ Tướng Nerhu tỉnh ngộ : Huynh đệ Ấn-Tầu-India-China Brothers- chỉ là trò hề, ngay sau đó Ấn tăng cường quân đội gấp đôi để phòng Tầu, cùng vụ hoả tiễn ở Cuba năm ấy , Mỹ và Âu châu nhìn ra tham vọng bành trướng của CS và riêng Nga cũng bắt đầu nghi ngại mối hoạ láng giềng Tầu. ( tài liệu tra cứu từ Google ).

Lvv cập nhật 15-4-2020.

 LỜI CẢNH BÁO VỀ NGUY CƠ ĐẠI HÁN

của tư tưởng gia LÝ ĐÔNG A từ 80 năm trước.

                                                       Hạ Long Bụt sĩ (cập nhật 4-2020)

Lý Đông A, một tư tưởng gia thâm viễn của Việt tộc, từ những năm 1940, trong tập Chu Tri Lục ( bàn về sự biết chu toàn) tập 3, đã phân tích và trưng ra những nguy cơ của kế hoạch Đại Hán của Tầu, dù là Tầu Quốc hay Tầu Cộng.

Lý Đông A đã nhìn rõ, từ 1943, sau đệ nhị Thế chiến, thế giới 1950-2000 sẽ chuyển mình sang chế độ mới, với các liên minh quốc tế. Tại thời điểm 1940, Căn bản lập trường dân tộc qua Cương Lĩnh 2, đối Tầu, gồm vài điểm quan trọng sau :

  1. Quy luật lịch sử Tầu là : Lấy Tài Hoá Thu Nhân Tâm ( thoát nghĩa Hữu đức giả hữu thổ ), Hưng Hoa diệt Di, thiên hạ đại đồng theo lối Hán mà vũ khí và thủ đoạn chủ yếu là chủng tộc xâm lược.
  2. Tam Dân chủ nghĩa của Tôn Văn cũng là một chủ nghĩa đế quốc : Tôn Văn từng nói với cụ Phan Bội Châu : “ Các ông bất tất phải làm, chỉ là một tỉnh của Tầuchúng tôi làm xong thì xong”, và sau này Tưởng Giới Thạch cũng nói : “ Việt Nam là Tầu, Việt Nam để người Tầu làm giúp cho”.
  3. Năm 1911, Tôn Văn đề xướng Ngũ Tộc Cộng Hoà, gồm 90% là nhân khẩu Tầu, 10% là Mãn, Mông, Tạng, Miêu ( là Việt núi). Năm 1916 Tôn Văn luận Quốc Tộc tức đúc các dân tộc vào một lò mà thống nhất thế giới, chia toàn quốc ra Tỉnh,Quận,Huyện, khoảng 1921-22, Tôn Văn nói : Ta phải đem các dân tộc Thái, Việt…liên hợp lại cùng chống đế quốc.
  4. Năm 1940, Chính Trị Địa Lý Bộ  của chính phủ Trùng Khánh, ra tập Đông Á Địa Lý, quy định 8 con đường phát triển của nòi Hán sau này :

-1/Tây Bá Lợi Á- 2/ Tây Tạng, Ba Tư- 3/Tân Cương- 4/Ấn Độ- 5/Việt, Thái,Miến,Tân Gia Ba- 6/Nam Dương liệt đảo- 7/Úc châu- 8/Thái Bình Dương liệt đảo & Hàn quốc.

Để đạt mục đích, Tầu dùng cách : Lộ Ố Nàm ( lấy vợ An Nam)-Dìu Ố Nàm ( tiêu tiền An Nam)-Chì Ố Nàm ( ở đất An Nam).

Lý Đông A còn trưng rõ : tờ Đại Lộ Nguyệt San ở Thượng Hải, số ngày 1-5-1933 đã đăng bài Nam Dương Hoa Kiều Cộng Hoà Quốc Vận Động, chủ trương lấy Hoa kiều làm chủ lực xâm lược, biến Nam Dương thành Hoa kiều Cộng hoà quốc, về Việt Nam : Bắc kỳ quy về mẫu quốc, Trung kỳ và Nam kỳ thuộc về Hoa kiều thống trị. Trên tờ Quảng Tây Nhật Báo số ngày 26-11-1942 đề xướng “Hoa kiều thổ hoá vận động” qui định bề mặt phải thổ hoá nghĩa là Hoa kiều ăn mặc theo thổ dân, nói tiếng thổ dân, ảnh hưởng văn hoá thổ dân để bề trong tăng tác dụng Hán hoá.

Lý Đông A còn nhấn mạnh : “ Đối riêng VN, họ đang nghiên cứu cách nào lập thành một Tỉnh, nuôi Việt gian thế nào, diệt chữ quốc ngữ thế nào, , tiễu trừ dân tộc ý thức cách nào, làm sao cho người Việt tưởng mình là Hán, khôi phục chữ Nho thế nào…thống trị thế nào…”

5- Tầm quan trọng của đất nước Việt Nam đã được viễn kiến Lý Đông A kết tinh hùng hồn như sau : “ Đất ta là đất cơ sở của Thái Bình Dương, trung tâm của Đông Nam Á, tư lệnh đài của quốc tế, được ta thì tiến lên xưng bá loài người, lui về thì tự thủ muôn thuở…đứng vào thiên hiểm của trung tâm…đời nay nếu ta muốn sống phải hết sức mạnh mà ta hững hờ là thì tất diệt. Lại đời nay, diệt tức là toàn diệt đó, Ta chớ hòng làm Hoà Lan hay Thuỵ Sĩ…ta là cái xương hóc giữa cổ họng chú chiệc…”

LẠM BÀN

1-Đối Tầu, phân tích cặn kẽ của Lý Đông A, 80 năm sau, vẫn còn nguyên vẹn giá trị và vẫn làm kim chỉ nam cho cuộc vận động toàn dân sinh tồn phòng vệ. Nhật, Pháp chỉ là đối thủ chóng qua, Tầu trước sau vẫn là đối thủ truyền kiếp.

2-Trung Cộng đã chiếm Tân Cương, Tây Tạng, từng đánh Ấn Độ 1962, mưu toan ở Nam Dương 1965 …đúng như dự liệu của Lý Đông A, và so với tiết lộ của Wikileaks gần đây, thì mưu lược của Tầu trước sau vẫn là mở đường xuống Đông Nam Á, qua VN, chiếm biển Đông, lối tằm ăn dâu, thuê đất thuê rừng, khai Bâuxít, mỏ quặng, lấn đảo, biển, dùng tài hoá đầu tư khắp VN nhất là đang nhắm vùng biên giới Móng Cáy ( ngũ niên kế hoạch đầu tư hơn 400 tỷ từ nay tới 2015). (1)

3-Lý Đông A nhìn rõ thế giới từ 1950-2000, hậu Thế chiến II, đổi mới theo hướng quốc tế liên minh, mà VN trong liên minh Đại Nam Hải, phải thật mạnh để đối kháng Tầu.

  1. Cảnh báo về âm mưu Hán hoá : nuôi Việt gian, làm sao cho người mình tưởng mình là Hán, diệt trừ chữ quốc ngữ, khôi phục chữ Nho thế nào…vẫn còn nguyên giá trị. Hiện tại vẫn không thiếu người vì lòng yêu chữ Nho-chữ Nôm, vô tình tuyên truyền cho âm mưu đó mà quên rằng, cổ ngữ như LaTinh,Hy Lạp vẫn chỉ là cổ ngữ và quốc ngữ abc mới là nét đặc sắc của Văn hoá linh động cấp tiến Việt, tách rời bóng trùm Hán học.
  2. Trung Cộng công khai gây hấn ở Biển Đông, với 80 tầu chiến, tháng 5-2014, rõ ràng không từ bỏ chính sách cố hữu Đại Hán lạc hậu đó. Nay 2020 TC xây các đảo nhân tạo gần Trường Sa, uy hiếp Phi, Việt, Nam Dương, Mã Lai.

***

Tiếc rằng Lý Đông A đã khuất bóng sớm, từ 1946, không kịp nhìn thấy những chuyển biến rất lớn của thế giới : Tầu Cộng chiếm Hoa lục từ 1949, Tưởng chạy ra Đài Loan, Quốc Cộng VN 1954, VN 1975, Nga sô Đông Âu xụp đổ 1990, thế giới Hồi giáo bừng dậy, cuộc cách mạng điện tử mở rộng thông tin toàn cầu từ 1980….

Nam Dương, nhờ 90% Hồi giáo đã đẩy ngã Cộng sản Hoa kiều xuống biển.

Hàn, Nhật, trở thành cường quốc kinh tế, đối kháng mạnh mẽ với tiềm năng kinh tế của Tầu.

Ấn Độ cũng trở thành một cường quốc, Tầu khó có thể xâm chiếm (2)

Úc châu, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân, Mã Lai, Singapore, Đài Loan…những đảo quốc này với hải quân và hạm đội Hoa kỳ, không dễ gì hải quân mới lớn của Tầu có thể áp đảo, Tầu chưa từng có kinh nghiệm về hải chiến và đại chiến.

Hai khâu yếu nhất hiện tại là Lào và Việt Nam. Nếu VN biết nghiêng hẳn sang khối ASEAN và đại cường Hoa Kỳ, vận động yểm trợ của quan thầy cũ là Nga Sô tạo áp lực miền Tân Cương, Tây-Tây Bắc Trung Hoa, thì VN có thể thoát hiểm và làm chùn chân hồ đội lốt hổ Tầu.

Tại sao Tầu lại là hồ đội lốt hổ ? phân tích ta thấy dân Tầu 1.3 tỷ là loại dân hỗn tạp, nam Dương Tử vốn là giống Bách Việt, cả 56 bộ tộc, dân Hán từng bị Mông Cổ đô hộ 99 năm, Mãn Thanh thống trị 300 năm, binh hùng tướng mạnh, Tống, Minh.. sang đánh VN lần nào cũng tan tành đại bại, đầu thế kỷ XX Nhật Bản vũ bão đánh chiếm Mãn châu, Trung nguyên Tầu, Bát quốc xâu xé bắt nhượng địa, vì sao ? có thể kê ra những nhược điểm của Tầu như sau :

* Dân Tầu không phải là loại dân chiến sĩ –warriors- như Nhật, Mông, đa số là dân buôn bán, trí thức nhào nặn trong Nho Khổng cả ngàn năm, ô hợp, cúi mình theo cấp trên, làm việc lấy lệ, dối trá cho yên thân, trọng tiểu lợi, đầy dẫy những tiểu nhân tài bất cập chí, đầu óc còn phong kiến lạc hậu, chưa nhìn ra thế toàn cầu, vẫn lúi húi trong trò chơi chính trị Chiến quốc Tam quốc. Dân tình dân trí như thế làm sao bá chủ hoàn cầu ?

* Khối người Tầu theo hướng Tự Do Dân chủ, chống Cộng, khá đông vòng quanh thế giới, Đài Loan, Tân Gia Ba, Mỹ, Gia Nã Đại…Lý Quang Diệu từng cảnh tỉnh Đặng Tiểu Bình về đầu óc thực dân lấy mạnh hiếp yếu của Tầu Cộng. Khối này, cộng với những người đối kháng thức thời trong Hoa lục, không để Trung Cộng yên ổn khi có đại biến cố xẩy ra.

* Vũ khí nguyên tử mới không còn nể sợ biển người của Tầu, chưa kể loại quân Tầu phù, ngay cả 200 năm trước cũng đã bị Nguyễn Huệ phá tan trong một tuần lễ. Miếng ăn, nạn đói luôn luôn ám ảnh dân Tầu, dân xấu xí uý tử tham sinh hơn là bền gan sắt đá.

* Âm mưu của Trung Cộng lấy kinh tế bao vây Âu Mỹ, không qua mặt được bậc thầy kinh tài Nữu Ước Luân đôn, bậc thầy chứng khoán, bonds.. Do Thái..Giỏi về thương mại, quen hối lộ, gian thương..sau 30 năm canh tân từ 1979 tới nay Tầu vẫn chưa có nổi một thương hiệu quốc tế như Đại Hàn với Samsung, Hyundai, LG…có nghĩa là một nền kinh tế chậm tiến gia công cho Nhật, Âu, Mỹ…Cựu thủ tướng Anh, M.Thatcher từ 2002 cho rằng phải mất 40 năm nữa Tầu mới tân tiến, giải quyết xong cấu trúc hạ tầng xã hội. Hiện tại Tầu công kích Mỹ lấy Đô La làm loại tiền thống trị thế giới, nhưng đến bao giờ đồng Yuan của Tầu mới có uy tín bằng đô la để được quốc tế chấp nhận ?

* Hiện nay, 2020, Tầu Cộng đang dùng quỷ thuật sinh học Coronavirus từ Vũ Hán phát tán ra, dù vô tình hay hữu ý, thì TC cũng đang dùng quỷ kế phá nền kinh tế tư bản toàn cầu mà chính TC đã dựa vào để phát triển. Quỷ kế này sẽ làm thế giới Tự do khựng lại và đưa tới Đại chiến nếu TC không biết liệu sức mình, chưa kể trước mắt, gậy ông đập lưng ông, kinh tế TC nương nhờ Âu Mỹ cũng sẽ xuống dốc, đã và đang tạo cả trăm triệu người thất nghiệp, tất xã hội phải đổ vỡ, chia rẽ phia phái, địa phương sẽ nổ ra.

Trước trào lưu dân chủ tự do lan tràn toàn thế giới, sách lược Tâm Công của Nguyễn Trãi, từng làm quân Minh tan hàng, có thể dùng để làm rã ngũ quân cán Trung Cộng nếu phối hợp được với các lực lượng đối kháng của chính người Tầu trên thế giới, như Đài Loan, và người Bách Việt nam Dương Tử, người trí thức khát vọng tự do dân chủ ngay trong đất Tầu.

CHÚ THÍCH

1-Năm 1965, cùng với chiến tranh VN, đảng CS Nam Dương với 3.5 triệu đảng viên và 20 triệu người ủng hộ, là đảng mạnh nhất trong 18 đảng, họ toan nắm quyền ở Nam Dương. Khi ấy TT Sukarno lại bỏ Âu Mỹ, nghiêng về Trung Cộng, với lạm phát 650% kinh tế kiệt quệ, Sukarno từng chửi rủa Mỹ : “ Go to Hell with your aid ” đuổi đoàn thiện chí Peace Corp Mỹ, ông bi bệnh, không chịu giải phẫu ở Vienna mà lại quay về với Đông Y Tầu…May nhờ giới quân nhân chống Cộng quyết liệt và khối Hồi giáo thuần thành vốn chống vô thần, đảng CS Nam Dương bị triệt hạ, quần chúng nổi lên giết người Hoa mà họ cho là đứng sau đảng CS ( CS Tầu đã chuyển vũ khí cho CS Nam Dương), họ trả lại đất cho điền chủ bị CS địa phương tước đoạt…Theo Đại sứ Mỹ năm 1966 cho biết khoảng 400,000 CS và thân CS bị tàn sát, Đại sứ Thuỵ điển cho rằng số bị giết ít nhất là 1 triệu người. Hoa Kỳ khi ấy quyết tâm chặn đứng sức bành trướng của Trung Cộng ở biển Đông, từ Mã Lai-Nam Dương-tới Nam VN. Ngày nay, khu Tầu ở Nam Dương không dám đề chữ Hán trên bảng hiệu ! ( Sukarno bị truất 1967, mất năm 1970-tướng Suharto lên thay)

2-Xung đột biên giới Ấn-Tầu 1962 làm Thủ Tướng Nerhu tỉnh ngộ : Huynh đệ Ấn-Tầu-India-China Brothers- chỉ là trò hề, ngay sau đó Ấn tăng cường quân đội gấp đôi để phòng Tầu, cùng vụ hoả tiễn ở Cuba năm ấy , Mỹ và Âu châu nhìn ra tham vọng bành trướng của CS và riêng Nga cũng bắt đầu nghi ngại mối hoạ láng giềng Tầu. ( tài liệu tra cứu từ Google ).

Lưu Văn Vịnh cập nhật 15-4-2020.

DỊCH COVID-19 (“Cô” RONA 19) VÀ TIẾNG VỌNG THUYỀN NHÂN

Đàm Trung Phán


“MÀ SAO ÂM KHÍ VẮNG TANH THẾ NÀY?”

Hôm nay bầu trời Mississauga, Canada – nơi đôi vợ chồng già chúng tôi đang cư ngụ trong đời hưu trí – rất âm u. Mưa đang rơi và cái lạnh buốt xương cho người già đã thôi thúc người viết phải ngồi xuống để ghi lại những gì về cơn dịch COVID-19 đang hoành hành. Nhất là những gì mà vợ chồng chúng tôi đang trải qua: may mắn hơn nhiều nơi khác và đây cũng lại là cơ hội để cho chúng tôi và rất nhiều người đời cần phải suy nghĩ về cuộc đời của chính bản thân mình và của thế giới nói chung.

Trong 6 năm qua, người viết khá bận rộn với nhiều thứ. Nhất là vụ xây cất Tượng Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân tại thành phố Mississauga này. Cũng may là Tượng Đài Thuyền Nhân đã tạm thời hoàn tất được khoảng 90% vào đầu tháng 11 năm 2019 trước khi Hội Đồng Thành Phố Mississauga tạm ngưng các công việc xây cất ngoài trời trong những ngày tháng mùa đông. Các anh chị em trong Hội Đồng Quản Trị và các thiện nguyện viên đã may mắn có cơ hội để được tạm nghỉ làm việc trong dịp lễ Giáng Sinh 2019 và đón mừng Năm Mới 2020.

Chúng tôi thấy thoải mái và rất cần được nghỉ lo âu vì cứ phải tiếp tục làm cho xong các “deadlines” liên tục  trong thời kỳ  gây quỹ và nhất là trong thời kỳ xây cất Tượng Đài từ tháng 7 cho đến đầu tháng 11 năm 2019.

Riêng người viết, chúng tôi cảm thấy an tâm vì tượng đài đã “đứng vững” trên bệ đá hoa cương hình ngũ giác và phần xây cất Tượng Đài đã không còn bị những “giòng nước ngầm” quấy phá nữa. Chưa bao giờ người viết cảm thấy được an nhàn mà đi bộ mỗi buổi sáng trong khu vườn, trong các con phố “side street” gần nhà cho đến lúc Khánh Thành vào hôm Nov. 9, 2019. Ngay ngày hôm sau, cơn bão tuyết đã “mở hàng” cho cư dân Mississauga chúng tôi trong 2 ngày liên tiếp!

Niềm an vui khá trọn vẹn. Đi bộ để mà đi, nhất là đi xung quanh Tượng Đài Thuyền Nhân. Đi để mà thấy thân tâm của mình không bị giao động. Đi để mà tự mình đang sống với chính mình. Đi để mà thấy “đôi tình nhân lớn tuổi” đang được hưởng những giây phút với con, với cháu và nhất là được nhìn thấy các cháu nội, cháu ngoại đang khôn lớn trong lứa tuổi hồn nhiên của chúng.

Qua đến tháng Hai trong năm 2020 thì “Cô” (Corona í mà) xuất hiện qua báo chí. Thoạt đầu, chỉ nghĩ là “Cô” (Rona) “xinh đẹp” và bị báo chí “ghen tị” nên hay thêu dệt về “Cô”. Nhất là cái vụ “Fake news” đang lộng hành. Nhưng rồi, may mắn thay, mình lại được xem tin tức qua Youtube của rất nhiều người trong nhiều nơi khác nhau thì mới biết “Cô” nhà ta là như thế nào. Đúng là “Cô hồn” thật rồi. “Cô” đến từ Vũ Hán. Thành phố Vũ Hán mà dân Việt Nam chúng ta được biết qua thơ văn của người Tầu!

Người viết đã già rồi, đã quá “date” nên chẳng sợ chết gì hết. “Chết” chẳng phải là “hết” mà chỉ để “được nghỉ việc” ít lâu (vài năm, vài trăm năm, vài nghìn năm?) Cái thời gian tính sau khi “mình chết” không còn là yếu tố quan trọng trong “thế giới bên kia” nữa.

Tuy nhiên “lão niên” này chỉ thương cho các thế hệ trẻ mà thôi. Sẽ chẳng có “mồ yên mả đẹp nữa” vì “thân tro bụi” này sẽ chóng được được gieo đi trong hồ, trong biển rồi. “Ra đi không hẹn ngày về”!

Khi đang viết những giòng này thì “Cô” đang xuất hiện trên toàn thế giới. “Cô” xuất hiện mạnh nhất tại nơi “chôn nhau, cắt rốn” của “Cô”: Trung Hoa cộng sản. Nhờ “Cô” mà thế giới mới có bằng chứng “lý lịch” của “cô” và có nhiều nghi vấn về sự “có mặt” của “Cô” lắm!

Tuy nhiên, nhờ có “Cô” mà người đời mới bắt đầu phải “nhìn vào bên trong”con người thực sự của mình. Sự xuất hiện của “Cô” đã làm cho thiên hạ phải sống theo luật pháp của quốc gia nơi họ đang sinh sống: Sống cách ly để cho “cô” đỡ có thể “quậy” từ người này qua người khác…

“CÔ” RONA , MÁT DZÊ IN CHÁI NỜ, 2019

Thành phố yên tĩnh hơn: ít xe cộ, ít có đi ngoài đường phố làm phố xá ít náo động hơn, không khí ít bị ô nhiễm, và con nít có dịp được sống quây quần với bố mẹ nhiều hơn… “Back to the basic” như Tây Phương thường nói.

Riêng về cặp vợ chồng già chúng tôi, chúng tôi ít khi đi ra phố lắm, trừ những lúc “ông già nay đã 78” đi bộ xung quanh cái vườn rộng xung quanh chung cư này mà thôi.

Tuần trước, vợ chồng chúng tôi phải lái xe ra một cái “shopping plaza” để người viết gia hạn bằng lái xe và tờ bảo hiểm sức khỏe. Khi “đôi trẻ” tiến tới văn phòng này, chúng tôi bị một nhân viên phái nữ dơ tay chặn lại:

– Xin ông bà đứng lại! (cách bà ta ít nhất 2m /6ft)

Bà ta hỏi chúng tôi có bị bệnh gì không, trong nhà còn có ai cùng sống với chúng tôi không, trong vòng 2 tuần trước có gặp ai mới ở ngoại quốc về không?

Sau khi chúng tôi trả lời “không”, bà ta mới cho chúng tôi vào chỗ nhân viên làm việc. Bà thư ký đeo khẩu trang cũng bắt chúng tôi phải đứng cách xa bà ta 2m/6ft. Tuy nhiên, bà ta làm việc rất nhanh: chỉ trong vòng 5 phút là chúng tôi có ngay được thẻ lái xe và tờ bảo hiểm sức khỏe tạm thời.

Trong cái “plaza” này, tất cả mọi cửa hàng đều đóng cửa hết. Chỉ có hiệu bán cà phê “Tim Hortons” và hiệu bán thực phẩm “Metro” còn mở cửa mà thôi (chính phủ  Ontario cho phép vì họ phục vụ đồ ăn thức uống cho thiên hạ).

Đặc biệt giá xăng rẻ bằng nửa trước khi “cô đến thăm dân một chiều đông” của chúng tôi: 65 xu một lít thay vì 1.20 Gia Kim hai tuần trước đó.

Nhìn thành phố vắng lặng làm người viết nhớ đến một cuốn phim đã được chiếu khoảng 50 năm trước: Thành phố New York bên Mỹ không còn 1 bóng người đi lại khi một anh chàng thủy thủ Mỹ trở về thăm New York.

Đôi “uyên ương” về hưu đã trên 16 cái xuân xanh nay có nhiều thì giờ hơn nên bà thường nấu phở, nấu cháo cho chồng, cho con và cháu ngoại ăn. Hóa ra trong “cái rủi lại có cái “may”(!): chúng tôi được gặp con cháu nhiều hơn cũng là vì nhờ “cô” mà “được” như vậy.

Nhìn cảnh trời u ám dưới làn mưa lạnh (cái lạnh làm buốt cái đôi cẳng già nua), người viết miên man trở về với giòng dĩ vãng…

Đầu thập niên 1960, khi mới đến Sydney, Úc Đại Lợi, người viết thích ra bờ biển và đi thăm mấy cái park lắm. Thích nhất là được ngắm những bức tượng đúc bằng đồng đen, vươn mình đứng trong cái park tĩnh mịch vào lúc chập choạng tối ít người qua lại. Tự nhiên thấy lòng mình lắng xuống: buồn tình vì phải sống xa nhà, vì thấy lo cho thân phụ trong lúc tuổi già: bố, con mỗi người một nơi, và cảm thấy bất an cho gia đình ở Việt Nam trong lúc quê hương đang bị chiến tranh lan tràn từ Bắc vào Nam…

Trong cái se lạnh của mùa Đông đất Úc, trong cái lúc đơn độc của một thanh niên đang phải đối đầu giữa hai nền văn minh giữa Á và Âu, và thời buổi giao thời của hai nền giáo dục Úc và Việt Nam. Đứng lặng nhìn bức tượng trước khi chàng trở về với sách vở trong căn phòng đơn sơ của một thanh niên du học xa nhà…

Sau khi đã tốt nghiệp, chàng thanh niên rời đất Úc để đi đến miền định cư mới. Chỗ nào có các bức tượng đồng đen, chỗ đó sẽ có mặt anh chàng nay đã vào đời. Chàng đã trở thành một nhà giáo, đã có đủ khả năng trong nghành nghề xây cất để thực hiện những gì đã chứa đựng trong trái tim, trong đầu óc của  một nhân vật đang “lang thang trong đại lục trần gian”.

Bốn mươi bốn năm sau, nhà giáo dậy về xây cất và bảo vệ môi sinh tại Canada nay đã về hưu và trở về viếng thăm “chốn xưa”. Ngay tại địa danh “The Heads” tại Sudney, ông già tóc bạc đứng nhìn những ngọn sóng to đánh vào vách đá. Ông hồi tưởng lại hồi còn đang học bên Úc và rồi những hình ảnh của nhiều Thuyền Nhân Việt Nam đang bị các sóng biển đe dọa. Câu chuyện xây Tượng Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam bắt đầu thai nghén từ lúc đó.

Trong những đêm khuya thanh vắng hay trong những lúc đi bộ trong những park vắng người tại Mississauga, “ông giáo già” bèn “lên kế hoạch” làm sao có thể xây tượng đài. Bèn ghi lại trong đầu óc những công việc phải làm:

– Xin miếng đất để xây Tượng Đài

– Phải có cái mẫu (model) của Tượng Đài

– Phải có tiền để xây cất

– Phải có nhân lực…

– Phải có… Phải có…

Càng nghĩ, càng thấy nhiều thứ cần phải làm lắm. Quá nhiều thứ, quá nhiều “ẩn số”… Nói theo kiểu toán học: phương trình ít ỏi mà ẩn số lại quá nhiều thì làm sao mà giải được bài toán này nhỉ?

Bài toán hóc búa này đã “mọc rễ” trong đầu ông “giáo già nay đã về hưu” từ năm 2013.

Xin đất, xin ở đâu nhỉ? Thoạt đầu “ông già” mơ mộng xin được một miếng đất tại Niagara Falls. Hão huyền quá,  đây là nơi quá đẹp, quá lý tưởng. Đây là vùng mà cả thế giới biết đến.  Bèn tự nhủ: “Forget it!”

Toronto ư? Những nơi lý tưởng thì chẳng còn nữa! Lại nhủ thầm: “Forget it!”

Mississauga ư? Hay lắm chứ. Thành phố còn mới, chỗ còn nhiều lắm nhưng mà làm sao mà xin đất đây?

Gãi cái đầu nay tóc đã thưa, ông già tặc lưỡi: “Có gì đâu, mình phải viết đơn xin đất và gửi đến Hội Đồng Thành Phố Mississauga. Mình phải cho họ biết trước là Cộng Đồng VN mình xây Tượng Đài Thuyền Nhân Việt Nam để cám ơn đất nước Canada và người dân Canada đã đón nhận hơn 60,000 thuyền nhân Việt Nam trong đầu thập niên 1980. Mình cần phải có một khu đất để xây Tượng Đài!”

“Biết người, biết mình thì mới làm việc được chứ!” Ông già trên 70 tự nói với chính mình!

Bỗng nghe tiếng vọng trong tâm:

– “Hey, you, Old Man” ! Còn nhớ những kinh nghiệm ngày xưa khi ông quen với ông “Commissioner of Public Works của City of Scarborough” không? Nhờ ông này mà ông đã quen biết với hệ thống hành chính của Hội Đồng Thành Phố Scarborough rồi mà!?

Ông già chợt bừng tỉnh và nhớ lại thời buổi ngày xưa.

Ở tuổi 40, ông đã được trường Công Chánh của Centennial College ủy nhiệm cho chức vụ Giáo Sư Đại Diện College gia nhập Ủy Ban Cố Vấn Duyệt Xét Chương Trình Công Chánh của College. Ủy ban này gồm có 12 hội viên do chính phủ Tỉnh Bang bổ nhiệm để duyệt xét chương trình Công Chánh cho mỗi college (Ontario có tất cả 22 colleges và hầu hết các college đều có chương trình Công Chánh, tiếng Anh gọi là Civil Engineering Technology).  Vị giáo sư gốc Việt này đã trở thành một bạn thân của ông “Commissioner of Public Works”. Nhờ vậy mà sau đó College và Hội Đồng Thành Phố Scarborough ( City of Scarborough Corporation)  đã trở thành 2 “partners” trong lãnh vực “Co-op Education”. Có nghĩa là trường Công Chánh của Centennial College đã được phép gửi sinh viên đi thực tập tại City of Scarborough trong các “Co-op term” để lấy kinh nghiệm ngành nghề. Ngoài ra sinh viên còn được trả lương nữa . Nhờ vậy mà Centennial College đã thâu nhận được sinh viên nhiều hơn trong những năm kế tiếp.

Nhờ quen biết với ông “Commissioner of Public works”, chúng tôi đã có dịp làm quen thêm được nhiều nghị viên (Councillors) của City of Scarborough. Tựu chung các nghị viên rất quan tâm đến vấn đề an sinh của dân chúng. Họ sẵn sàng giúp đỡ dân chúng và các cơ quan khác nếu họ biết rõ mình muốn được giúp đỡ trong lĩnh vực nào.

“Giáo Già Về Hưu” vỗ tay đôm đốp: “Biết rồi! Việc đầu tiên mình phải làm quen với bà Thị Trưởng của Mississauga và một vài nghị viên để họ ủng hộ việc mình đi xin đất.

May mắn thay, chúng tôi đã có dịp gặp bà Bonnie Crombie tại Hội Cao Niên Việt Nam, Mississauga một tuần trước ngày bầu cử của Hội Đồng Thành Phố Mississauga vào giữa tháng 10, năm 2014. Bà hứa với chúng tôi rằng bà sẽ giúp Cộng Đồng VN chúng ta tại vùng Đại Đô Thị Toronto trong việc xin đất nếu bà trúng cử.

Bà đã thắng cử. Bà đã giữ lời hứa. Chúng tôi cũng đã được hai nghị viên Chris Fonseca và Ron Starr giúp đỡ rất nhiều. Họ là 3 người bạn “thân và tốt” của CĐVN chúng ta.

Câu chuyện xây cất TĐVN còn dài lắm. Sẽ còn là chủ đề cho những bài viết sau này. Hiện tại TĐTN đang đứng trơ trơ, không hề sợ bà “Cô” RONA quấy phá gì hết.

TÁC GIẢ VIẾNG THĂM TƯỢNG ĐÀI TRONG MÙA DỊCH COVID – 19

Xin kết luận bằng 2 câu “thơ” dưới đây:

“Cô” đi, “Cô” đến vẫn là “Cô”

Thế giới xịt “Cô”, bớt bụi trần.

Đàm Trung Phán

Giáo Sư Công Chánh hồi hưu

Tháng Tư, 2020

MÁI TRƯỜNG VÀ ĐỒNG SỰ

Đàm Trung Phán

 Có những buổi sáng như hôm nay, tôi vào Staff Lounge thật sớm, uống ly cà phê và ăn Bagel hoàn toàn trong tĩnh lặng. Tôi cần có những giây phút thoải mái này trước khi bước vào lớp học hay chấm bài.

 Uống một ngụm cà phê, ngoài sân trường, lá đang đổi mầu. Cả một bức tranh thật đẹp với mầu vàng, mầu đỏ của rừng phong xung quanh trường. Một cơn gió nhẹ thổi, lá khô bay, tụ đầy cả một góc tường. Mặt trời bắt đầu ló dạng, một chuyện ít khi thấy trong mùa thu tại Canada. Tôi lơ đãng nhìn ra ngoài trời. Bỗng đâu, tôi bị lôi cuốn vào giòng dĩ vãng của mái trường này.

    Trước khi nghỉ hè năm nay, Rick Chan (không phải là tên thật) bào tin cho tôi hay là ông sẽ về hưu vào cuối tháng Tám, sau khi chúng tôi tựu trường. Tin Rick về hưu, tôi không lấy gì làm ngạc nhiên cho lắm vì đã hai năm rồi, ông thường kể cho tôi nghe những dự định của ông sau khi về hưu.

Định mệnh cuộc đời đưa đẩy chúng tôi trở thành đôi bạn thân: chúng tôi là hai kẻ duy nhất còn được tại nhiệm sau khi ngành Công Chánh trong College bị chính phủ đóng cửa vì thiếu ngân quỹ.  Chúng tôi được chuyển sang ngành Bảo Vệ Môi Sinh (Environmental Protection Technology Department) để dạy các môn Công Chánh trong ngành này. 

Năm năm về trước, vợ Rick qua đời sau một thời gian chữa bệnh ung thư máu. Những ngày tháng này, ngày nào Rick cũng vào nhà thương thăm vợ. Rick là người rất ít nói truyện đời tư với ai, nhưng với riêng tôi, Rick hay tâm sự về vợ ông, Julie, và những bệnh nhân ung thư mà ông thường gặp trong nhà thương. Một hôm, tôi đang ngồi trong phòng làm việc, đợi lúc người học trò ra khỏi phòng của tôi, Rick chạy vôi vào phòng và nói:

–  Này ông, nếu không thấy tôi vào trường, chắc ông sẽ biết tại sao!

Giọng Rick bị cắt quãng qua tiếng nấc. Tôi chưa kịp nói gì, Rick đã chạy vội ra hành lang.  Hai ngày sau đó, Julie mấi. Tôi không được đi đưa đám ma Julie. Trong số các đồng sự, Rick chỉ mời riêng tôi đến dự cái Memorial Service cho Julie. Về sau, Rick giải thích:

 –  Trước khi mất, Julie dặn tôi là chỉ có mời những người trong gia đình đi dự đám tang mà thôi và Julie chỉ muốn tôi mời mình ông đến dự cái Memorial Service này ngoài các bạn bè thân của Julie, ông thông cảm giùm nghe! Julie thường hay hỏi thăm về ông khi bà ấy ở trong nhà thương!

Julie tính tình cởi mở, hài hòa và đầy lòng nhân hậu nhưng Rick lại hay khó khăn và khép kín. Sau khi Julie mất, tính tình Rick dễ dãi và cởi mở hơn nhiều. Rick cho tôi hay là lúc sinh thời, Julie thường hay giúp nhà thờ, nhà thương trong các công tác thiện nguyện. Rick đã hối hận không giúp nhiều cho Julie trong các công tác này:

–  Giá mà tôi biết trước, tôi đâu có để cho Julie phải làm hết các việc này một mình! Tôi thật là đã quá khó khăn và ích kỷ với Julie!

Tôi ngồi lắng nghe, và biết là Rick đang rất đau buồn rồi đâm ra tự trách mình. Những năm này, khi Julie còn đang trị bệnh Department của chúng tôi chỉ còn có Tony Level, Rick và tôi sau khi trường đã sa thải các giáo sư khác. Sau giờ dạy, Rick thường hay ở lại nói truyện với Tony và tôi cho tới bẩy, tám giờ tối. Tuy kín đáo, nhưng có nhiều lúc, Rick than với tôi:

–  Giá mà Julie còn sống, tôi sẽ về hưu ngay sau khi được phép về hưu non! Chỉ vài tháng sau khi Julie mất, con chó Chow mà tụi tôi đã nuôi hơn mười năm cũng chết theo luôn!  Hai con tôi đã ra trường và đi làm xa. Tôi sợ cái trống vắng của ban đêm lắm!

Tony bắt đầu dậy trước Rick và tôi ba năm, ông dậy các môn Địa Chánh (Surveying). Ông là một con người có nhiều cái đam mê khác nhau. Đam mê chính của ông là ảo thuật và đi lùng kiếm mua bằng được các puzzles hiếm có để trong những lúc không phải soạn bài, chấm bài hay dậy học, ông tò mò tìm ra bài giải cho cái trò “giải trí” đau đầu này!  Khi tôi mới nhậm chức, và lần đầu tiên bước chân vào phòng vẽ của sinh viên (Drafting Room), tôi thấy trên các bàn vẽ (drafting tables ) bầy la liệt các “đồ chơi” lạ lùng. Tôi nghĩ bụng : “Trường Civil Technology, chứ đâu phải là trường Early Childhood Education mà tại sao lại đầy các ‘đồ chơi’ lạ lùng này? ” Vừa nghĩ vậy, một người cười tươi như hoa bước vào phòng vẽ và tự giới thiệu:

–  Còn nhớ tôi không? Tôi là Tony Level đây! Tôi và ông đã gặp nhau rồi mà! 

Nói xong, ông cho tôi biết là trong mấy tháng hè trước đó, ông sắp loại cho các puzzles mà ông đã kiếm mua trong nhiều năm để ông  mang đi trình diễn trong mùa thu sắp đến. Không cần tôi hỏi, ông hăng say tháo bộ phận nọ, lắp bộ phận kia của một cái puzzle, các ngón tay ông di chuyển rất là nhẹ nhàng. Và ông đã xuất hiện nhiều lần trong Chương Trình Truyền Hình “It Stands to Reason” về puzzles và ảo thuật trong cuối thập niên 1970 tại Toronto. Centennial College cũng đã mời ông đi biểu diễn các màn ảo huật mỗi khi chúng tôi đi tới các trường Trung Học tại Scarborough để tuyển mộ học trò vào ngành Công Chánh và Kiến Trúc.

Trong 27 năm cùng dạy, Tony, Rick và tôi mỗi khi có thì giờ rảnh thường hay trao đổi ý kiến với nhau về các môn học trong phân khoa Kỹ Thuật và nhiều đề tài khác nhau. Mỗi lần  chúng tôi ” khám phá ” ra các … “nghệ thuật  cọp dê bài ” của sinh viên , chúng tôi thường phải trao đổi ý kiến với nhau ngay lập tức, sợ để lâu chúng tôi sẽ rơi vào “bẫy ” của học trò và đề tài này nó …  nguội  mất!  Một lần, Tony cười to và nói với tôi:

–  Này ông xem, kỳ này thế nào tôi cũng bắt được “quân gian” cho mà xem!  Học trò nó nhiều mánh khóe lắm! Tôi cho học trò thi môn “Open Book Test”, lời viết trong đề thi không có gì khác nhau hết, nhưng tôi đã đổi các con số! Học trò đâu có biết là tôi có bốn loại bài thi khác nhau vì mỗi loại có một con số khác nhau. Tôi có thể ngủ gật trong lớp, tha hồ cho các anh chị thao túng, nhưng các “quân gian” sẽ biết tay tôi!

Quả thực, đã có nhiều lần “kẻ cắp gặp bà già”  và những lần như vậy, Tony vui vẻ cho Rick và tôi xem các “chiến lợi phẩm” của ông và ông “than”:

– Chúng khinh thường tôi quá! Tôi phải làm cho chúng biết tay tôi!

Nói rồi, ông cười to, miệng mở đến ngang tai! Nhưng ông lại rất nhân từ với học trò, ông coi họ như con ông vậy. Ông chỉ thích “dọa” sinh viên mà thôi.

Trong mùa chấm thi, ban đêm Tony ở luôn tại trường để có nhiều chỗ mở các bản vẽ Địa Chánh (Surveying drawings) chấm cho dễ và chấm bài thi cho kịp thời hạn trước khi các giáo chức phải nộp điểm cho nhà trường. Khi chúng tôi vào trường ban sáng, lúc đó Tony về nhà ăn sáng và …đi ngủ! Có vài lần, ông không ngủ mấy hôm liền, để chấm bài cho kịp!

Rick là người Trung Hoa, sinh tại Trung Mỹ, nói tiếng Tầu không thông. Rick thích biểu diễn nấu ăn cho các đồng sự trong phòng Thí Nghiệm Vật Liệu (Materials Testing Lab.) do tôi trông coi.  Rick thường hay nấu ăn dùm Julie và ông rất lấy làm tự hào đã có … thâm niên trong nghề làm bếp tại gia, nhất là nấu cho vợ con ăn! 

Rick cũng thường hay táy máy với các puzzles của Tony và hai người bạn này có thể nói truyện với nhau  hàng giờ về đề tài puzzles này mặc dù là họ còn có nhiều việc khác phải làm!

Tony, Rick, tôi và một số đồng sự khác thường rủ nhau đi ăn những khi không phải dậy học hay đi họp. Chúng tôi đã “mạo hiểm” đủ các loại đồ ăn Ấn Độ, Nam Dương, Trung Mỹ, Mã Lai, Tầu, Việt, Nhật…chỉ trừ có món …”Nhựa Mận”  của người Việt nhà mình (tạm dịch là Authentic Vietnamese Hot Dog … cho nó “oai” )  là chúng tôi chưa “thử” mà thôi , vì ở đây không có món… tờ cây … cầy tơ)!

Có lần Rick đã nói với tôi:

–  Thú thực với ông là tôi thích đồ ăn Việt Nam hơn đồ ăn Tầu vì vừa ít mỡ lại vừa nhiều rau hơn! Nhờ ông kiếm giùm cái recipe làm chả giò nghe! Tôi muốn “biểu diễn” cho vợ con món ăn chả giò này ở nhà tôi!

Tôi cũng đã mời các đồng sự của tôi đi ăn phở và cả Rick lẫn Tony đều thích món Phở BòTái &Chín và Phở Gà (không có Trứng Non).

Trong những lúc gặp nhau, chúng tôi thường kể cho nhau nghe tin tức các học trò đã ra trường và như thường lệ bàn với  nhau về các tin tức chính trị, khoa học, tôn giáo, tin lá cải …

Đề tài về “Emotional Intelligence” (tạm dịch là Thông Minh Con Tim ) hay được phe đi ăn bàn đến, nhất là để áp dụng vào cho ban Giám Đốc nhà trường cũng như các sinh viên đã ra trường mà chúng tôi đã có dịp cùng dậy trong nhiều năm trước.

Người mà đã làm chuyển hướng nghề nghiệp và cuộc đời của tôi là ông John McKnight, Trưởng Phòng của ngành Công Chánh hồi đó. Chính ông là người đã cho tôi cái Job Interview và tôi không còn nhớ đã nói gì trong lúc ông phỏng vấn tôi, tôi chỉ cảm thấy là sau đó, cách nói truyện và đối sử của ông với tôi tựa hồ như có tình cha con vậy. Sau hơn một tiếng rưỡi riêng mình ông phỏng vấn tôi, ông mời tôi sang phòng bên cạnh để hai giáo sư khác – ông Tony Level và George Sand – phỏng vấn tiếp về các môn học và kinh nghiệm tôi đã thâu nhận được ở Úc.

Trước khi tôi ra về, ông nói với tôi

– Tôi sẽ lo thu xếp để phòng Tuyển Dụng làm thủ tục thâu nhận anh!

 Sau giờ tan sở, ông McKnight thường ở lại nói truyện với tôi về các kinh nghiệm nghề nghiệp của ông tại Canada, Mỹ và Brazil.

Ông rất giỏi về kỹ thuật, thẳng thắn nhưng rất nóng tính. Có vài lần ông nổi nóng với tôi, tôi nín giận, không trả lời. Một lần, đợi sáng hôm sau, tôi đến văn phòng ông trình bầy sự việc là tôi bị ông nổi nóng vô cớ.

–  Tôi  biết là anh còn trẻ, anh hơn con trai tôi có hai tuổi . Tôi chỉ muốn giúp anh mà thôi nhưng tôi lại quá nóng tính thành ra đôi lúc gây ra xích mích, xin anh đừng buồn nghe!

 –  Nhưng tại sao ông không dám đối chất với mấy ông đồng sự khác của tôi? Lỗi của họ, chứ đâu phải là lỗi tại tôi?

 Tôi lên tiếng.

–  Anh hãy còn trẻ và mới vào nghề, chắc anh chưa hiểu! Tôi muốn “mài dũa” anh để về sau này anh sẽ khá hơn nhiều! Tôi có nói với mấy ông kia mà họ không có nghe tôi!

Thú thực là đôi lúc tôi rất bất bình với ông nhưng tôi luôn luôn trọng ông về tuổi tác, kiến thức kỹ thuật và tôi biết ông không phải là một người xấu bụng. Cũng chỉ vì cái tính nóng nẩy này mà không những ông đã mất cơ hội trở thành Khoa Trưởng Phân Khoa Kỹ Thuật ( Dean of Faculty of Technology ), chức mà ông hằng mơ ước trước khi về hưu. Không nhừng như vậy, ông còn mất luôn cả chức Trưởng Phòng Công Chánh nữa.

Bây giờ, ở cái tuổi xế chiều, tôi hiểu được hậu ý của ông. Đã nhiều năm nay tôi đi kiếm ông để nói lời cám ơn nhưng tuyệt nhiên không ai biết ông ở đâu, còn sống hay đã chết!

Khi tôi mới bắt đầu làm việc, ông Khoa Trưởng Phân Khoa Kỹ Thuật đầu tiên, Frank Phillip, vừa mới về hưu nhưng ông còn ở lại làm việc trong trường để làm cố vấn cho phân khoa Kỹ Thuật trong một thời gian ngắn hạn. Tôi chỉ có cơ hội gặp ông một lần trước khi ông hoàn toàn mãn nhiệm với trường. Ông là một kỹ sư Điện, từng làm Vice President cho một công ty Điện Tử lớn tại Toronto trước khi trở thành một nhà mô phạm. Sau khi ông đã trên 85 tuổi, hàng năm ông đã thường trở lại nhà trường vào Đêm Phát Phần Thưởng cho các sinh viên ưu tú trong các phân khoa.

Chính ông đã trao tặng Giải Thưởng Frank Phillip dành riêng cho sinh viên xuất sắc đang học năm Thứ Ba trong ngành Điện hay Điện Tử. Tôi may mắn có cơ hội gặp lại ông trong những lần phát thưởng này và mỗi lần nói truyện với tôi, ông thường gọi tôi là Tanaka, tên một giáo sư gốc Nhật dậy ngành Kiến Trúc. Tôi lại phải tự giới thiệu lại tên mình và ông vui vẻ xin lỗi vì không còn nhớ được tên ai chính xác. 

Một lần, tôi hỏi ông:

 –  Thưa ông Phillip, thế ông có tin tức gì của ông John McKnight  không?

  Ông chậm rãi trả lời:

 –  Này anh à, ở cái tuổi trên 80 của chúng tôi, chúng tôi ít dám gọi điện thoại cho các bạn đồng trang lứa lắm. Nếu họ đã mất rồi, thì tôi biết nói gì với gia đình họ? Mà thực ra tôi cũng muốn biết tin tức của ông McKnight lắm, nhưng tuyệt nhiên ông ấy không hề liên lạc với bất cứ một đồng sự nào hết sau khi ông ấy về hưu. Thật đáng tiếc!

 Tôi còn có dịp gặp lại ông Phillip được hai, ba năm sau đó.  Ông mất năm 1997, hưởng thọ 93 tuổi. Ông Phillip là một người Tây Phương nhưng có một tinh thần Khổng Mạnh của người Đông Phương, khác hẳn với các Khoa Trưởng kế nghiệp ông sau này . 

Đầu tháng Năm, 1975 khi tôi đang nôn nao muốn biết gia đình đã có những ai đến được đảo Guam hay Camp Pendleton không thì vì lý do nghề nghiệp, tôi hay phải lui tới văn phòng ông Viện Trưởng (College President) Doug Beam. Ông thường hay hỏi thăm về gia đình tôi, nhất là cha tôi, lúc đó đã 80 tuổi và đang ở Camp Pendleton, Hoa Kỳ. Ông Beam đã từng làm Giáo Sư Đại Học , dậy  ngành Luyện Kim và làm Phó Viện Trưởng một trường Cao Đẳng Bách Khoa trước khi nhậm chức Viện Trưởng của trường chúng tôi. Tuy là một Kỹ Sư nhưng ông có khiếu ăn nói lưu loát và có duyên của một chính trị gia kiêm minh tinh màn bạc. Khi nghe ông nói truyện, không bao giờ chúng tôi phải ngủ gật vì cái tính hay khôi hài của ông. Trong những năm ông tại chức, College của chúng tôi phát triển rất nhanh và có tất cả hơn 80 ngành học khác nhau. Cũng vào thời gian này mà phân khoa chúng tôi được dọn sang một campus mới trang bị với các dụng cụ khá tối tân. Khi mãn nhiệm, ông trở thành Viện Trưởng của một College khác, chúng tôi ai nấy đều luyến tiếc ông. Mấy năm sau đó, ông bị ung thư phổi khi đang tại nhiệm. Khi ông còn chẩn bệnh trong nhà thương, nhiều nhân viên hai trường College viết thư thăm ông. Tôi báo tin cho ông biết là gia đình các anh chị em tôi đã an cư lạc nghiệp tại Canada và Hoa Kỳ. Chẳng bao lâu sau đó, ông mất. Riêng tôi, tôi rất tiếc thấy mất một người lãnh đạo giáo dục vừa có đức vừa có tài nhưng tôi tự nhủ là tôi đã có cái may mắn gặp những người xuất chúng như ông Doug Beam.

Chúng tôi còn có 15 hội viên của Hội Sổ Số 649, bắt đầu từ thập niên 80. Người chủ chốt của Hội này là ông Frank Isopo. Ông gốc người Ý, tốt nghiệp Tiến Sĩ Vật Lý tại Âu Châu khi tôi còn mới học Trung  Học. Đầu tháng , ông thường đi thâu tiền của chúng tôi để mua vé số.

Một lần tôi nói đùa:

–  Ông vừa thu tiền, đó là tiền mua sữa của con tôi đấy, ông biết chưa, Ông Bố Già (God Father) của tôi ơi!

 –  Thôi im đi , “you” , ” kid “!  “You” nói với con “You” là khi bọn mình trúng số, không những tha hồ chúng nó có sữa uống mà bố nó còn có Caviar để mà ăn nữa!  

    Ông trả đũa và đắc ý cười tít mắt, không quên gãi cái đầu không còn sợi tóc nào. Ông có thói quen hay gọi chúng tôi là “Kid “và hay “dạy” chúng tôi nếu không có thì giờ đi uống cà phê với ông:

–   Whatza matta with you? No cofee?

Sau khi ông về hưu được một năm, ông bị bệnh và mất rất lẹ trong nhà thương. Những lúc các hội viên Hội Sổ Số ngồi ăn trưa cùng nhau, chúng tôi thường hay nhắc đến ông và tôi có cảm tưởng là “Bố Già” Frank Isopo  đang hút thuốc lá và tươi cười nói với chúng tôi:

 –  Thôi im đi! Đưa cho ta tiền đi mua vé số, các “You”, “Kids”!  Whatza matta with you?

Tôi may mắn còn có dịp làm việc và truyện trò với nhiều đồng sự trong các phân khoa khác ngoài phân khoa Kỹ Thuật, nhất là sau 2 kỳ Giáo Chức Đình Công trong thập niên 80. Người đã mang lại cho tôi những kỷ niệm dịu hiền khó quên là Judy Evans, Thư Viện Trưởng của Campus nơi tôi dậy trong thập niên 80.

Judy có sắc diện của một phụ nữ Tây Phương và tính tình dịu dàng, hiền lành và đảm đang của một phụ nữ Việt Nam thuần túy. Tôi thường gặp Judy trong giờ ăn Lunch hay Coffee Break để bàn về ngân quỹ  dành cho các Sách Giáo Khoa cho ngành Công Chánh và Kiến Trúc.  Con trai út của tôi và con gái lớn của Judy sinh cùng năm nên chúng tôi thường có dịp trao đổi với nhau các diễn biến của hai đứa nhỏ. Rất tiếc là vì ngân sách eo hẹp của trường và các áp lực công vụ, Judy quyết định thôi việc và ở nhà nuôi con. Lâu lâu chúng tôi vẫn rủ nhau đi ăn trưa, trong đó có vài người bạn tromg thư viện của Judy.

Các đồng sự của tôi một số đã về hưu, một số đã qua đời khi về hưu hay tại nhiệm, một số đã đổi nghề bất đắc dĩ, số còn lại vẫn còn… kéo cầy như tôi.

Chúng tôi đã chung cư dưới một mái nhà: Mái Trường này.

Chúng tôi đã có một đại gia đình học trò nay đang rải rác trên thế giới. Mỗi ngành học trong các Phân Khoa, chúng tôi đã có sinh viên tốt nghiệp và đang hăng say làm việc. Những sinh viên này sẽ là những người tiếp tục truyền bá các kiến thức nghề nghiệp của từng Chương Trình học.

Đồng sự nhà giáo chúng tôi vẫn thường liên lạc với nhau qua điện thoại, email hay các cuộc gặp nhau ăn trưa, ăn tối. “Just a phone call away”, như người Âu Mỹ thường nói.

Với những người đã khuất bóng, tôi chưa mất họ, vì ở trong tôi, tôi còn giữ được những điều tôi học hỏi được ở họ và tôi còn tiếp tục truyền nối những điều này tới học trò của tôi.

Rồi tôi sẽ được thong thả về hưu và vĩnh viễn ra đi, đi về đâu  tôi chưa biết được. Chỉ biết là tôi đã và đang có một thời làm việc, vui nhiều hơn buồn với các đồng sự và học trò thuộc đủ loại mầu da và văn hóa khác nhau, dưới mái trường này. Và tôi biết chắc là các kiến thức nghề nghiệp sẽ còn được nối tiếp từ đời này, qua đời kia . 

Xin cám ơn đời, xin cám ơn Thượng Đế!

 Đàm Trung Phán

Mississauga, Canada

November 1999 / March 2020

GIÁNG SINH VÀ RÁNG CHỊU

Đàm Trung Phán

2006/2020

Ðã mười mấy năm qua, tôi lẩn trốn cái vụ đi mua đồ trong ngày “Boxing Day sale” tại Canada mà chắc chỉ dân “Cà Ná Ðiên” chúng tôi mới biết mà thôi.

Ðêm 24 tháng 12 các gia đình Canadian thường tổ chức bữa ăn cho mọi người trong gia đình gồm có ông, bà, cha, mẹ, con và cháu rồi tặng quà Giáng Sinh cho nhau; ngày này được gọi là Christmas Eve. Cuộc vui kéo dài cho tới đêm khuya và nhiều nhà đốt củi trong lò sưởi rồi nướng hạt dẻ, khoai lang hay kẹo marshmellow. Ba cha con chúng tôi đã từng thay phiên nhau mang củi vào nhà, nướng hạt dẻ, khoai lang và marshmellow rất là đầm ấm.

Ngày Giáng Sinh (Christmas day) là ngày thăm viếng, ăn uống với bạn bè, họ hàng và cũng là ngày “thu dọn chiến trường” các giấy gói quà, các hộp giấy đựng quà để mang ra trước nhà mà vứt rác, do đó mà có chữ “Boxing day”.

Sáng sớm ngày 26 tháng 12 (gọi là Boxing day), dân Canadian đi mua đồ đại hạ giá từ lúc 7, 8 giờ sáng, còn sớm hơn là ngày đi làm trong năm nữa vì họ có thể mua được những món hàng “on sale” rẻ được từ 30% đến 70% so với những ngày thường. Các nơi đậu xe (parking lots) trong những “shopping centres” không còn chỗ nào trống cho những ai đến trễ, xe cộ đi chậm như con ốc sên!

Tôi đã lẩn tránh cái vụ “Boxing day shopping” này, phần vì “người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ”, phần vì tôi rất ngán cái vụ kẹt xe nhất là vào những hôm trời đổ tuyết. Tuy nhiên, năm nay tôi “phá giới” vì muốn “đập cổ kính ra tìm lấy bóng” bằng cách lái xe đi shopping một mình. Trong thâm tâm, tôi muốn tự chính mình “sờ mó” được những những cảm giác mà đã làm tôi đau nhức nội tâm trong 12 cái “con giáp cuộc đời của tôi” vừa qua .

Đậu xe cách “shopping centre” nửa cây số, vừa để tôi tránh cái giao thông nhiêu khê trong bãi đậu xe, vừa để đi bộ và suy nghĩ vẩn vơ.

Năm ngoái, chúng tôi đón Giáng Sinh 2005 tại Hà Nội sau chuyến đi thăm Nam Ðịnh. Xe cộ chật ních trên các đường phố xung quanh Hồ Hoàn Kiếm. “Phái đoàn” chúng tôi trên xe bus gồm có 16 người. Ðiều đặc biệt nhất – có một không hai – là bác tài xế nhà ta dám lái giật lùi cái xe bus cỡ lớn trên con đường một chiều để tránh nạn kẹt xe!

Tôi có cảm giác rất là lạ lùng, vui buồn xáo trộn vì đây là lần đầu tiên tôi trở về Hà Nội sau 51 năm xa cách. Xe cộ ở Hà Nội đi bấm còi inh ỏi, chẳng biết còi nào bấm cho xe nào và đèn đỏ thì coi như đèn xanh, luật lệ chẳng giống ai!

Ðây cũng là năm thứ 7, sau khi đời tôi đã “rẽ bước sang ngang” và “tân chính phủ tại gia” với tôi sống “thuận buồm xuôi gió” với nhau. Trên xe bus lại toàn là những người thân nên tôi thầm nghĩ: “Thuyền mình đang tới bến!” (“Am I coming home at last ?”)

Giáng Sinh 2005, “phái đoàn” chúng tôi bay từ Hà Nội vào Huế. Huế đón chào chúng tôi bằng một … cơn mưa xứ Huế nhưng cơn mưa này chẳng làm tôi buồn vì “người vui, cảnh có buồn đâu bao giờ”!

Boxing Day 2005, chúng tôi mặc áo mưa để đi thăm các lăng tẩm tại Huế; tôi cảm thấy rất gần gũi, thân thương dường như tôi đã được trở về từ một cõi xa xăm nào đó. Ðây là lần đầu tiên tôi đưọc viếng thăm Huế.

Ở tuổi 12, tôi phải rời Hà Nội để di cư cùng gia đình vào Nam. Tại Saigon, vì còn nhỏ nên tôi chỉ biết có học và chẳng được đi thăm viếng nơi nào.

Mười chín tuổi, xuất ngoại và đi biền biệt luôn. Thế cho nên tôi có nỗi nhớ quê hương, nhớ văn hóa Việt Nam, nhớ da diết!

Mỗi nơi thăm viếng là tôi chụp hình lia lịa để ghi lại những hình ảnh quê hương. Tôi đã chụp trên dưới 13,000 tấm hình từ Bắc vào Nam và trong những đêm khuya tại Canada, tôi thường mở các hình ảnh Việt Nam chứa đựng trong computer để gợi nhớ lại những nơi mà chúng tôi đã ghé thăm trong chuyến viễn du đó.

Trong bốn năm vừa qua, vợ chồng chúng tôi đã “bỏ xứ Ðiên để tránh nàng Tuyết” mà đi chơi xa trong dịp Giáng Sinh và Năm Mới. Năm nay, chúng tôi không đi đâu hết để mà “vui thú cạo Tuyết, trượt chân”, những mong được ở gần cháu nội và cháu ngoại. Cứ nghĩ đến các cháu là “ông” thấy vui rồi, thây kệ trời tuyết và cái giá lạnh của Canada!

Giáng Sinh 12 năm về trước, đời tôi  đã đi qua cơn bão nội tâm, cơn bão hoành hành công ăn việc làm lẫn đời sống gia đình của tôi. Tôi quyết định đón Giáng Sinh 1994 trong một cái apartment mới luých hoàn toàn chỉ có một mình tôi để xem tôi có những cảm giác gì. Mặc dù là đã “có chương trình đặc biệt về computer” để cho tôi mải miết theo dõi nhưng tôi không tại nào tránh được cái cảm giác đơn độc đến hãi hùng vì đây là năm đầu tiên tôi phải sống ly thân một mình và là lần đầu tiên không “được” ở gần hai con trai trong ngày quan trọng nhất trong năm. Ngày hôm sau (Christmas Day 1994), tôi bay ngay sang Texas để gặp lại các anh chị em cho đỡ buồn.

Trong năm 1994, vì ngân sách cắt giảm, nhà trường bắt đầu sửa soạn đóng cửa bộ môn Công Chánh mà chính tôi đã gây dựng nó trong nhiều năm trước đó. Mặc dù là tôi đã may mắn không bị mất việc như một số đồng sự khác, nhưng tôi lại cảm thấy như mình đã mất đi một phần đời: đứa con tinh thần của tôi đã chết (My “baby project” has died unwillingly)!

Trong thời kỳ này, đời sống gia đình của tôi cũng chẳng còn có thể hàn gắn gì được nữa. Tôi đã cố gắng hết sức rồi!

“Thôi thì thôi nhé … có ngần ấy thôi”! Gone with the wind! Let it be!

Giờ đây nhìn lại, Út của tôi đã ra trường và trở thành một ký giả đang làm việc tại New York. Tôi mỉm cười vu vơ; Út đã thực sự trưởng thành, không hề bị vấp ngã vì sự đổ vỡ của bố mẹ. Cái “baby project” của tôi đã được “mồ yên mả đẹp” kể từ năm 1996. Sau đó tôi đã có “cơ ngơi” mới ở trong trường, không đến nỗi “tệ” như mình tưởng và tôi đã được về hưu non theo ý mình muốn  vào năm 2002. Công ăn việc làm và đời sống gia đình đã được quân bình trở lạị, các con của chúng tôi đã có công ăn việc làm và lập gia đình, thế là tôi đã được “tái sinh” rồi!

Thôi thì ráng chịu mà sống nốt với cuộc đời còn lại để mà chúng tôi có được những Giáng Sinh vui vẻ, bình an với gia đình mới gồm có ông bà và các con, các cháu.

Hy vọng rằng Giáng Sinh 40, 50 năm về sau này của tôi sẽ không có giống như cái “con ngựa bất kham” nữa vì cái Nghiệp Trần Gian của tôi đã được trả xong (My “Earth planet” assignment is terminated as planned!) và tôi có thể sẽ vĩnh viễn “về hưu” với Cõi Trần giống như tôi đang sống đời hưu trí với cái nghề và nghiệp bây giờ của tôi vậy!

Thực sự tôi đang sống hay đang mơ ngủ đây?

Ðàm Trung Phán

Dec.26, 2006 / March 2020

Canada

THÁNG CHÍN VÀ CHA TÔI

PAPA -2001 Fall 2

Ðể tưởng nhớ thân phụ của anh chị em chúng tôi

Ðàm Trung Pháp
Ðàm Trung Phán

2004/2013/2020

Lời nói đầu:

Bài viết này ra mắt Quý Vị độc giả vào năm 2004, sửa lại vào năm 2013 và lần này sửa lại (re-edited) vào năm 2020 với phần

GIẢO-ÐÍNH VÀ TƯỜNG-GIẢI truyện Kiều được GS Đàm Trung Pháp (con trai thứ của cụ Đàm Duy Tạo) đưa lên Viethocjournal.com:

http://viethocjournal.com/category/kim-van-kieu-dinh-giai/kim-van-kieu-dinh-giai-kim-van-kieu-dinh-giai/

Kính mời Quý độc giả bấm nút vào nghe Hồng Vân diễn ngâm bài thơ “Cha Con” của Đàm Trung Phán trong link dưới đây:

https://nguyendamduytrung.wordpress.com/2012/02/13/cha-con/

Xin mời đọc:

Sáng nay, khi thức dậy, tôi chợt cảm thấy lành lạnh. Cái lạnh từ ngọn gió thổi qua cửa sổ vào nhà. Dụi mắt, nhìn cái hàn thử biểu thấy 12 độ C, tôi thầm nghĩ:

– Nàng Thu thực sự đến rồi!

Tôi định bụng sẽ ra khỏi nhà ngay để đi bộ ra cái park gần nhà với ý định vừa tập thể dục và vừa để chụp hình lá vàng rồi “ngồi trên ghế gỗ công viên” mà viết bài.

Tôi muốn tránh những cú phôn, tôi cũng muốn tạm lánh cái computer để mà được thực sự đối diện với con người tôi và lật trang nhật ký cuộc đời để tìm kiếm lại những hình ảnh về cha tôi và những cảm xúc đã từng làm tôi vui buồn lẫn lộn trong nhiều năm qua.

Nhiều người xung quanh thường có bà mẹ già sống ở một nơi chốn xa xôi nào đó để mà thương, mà nhớ. Riêng anh chị em chúng tôi không có cái “may mắn” đó vì chúng tôi đã phải mất mẹ từ lâu lắm rồi, khi chúng tôi còn nhỏ dại. Mất mẹ, ba anh em trai nhỏ tuổi nhất trong gia đình chúng tôi sống với bố. Chúng tôi được cụ dậy dỗ trong tinh thần Khổng giáo. Nhưng cảnh “gà trống nuôi con” cũng có những cái thiếu sót của nó: ba anh em chúng tôi và ngay cả thân phụ chúng tôi có nhiều lúc thấy trống vắng nội tâm. Ðiều này, khi chúng tôi còn nhỏ, cụ không hề nói ra, chỉ khi tất cả các anh chị em tôi đã có gia đình, lâu lâu cụ mới “tiết lộ” cho chúng tôi hay:

– Ta sống đủ rồi, tất cả các anh chị em tụi bay đã khôn lớn và có gia đình. Ta sống cũng bằng thừa, xin ông Trời cho ta được đi sớm, thế là vui rồi!

Ðã nhiều lần, tôi đã định viết một bài về thân phụ chúng tôi, nhưng cứ mỗi lần đặt bút xuống, tự nhiên tôi thấy rất khó viết vì chúng tôi đã được cụ dậy bảo là sống phải nghiêm túc, cứng cỏi và không để lộ phần tình cảm. Tôi bàn với anh Ðàm Trung Pháp, anh ruột của tôi, là tôi “có nên viết về Cụ” hay không, anh ấy góp ý liền:

– Thì Phán cứ viết đi, anh sẽ viết thêm những phần nào Phán viết còn thiếu. Hai đứa tụi mình viết dùm cho tất cả các anh chị em mình để tưởng nhớ về cụ, OK?

Hôm nay, tôi “phá lệ” và viết đại vì biết đâu đấy, ngày mai, vì một lý lẽ gì đó, mình không còn có thể viết ra được nữa thì sao?

Và nếu mai này, tôi không còn khả năng viết lách và nhớ lại những gì mà tôi muốn viết, tôi sẽ hối hận là chưa viết ra những gì mà các anh chị em chúng tôi vẫn hằng tưởng nhớ và hay nhắc nhau về cụ.

Bạn bè cùng trang lứa với tôi, cả nam lẫn nữ, thường hay nói với nhau:

– Bọn mình thuộc vào “thế hệ sandwich”!

Có nghĩa là thế hệ của chúng tôi bị kẹp giữa hai thế hệ cha mẹ và thế hệ con cái.

 Thế hệ chúng tôi đã bị đảo lộn giữa hai nền văn hóa Ðông và Tây. Hai thế hệ (ông bà và các cháu) thật là khác biệt và đôi lúc cũng rất khác biệt với thế hệ của chúng tôi nữa, ấy vậy mà thế hệ chúng tôi phải đóng vai của “thế hệ sen kẽ” (sandwich generation) để móc nối thế hệ ông bà và thế hệ con cháu với nhau.

Những lúc tĩnh lặng, một mình trong đêm khuya hay khi đi bộ dọc theo bờ hồ, ngoài park, nghĩ về thế hệ cha mẹ của chúng tôi, tôi chỉ thấy thương cảm mà thôi.

Cha tôi “sinh bất phùng thời” và mẹ tôi đã luôn luôn phải đầu tắt mặt tối và lo âu. Hoàn cảnh gia đình của ông nội tôi đã không thể giúp cha tôi được đi học như ý muốn. Theo Nho học thì đã lỗi thời, theo Tây học và chữ quốc ngữ thì đã “hơi già”. Cụ phải tự học để trở thành một ông giáo trường làng tại Phúc Yên, Bắc Việt. Tuy chỉ tự học trong vài năm thôi, tiếng Pháp của cụ vững lắm, nhất là về văn viết. Cụ dậy học rất nghiêm trang và kỹ lưỡng, học trò ai cũng kính phục. Quê nội tôi tại Bắc Ninh cho nên cha tôi phải đạp xe đạp đi đi về về, mỗi tuần ít nhất một lần, giữa Bắc Ninh và Phúc Yên, có khi phải đi ban đêm nữa. Mẹ tôi ở nhà tại Bắc Ninh để thuê người làm ruộng và chăm nom đàn con còn nhỏ dại.

Cha tôi có rất nhiều sách chữ Nho, chữ Nôm, chữ Tây, chữ Quốc Ngữ. Thuở còn bé tí teo, thú vui của tôi là lấy sách chữ Nho của bố ra làm đồ chơi vì tôi thích lấy ra và bỏ vào những tờ lá khô được ép giữa các trang sách. Cha tôi chỉ vui vẻ nhìn tôi và không hề la mắng tôi. Tôi cũng rất thích dở các sách chữ Tây ra để mà xem hình, chữ nghĩa lúc đó thì chưa biết một tí gì! Nạn lụt năm Ất Dậu 1945 đã làm hư hại nhiều sách của cụ và cụ đã phải tốn nhiều thì giờ để “chữa bệnh” cho từng cuốn sách.

Cha tôi lập gia đình sớm, và vài năm sau khi có con trai đầu lòng thì cha tôi góa vợ. Cha tôi “đi thêm bước nữa” khi lấy mẹ chúng tôi, và hai cụ có thêm bốn trai và một gái. Anh cả của chúng tôi được gửi lên Hà Nội để học trường Bưởi và được hai cụ cưới vợ cho theo phong tục Việt Nam. Chị gái duy nhất của chúng tôi, cũng “được” theo phong tục Việt Nam hồi bấy giờ: chị không được cha mẹ cho đi học lên cao và bắt buộc phải ở nhà để trông nom các em trai và công việc đồng áng. Tới tuổi khôn lớn, các em trai của chị rất thương cảm vì chị sinh vào thời buổi và xã hội với quan niệm “cho con gái đi học để chúng viết thư cho trai và về làm dâu người ta, phí của”!

Khi anh em trai chúng tôi còn trẻ, nhiều lần, chị tức khí và la chúng tôi:

– Chỉ vì tụi mày mà tao phải ở nhà và không được đi học!

Tôi “hứng chí” trả lời chị:

– Ði học để chị viết thư cho trai ấy à!?

Nói xong, tôi chạy cho lẹ, nhưng nếu lỡ mà chị tóm được thì cũng chỉ ăn vài cái củng đầu mà thôi! Bây giờ, chúng tôi đã ở tuổi có con, có cháu, mỗi khi nhắc đên truyện xưa, tích cũ, chúng tôi, nhất là chị chỉ bò lăn ra mà cười với nhau cho … huề cả làng.

Sau khi em trai út của chúng tôi sinh ra được ít lâu, chiến tranh giữa Việt Minh và Pháp lan tràn đến làng quê của gia đình chúng tôi tại Bắc Ninh, và cha tôi phải mang anh chị em chúng tôi chạy loạn trên Thái Nguyên. Mẹ tôi và em út phải ở lại nhà vì sức khỏe không cho phép. Chạy loạn thì phải chạy ban đêm vì ban ngày, máy bay của Tây trông thấy sẽ bắn chết. Tôi rất buồn ngủ và đói bụng và nhiều lúc ngỗ nghịch tôi đã chu chéo lên:

– Con không thèm đi chạy loạn nữa đâu, Bố ơi!

Tội nghiệp, thế là cha tôi phải cõng tôi mà đi, nếu không cả gia đình chạy loạn sẽ bị nguỵ đến tính mạng. Bây giờ, mỗi khi nhớ lại chuyên xưa, tôi thấy thương cha mẹ vô cùng.

 Những hình ảnh và tình cảm này vẫn còn được “stored” trong cái “memory card” của đầu óc tôi:

Tôi vẫn trôi theo giòng định mệnh,
Hàng triệu người, sao chỉ thấy mình tôi?
Tôi sinh ra giữa lúc bom đạn ngang trời,
Người nằm xuống vì bom rơi, vì nạn đói!
Những đêm tối, theo cha tôi đi chạy loạn
Mẹ ở lại nhà vì vướng bận em thơ.
Buổi tối đói, tôi mong mỏi đợi chờ
Hình bóng Mẹ và im lìm tiếng súng.

Sau lúc tản cư này, chính tay cụ đã viết chữ bằng bút chì và hai anh em chúng tôi (Pháp, Phán) phải “đồ” (tô) lại bằng bút mực cho đúng nét chữ. Chúng tôi phải viết đâu ra đó, nếu không sẽ bị “thước kẻ đánh vào tay!” Ngoài môn toán đố, cụ còn dậy kèm chúng tôi môn Pháp văn, cụ bắt đọc to và thật rõ từng chữ một. Những năm về sau, khi toàn gia đình chúng tôi đã được đoàn tụ tại Hà Nội, cụ thường đọc “dictée” cho hai anh em chúng tôi viết.

Gia đình chúng tôi được thực sự sống quây quần hạnh phúc tại Hà Nội từ 1952 đến 1954. Di cư vào trong Nam, cha mẹ tôi hầu như tay trắng vì tất cả nhà cửa, ruộng vườn đã để lại ngoài Bắc hết. Năm 1955, thân mẫu của chúng tôi đột ngột qua đời tại Saigon khi mới 50 tuổi. Anh cả của chúng tôi đã có gia đình và ra ở riêng từ lâu. Chị lớn của chúng tôi phải đi làm tại lục tỉnh để kiếm tiền phụ giúp cho cụ. Anh thứ của chúng tôi được học bổng học Nông-Lâm-Mục tại Bảo Lộc. Cha tôi bắt buộc phải trở thành “gà trống nuôi con” chăm nom cho ba anh em trai út chúng tôi tại Saigon.

Sau khi thân phụ chúng tôi không còn dậy tại trường Tiểu học Phú Nhuận nữa, cụ được mời dậy Hán văn tại trường Trung học Gia Long vào năm 1957 cũng như dịch sách chữ Hán sang chữ Quốc Ngữ cho Sở Tu Thư thuộc Bộ Giáo Dục trong những năm kế tiếp.

Cụ luôn luôn mặc quần áo ta rất chỉnh tề mỗi khi đi dậy học hay khi ra phố. Mỗi buổi tối, sau khi ăn cơm xong, cụ huấn luyện cho ba anh em trai chúng tôi ngồi xuống bàn mà học và Cụ thường kèm thêm Pháp văn và Việt văn cho chúng tôi. Cụ còn thuê thợ đóng một cái bảng đen thật dài để cho chúng tôi giải những bài toán và vẽ hình.

Trong thâm tâm, cụ luôn luôn mong ước cho các con cháu của cụ biết trọng sự học, phải học hành cho đến nơi đến chốn, và nhất là phải biết trọng luân thường, đạo lý.

Mấy năm trước đây, một chị bạn của chúng tôi ngày xưa học trường Gia Long đã cho tôi xem một bức hình chụp chung của các giáo sư dậy trong trường Gia Long hồi cuối thập niên 50. Trong hình, tôi nhận ra ngay một giáo sư khăn đóng, áo dài: vị này chính là cố giáo sư Ðàm Duy Tạo, thân phụ của chúng tôi! Tôi thấy bàng hoàng và sững sờ: cả một thời “hoa bướm ngày xưa” hiện ra trước mắt!

Hồi đó một số nữ sinh Gia Long đã hay đến thăm ông thầy dậy môn Hán văn tại căn nhà chúng tôi. Cỡ tuổi của họ so với anh Pháp và tôi cũng chỉ “xêm xêm” với nhau mà thôi! Tự nhiên tôi thấy tôi trở về với căn nhà của gia đình chúng tôi tại đường Yên Ðổ với cái bảng đen rất dài trong phòng ngoài và thân phụ chúng tôi đang ngồi đọc “chữ Tây” hay chữ Nho. Thế rồi anh Pháp và tôi đi du học, căn nhà nay chỉ còn có cha tôi sống lủi thủi với chú em út mới vừa lên trung học. Những hình ảnh này không làm sao tôi quên được, để rồi sau khi tôi đã 50 tuổi, trong lúc ngồi chấm bài trước bàn thờ của cha mẹ chúng tôi, tôi đã ghi lại những giòng thơ dưới đây:

Con còn nhớ …
Năm con mười ba tuổi
Một đêm Trung Thu
Bất thần Mẹ ra đi vĩnh cửu
Bố gánh chịu thân gà trống nuôi con!
Mười chín tuổi, con ra đi
Máy bay cất cánh
Bố ở lại…
Bạn đời với văn chương chữ nghĩa,
Bần thần thương nhớ con trai.
Vì tương lai, sự nghiệp
Hay vì con vướng mộng giang hồ?

Cụ không hề tục huyền. Sau khi anh Pháp và tôi đã xuất ngoại, Cụ chỉ ước nguyện còn được sống thêm vài năm để trông nom cho chú em út của chúng tôi tốt nghiệp đại học, thế là cụ mãn nguyện lắm rồi!


Cụ viết thư đều đặn cho tôi và có một lần, cụ đã viết cho tôi:

“Nếu Bố giầu có, Bố đâu muốn để hai đứa phải đi du học xa nhà vì Bố nhớ hai đứa lắm!” Ðêm hôm đó, tôi lang thang ra bờ biển ngắm về phương trời quê hương xa vời vợi nơi nào để nhớ về cha tôi.

Năm 1965, tôi được chính phủ Úc cho vé máy bay về thăm gia đình nhưng chính thân phụ tôi đã gửi điện tín sang khuyên tôi không nên về vì cụ sợ tôi sẽ bị kẹt lại Việt Nam vì những “coups d’etat” bất tử. Sau biến cố Mậu Thân 1968, cụ cũng đã khuyên tôi nên ở lại ngoại quốc mặc dù cụ cũng rất muốn gặp lại tôi.

Rồi tôi đi biền biệt sang lập nghiệp tại Canada và không còn hy vọng gì để gặp lại cha già và các anh chị em của tôi nữa. Tới tuổi “tri thiên mệnh” tôi mới thấu hiểu được những cái nhọc nhằn, đơn độc của kiếp “gà trống nuôi con” và những hy sinh gan dạ của cụ chỉ vì cụ thực sự mong mỏi cho tôi được sống an bình tại ngoại quốc trong khi đó hàng ngày cụ vẫn mong thư của tôi gửi về:

Cuộc đời ra sao?
Con đi vào một thế giới khác

Không người thân bên cạnh.
Bố ở nhà canh cánh mong con,
Đời thiếu vuông tròn!

Trong niềm đau thương của đất nước, tôi gặp lại được cha già, anh em trong lúc mất nước nhà tan vào hồi tháng Sáu, 1975. Lúc này, cụ đã gần 80 tuổi. Hồi nhỏ, tôi không hề thấy cha tôi khóc, nhưng lần này, cụ đã thật sự khóc, khóc thương đất nước rơi vào tay cộng sản, khóc thương cho các con cháu của cụ còn kẹt lại bên Việt Nam .

Sau khi các anh chị em chúng tôi đã được sống ổn định tại Hoa Kỳ và Canada, cụ đã mừng rỡ thấy anh Pháp và tôi trở thành hai nhà giáo theo truyền thống của gia đình họ nội. Cụ thường hỏi thăm tôi về công việc nhà trường của tôi. Cụ chẳng đòi hỏi gì, có chăng chỉ là:

– Nếu có thể được, nhớ mua cho Bố mấy cuốn sách chữ Hán và nhất là cuốn tự vị chữ Hán và tiếng Pháp, nghe con!

Tôi lên phố Tầu mua biếu cụ một bộ tự điển chữ Hán sau khi cụ đã viết tên bằng chữ Hán cho tôi. Có lần tôi phải đợi họ đặt mua từ bên Hồng Kông dùm cho cụ. Một lần tôi thấy một cuốn báo chữ Tầu có nhiều hình ảnh đẹp, tôi hí hửng mua về tặng cụ với niềm vui thú như ngày xưa tôi đã “mong mẹ về chợ” để có quà vậy! Ngày hôm sau, cụ tặc lưỡi và nói với tôi:

– Người Tầu bây giờ họ “lãng mạn“thật! Ai lại trai gái mới quen nhau mà chưa chi đã nhẩy lên giường liền! Thật chẳng còn có cái lễ nghĩa gì cả!

Tôi phải quay mặt ra chỗ khác mà phì cười. Chẳng qua chỉ là vì tại tôi không biết chữ Hán mà vớ đại ngay phải một cuốn báo “porno” của dân Hồng Kông!

Khi cụ đã gần cửu tuần, sức khỏe sa sút, anh Pháp tôi từ Texas lên thăm cụ tại Montreal, Canada. Anh tôi có xin cụ một đôi câu đối để treo trong phòng làm việc. Cụ vui vẻ tự mài mực Tầu, cắt hai miếng giấy đỏ dài, miệng lẩm bẩm những lời sắp viết. Tay trái cầm kính “lúp” và tay phải cụ xoay xoay ngọn bút lông ưng ý nhất. Cụ viết chậm lắm và nét bút đã run nhiều. Cụ viết cho anh tôi đôi câu đối lấy từ một bài thơ của Trình Hiệu đời nhà Tống:

Vạn vật tĩnh quan giai tự đắc
Tứ thời giai hứng dữ nhân đồng

Ý nghĩa rất hiền hòa, nhân ái: hãy bình thản quan sát để mà thấy mọi vật đều tự đâu vào đó, và trong khắp bốn mùa hãy tìm hứng thú mà giao hảo với tha nhân. Ðó cũng chính là lối sống trong suốt cuộc đời của cụ, một nhà nho can đảm, bình thản đã chấp nhận cuộc đời mà mệnh Trời đã định.

Giờ đây, tuy thân xác của cụ không còn nữa nhưng cụ vẫn còn sống ngay trên các ngón tay của chúng tôi: những giòng chữ viết của tất cả các anh chị em chúng tôi đều từa tựa giống như chữ cụ đã viết vì chính cụ đã đích thân viết bằng bút chì để cho chúng tôi đồ lại khi anh chị em chúng tôi mới tập viết chữ!

Cụ đã không để lại cho chúng tôi tiền bạc nhưng cái di sản quý báu nhất của Cụ để lại cho anh chị em chúng tôi và cháu, chắt của cụ, đó là chúng tôi sống thuận hòa với nhau, trọng sự hiếu nghĩa, trọng sự học hành cho đến nơi đến chốn và cố gắng làm sao sống cho hợp với đạo làm người.

Lâu lâu, tôi vẫn thường gặp cụ trong những giấc mơ. Cụ trông tuy rất già nhưng vẫn còn khỏe mạnh. Khi tôi gặp khó khăn trong những giấc mơ, cụ luôn luôn tự nhiên xuất hiện bên cạnh tôi như để chia sẻ và giúp đỡ cho tôi qua khỏi những giây phút căng thẳng trong đời sống. Cụ sống trong tâm tưởng của tôi và tôi thấy rất nhẹ nhàng và thương yêu mỗi lần tôi nghĩ tới cụ.

Mùa Thu năm 2013, để tưởng nhớ đến Cụ, anh chị em chúng tôi xin kính mời Quý Vị vào đọc:

TRUYỆN KIM-VÂN-KIỀU
ÐÀM DUY TẠO
GIẢO-ÐÍNH VÀ TƯỜNG-GIẢI


trong blog dưới đây:

http://kimvankieu.wordpress.com/

MỘT TRONG NHỮNG BÀI THƠ “FABLES DE LA FONTAINED” mà Cụ đã chuyển ngữ sang tiếng Việt khi Cụ đang định cư tại Toronto và Montreal, Canada:

https://damtrungphan.wordpress.com/2013/03/12/tho-ngu-ngon-la-fontaine-va-than-phu-chung-toi/

Đại gia đình hội ngộ tại Dallas với, các con, cháu, chắt và bạn hữu vào cuối tháng 8, 2013 để tưởng nhớ đến Cụ Đàm Duy Tạo và xum họp với nhau trong đời hưu trí của anh-chị-em chúng tôi.

Ðàm Trung Phán

Đàm Trung Pháp

Tháng Chín 2004 / 2013/ Feb. 2020
Mississauga, Canada

NHỮNG CÁI TẾT LY HƯƠNG

Ðàm Trung Phán

1998 /2020

Tôi đã xa quê hương 36 năm, tóc đã đổi màu và… thuyền muốn trở về bến cũ, mặc kệ dòng nước lũ cuộc đời.

Ngược dòng thời gian, tôi mong tìm lại những nguồn tình cảm thân thương, những kỷ niệm ấu thơ còn nhạt nhoà trong ký ức.

Tôi học xong trung học vào mùa hè 1960, năm cuối tôi học Đệ Nhất Chu Văn An tại Saigòn.Tuổi trẻ, tôi mơ ước được đi du lịch, giang hồ mạo hiểm. Tôi thích cuộc sống tự lập, xa gia đình. May mắn thay, tôi được học bổng du học ngành kỹ sư ở Úc, sau một cuộc thi tuyển khá gay go. Học ngành Kỹ Sư mà suốt bẩy năm trung học tôi chưa hề nghĩ tới.  Trong thời gian chờ đợi, tôi đã đếm từng ngày để được xuất ngoại, nôn nóng xem xứ lạ quê người.  Nhưng số bị “tuần triệt”, bị sao quả tạ chiếu, vì trong năm 1961, sau khi dinh Độc Lập bị bỏ bom, cụ Diệm không cho phép một ai xuất ngoại du học.  Trình trạng của tôi thật như người ngồi trên đống lửa.

Ở hiền gặp lành, cuối cùng rồi trời cũng thương, tôi được xuất ngoại du học vào cuối năm 1961. Cái Tết xa nhà đầu tiên của nhóm sinh viên du học tụi tôi là ở thành phố Sydney vào đầu năm 1962. Cả thành phố Sydney đất rộng, người đông đó chỉ vỏn vẹn có chừng 15 sinh viên Việt Nam.  Tuy nhiên, chúng tôi cũng tổ chức Tết.  Hai anh bạn và tôi đi xe bus lên phố tầu mua xắm thực phẩm Á động.  Muốn có hương vị Tết Việt Nam thì phải có bánh chưng, dưa hành, hạt dưa đỏ… Nhưng hồi đó ở Sydney, kiếm đâu ra những thứ đó, không như bây giờ, thực phẩm Á đông nào cũng có, thật ê hề. Không có bánh chưng, dưa hành, chúng tôi đành tưởng tượng cho đỡ thèm. Chúng tôi ca hát những bản nhạc xuân quê hương, rồi kéo nhau đi ăn cơm Tầu cho đến khuya.

Rời nhà người bạn, tôi kiếm xe bus lên đồi Bellevue Hill nhìn xuống thành phố Sydney. Trong cái khí lạnh của ban đêm, và nhìn những ngọn đèn vàng phía dưới, tự nhiên nhớ nhà chi lạ! Tôi hình dung ra hình ảnh cha tôi đang khăn đóng áo dài đứng lễ trước bàn thờ tổ tiên. Mẹ tôi đã qua đời vào năm 1955, một năm sau khi gia đình tôi tay trắng di cư vào Saigòn. Cha tôi, trong cảnh gà trống nuôi con, chăm sóc cho ba anh em tôi còn nhỏ dại. Lúc đó, ở Việt Nam, chỉ có cha tôi và một em trai 13 tuổi đang sống với nhau. Còn anh tôi, hơn tôi một tuổi, và tôi, mỗi đứa ở một bán cầu xa lạ: Mỹ châu và Úc châu.

Những ngọn đèn vàng lấp lánh dưới chân đồi đưa tôi về dĩ vãng của những năm nhỏ dại. Quê tôi tại Bắc Ninh, mẹ tôi là người con gái Nội Duệ:

Trai Cồng Vồng Yên Thế

Gái Nội Duệ Cầu Lim

Tôi còn nhớ mang máng những ngày hạnh phúc nhất của gia đình.  Những đêm trước Tết, bố mẹ chúng tôi gói bánh chưng ở làng quê. Tôi cố thức để coi nồi bánh chưng và canh trộm trong những ngày tháng “củ mật” cùng với người lớn. Rồi lăn ra ngủ lúc nào không hay.  Sáng mồng một Tết, mẹ bắt chúng tôi ăn mặc đàng hoàng để đi chào họ hàng, để được mở hàng và đánh tam cúc cùng với gia đình. Tôi cũng còn lờ mờ nhớ được những đêm sáng trăng, những người thợ gặt vừa đập lúa, vừa hát đố với nhau.

Ngày vui qua mau!  Chiến tranh lan tràn đến làng, tôi theo cha đi chạy loạn, mẹ tôi phải ở lại nhà vì mới sinh em trai. Tôi bắt đầu hiểu biết thế nào là ly tán. Hơn 40 năm về sau, tôi đã ghi lại những hình ảnh đó qua những vần thơ mộc mạc:

Tôi sinh ra giữa lúc bom đạn ngang trời,

Người nằm xuống vì bom rơi, vì nạn đói.

Những đêm tối, theo cha tôi đi chạy loạn,

Mẹ ở lại nhà vì vướng bận em thơ.

Buổi tối đói, tôi mong mỏi đợi chờ,

Hình bóng mẹ và im lìm tiếng súng!

Rồi cha tôi bị Tây bắt đi tù, sau đó được thả tù và đi dậy học ở Phúc Yên.  Anh em tôi theo cha đi học, lại phải xa mẹ, vì mẹ tôi phải ở lại quê trông nhà cửa, ruộng vườn. Lúc đó, chúng tôi, đứa 9 tuổi, đứa 8 tuổi. Có những buổi chiều, hai anh em tôi leo lên thang gác của những nhà bị bom ném xập, đứng ngó những xe “ca” từ Hà Nội lên Phúc Yên, hy vọng trong xe có mẹ lên thăm. Cuối cùng, gia đình tôi được đoàn tụ tại Hà Nội vào năm 1952.

 Căn nhà của cha mẹ chúng tôi ở sát hồ Bẩy Mẫu và tôi học trường Đỗ Hữu Vị.  Đường từ nhà tới trường rất xa, nhưng tôi không giám đi tầu điện vì người anh họ của tôi có tính “yiêng hùng” hay thích đánh lộn với những học sinh khác cùng đi một chuyến tầu điện với tụi tội, thành thử tôi phải cuốc bộ từ 5 giờ rưỡi sáng.  Trên lộ trình, tôi chỉ còn nhớ mang máng những “villa” rất thơ mộng và những cái lạnh buổi sớm mai của Hà Nội.

Những ngày gần Tết, tôi xin phép bố mẹ cho tôi ghé qua chợ Đồng Xuân xem chợ hoa sau giờ hoc.  Tôi bắt đầu mê hoa từ đó.  Về sau, trong những năm trung học, tôi đọc đi đọc lại cuốn “Gánh Hàng Hoa” và giờ đây, ở tuổi ngũ tuần, tôi thích trồng phong lan để sống lại những kỷ niệm của tuổi ấu thơ. Những ngày đầu năm, đi lễ đền Ngọc Sơn với mẹ, đội mũ “bê rê”, mặc “blouson” đi chợ phiên cạnh hồ Hoàn Kiếm, tôi chẳng thấy lạnh là gì!  Cuộc sống thật êm đềm như một bài thơ.

Nhưng cuộc đời vô thường đầy biến đổi, hiệp nghị Genevè chia đôi đất nước được ký kết, gia đình tôi di cư vào Nam vào tháng 8 năm 1954.  Đấy là lần đầu tiên trong đời tôi được đi máy bạy.  Giờ đây, mỗi lần đi máy bay, tôi đều có cảm nghĩ mất mát, xa vắng:

Phi cơ đem đến chờ mong,

Bay đi biền biệt ai lòng  buồn ai!

Sung sướng nhất là những năm 57, 58 khi tôi còn học trường Trần Luc.  Trước khi nghỉ Tết, trường tổ chức đi xe lửa lên Biên Hoà xem các vườn cây ăn trái. Cùng đi trong toa xe, tôi nhớ nhất là thầy Doãn Quốc Sĩ, mà tôi thương mến từ năm Đệ Lục, Đệ Ngũ.  Thầy đã dậy cả hai anh em chúng tôi môn Việt Vặn. Chính nhờ thầy mà tôi thích Việt Vặn từ hồi đó.

Nhắc đến cái Tết tha hương đầu tiên luôn luôn làm tôi xúc động, vì hình như nó đánh dấu khúc quanh quan trọng nhất của cuộc đời tôi? Trước Tết năm 1964 tại Sydney, tôi đã dành dụm đủ tiền mua được chiếc xe Peugeot 203, mà chỉ những vị sồn sồn như tôi mới may ra có thể hình dung nổi cái dáng dấp của nó.  Xe le lắm cơ, có cả cái “sân thượng” (dịch từ chữ “sunroof” ý mà)!  Đêm ông Táo chầu Trời, tôi chở 4 ông bạn Mít da vàng, mũi tẹt đi chơi bờ biển cho đỡ nhớ nhà. Xe đang ngon trớn thì bị một thầy phú lít mắt xanh mũi lõ bắt tôi ngừng xe. Lúc bấy giờ tôi mới chợt vỡ lẽ là tôi đã đi ngược chiều. Tôi lo quýnh quáng vì nếu thầy biên phạt thì hỏng to, sẽ làm tiêu tan cả cái gia sản của tôi. Tôi cố chấn tĩnh để đối thoại với thầy.

Cảnh sát:

Your driving license, please!

You drove crazy

And didn’t you see:

“One way” only

Hung on a tree?

Chủ xe: 

Me Vietnamese

And me buddies

Go to party.

Me did not see

Sign on the tree!

Excuse me please:

“Rộng lòng từ bi

Đừng phạt làm chi,

Ticket costs money

Please let me ‘đi’

I‘ll be damn happy!”

Cảnh sát:

Hey, you, smarty:

You’re crazy

You’d better drive and see!

I let you go free 

Enjoy and leave!

Thôi, đi đi!

Sau khi xe chuyển bánh, một Trạng Lợn Vietnam (Dr. Vietnamese Pig) bèn phóng tác ngay một bài thơ để tặng mọi người trong xe, tựa là:

Đi Xem Hội

“Bẩm thưa thầy đội

Em đi xem hội

Cùng mấy cha nội

Chẳng may cây cối

Che mất phố phường

Nên đi ngược đường

Vậy xin thầy thương

Chớ nên biên phạt

Lần sau phạm pháp

Thầy “charge” gấp hai

Thôi nhé bái bai

 … Hẹn không gặp lại !”

Cuộc đời lăn như một hòn bi không bao giờ ngừng và từ đó tôi không còn có cái may mắn để ăn Tết ta, tết tây với gia đình, họ hàng nữa.

Sinh viên chúng tôi chỉ có thể tổ chức văn nghệ sinh viên và ăn Tết tập thể với nhau.  Cũng có năm, tôi phải đi thực tập tại một công trường trong đại lục Úc châu nên không thể về chung vui ăn Tết Việt Nam với bạn bè được.  Sự lạc lõng này đã gợi cho tôi những câu thơ như:

Quê hương tôi giờ này xa lắc

Tôi, một người lạc lối giữa Á và Âu.

Sa mạc này, tôi đã tìm thấy tôi!

Những dự tính của tôi khi còn học hoàn toàn đi trái ngược với thực tế.  Tôi đã không đi làm công việc của một kỹ sư công chánh như đã định và tôi cũng chẳng trở về Việt Nam để đoàn tụ với cha già và anh chị em . Tôi đã đến lập nghiệp ở Canada và trở thành một giáo sư dậy ngành công chánh mà tôi chẳng bao giờ định trước!

Hơn 36 năm rồi, xa quê hương, mỗi lần Tết về, tôi cố nhớ lại những gì đã mất. Còn chăng, đó chỉ là những hình ảnh nhạt nhoà của chợ hoa Hà Nội, chợ hoa Saigon, cảnh gói bánh chưng cùng cảnh xum họp gia đình trong ba ngày Têt…

Ðàm Trung Phán

Dec. 1998 / Feb. 2020

Toronto, Canada  

CHIA XẺ KINH NGHIỆM VỀ PHƯƠNG CÁCH GIẢNG DẠY TẠI CENTENNIAL COLLEGE, CANADA

GS Ðàm Trung Phán

Thể theo lời yêu cầu của một số thân hữu, chúng tôi xin bắt đầu viết đề tài về những kinh nghiệm của đời đi dậy. Bài viết “Chia xẻ …” này được viết để ra mắt quý độc giả trong loạt bài viết về “Ðời Ði Dậy”. Bài này được viết dựa theo bài “Principles of Teaching” mà tôi đã nộp cho Ban Giám Khảo của Centennial College khi họ tuyển lựa và trao giải thưởng “Cách Giảng Dậy Xuất Sắc” (Teaching Excellence) vào năm 2001 trước khi tôi được Centennial College tại Canada và University of Texas at Austin tại Hoa Kỳ trao tặng cho tôi giải thưởng này.

Tuy rằng đây là những kinh nghiệm giảng dậy trong lãnh vực khoa học và kỹ thuật của riêng tôi nhưng tôi muốn viết ra đây như để chia xẻ với độc giả, với những thầy/cô, với những ai đang muốn đi vào ngành giáo dục … những gì mà tôi đã học hỏi được khi tôi còn là một nhà giáo trước khi tôi về hưu. Hy vọng rằng những ai đã từng đi dậy cũng có thể tìm thấy ít nhiều mẫu số chung qua bài viết này.

Xin kính mời quý độc giả vào xem các hình ảnh liên quan tới mái trường bằng cách bấm vào Website dưới đây:

http://www.pbase.com/tamlinh/mai_truong__getting_involved_with_education

* * * * *

Sau khi tôi đã dạy được vài năm, tôi thường nói với học trò:

“Học hỏi là gì? Theo tôi thì tự mình phải biết là mình thực sự không hiểu, không biết những điều gì trong lãnh vực nào, ở đâu … để rồi mình có thể bắt đầu học từ những phần không hiểu biết đó.”

Theo lối nhìn của một kỹ sư như tôi, học trò cần phải thực hiểu bài (lesson) hay môn mình đang học (subject) để mà có thể áp dụng phần lý thuyết (theory) hay khái niệm (concept) vào công việc mình làm và ngay cả vào đời sống của mình nữa. Cả thầy/cô lẫn học trò cần phải cảm thấy thoải mái trong lớp học; học trò phải cảm nhận được cái hứng thú để mà có thể tìm hiểu, phân tích, tổng hợp và áp dụng. Thầy/cô nên hướng dẫn tường tận để học trò được rèn luyện cho họ có lòng tự tin và hứng khởi để mà tự họ đi tìm kiếm tài liệu, sau đó tự học hỏi bởi vì rằng số giờ để giảng dậy trong lớp tương đối khá ít ỏi.

Bản thân tôi đã có cái may mắn được cập nhật hóa với nhiều điều mới lạ trong lãnh vực kỹ thuật tân kỳ vì tôi có cơ duyên liên lạc được với nhiều sinh viên đã tốt nghiệp và đang đi làm. Các sinh viên này đã móc nối cho tôi tới nhiều nhân viên trong ngành kỹ thuật ngoài đời và họ đã cung cấp cho tôi biết bao nhiêu là tài liệu quý báu mà họ đã hay đang dùng. Những tài liệu này không có (hay chưa có) trong các sách giáo khoa vì hãy còn mới lạ. Tôi đã phải tự học hỏi những tài liệu mới lạ này và áp dụng vào các bài soạn (lecture notes) để rồi cả thầy và trò cùng được cập nhật hóa và theo kịp đà tiến hóa của nền kỹ nghệ ngoài đời.

Những năm về sau này, tôi vẫn tiếp tục gặt hái thêm được nhiều kinh nghiệm về nghệ thuật ăn nói (communication skills), phương cách giảng dậy và học hỏi (teaching-learning skills), những kỹ thuật mới trong kỹ nghệ (new technology). Vì những lý do đó mà tôi cảm thấy không bị “dậm chân tại chỗ” và điều này làm cho tôi thêm thích thú trong công việc dậy học nhất là những khi tôi bắt buộc phải phải soạn thảo để dậy một môn học mới (tôi đã dậy tất cả 33 môn khác nhau trong Phân Khoa Kỹ Thuật tại Centennial College trong vòng 32 năm của đời đi dậy). Mỗi lần mà tôi phải dậy một môn mới, phần soạn bài vở là một thử thách rất là nặng nề nhưng tôi cảm thấy hứng khởi (motivated) trong cái “thử lửa” (new challenge) đó; tôi hăng say cố gắng để tìm kiếm những phương cách trong việc soạn bài, giảng dậy những môn học mới mẻ này.

Khi hết học kỳ (semester), tôi thấy như được đền bù khi nghe thấy những điều sinh viên nói với tôi như :

“Chúng em không có gì phàn nàn về nội dung (course content), về phần trình bầy (lecture delivery), cách chấm điểm của Thầy hết. Chúng em cũng biết có đôi khi Thầy bị lúng túng vì Thầy mới dậy môn này lần đầu, nhất là trong phần làm thực tập ở trong phòng thí nghiệm. Chung quy là vì nhà trường không có đủ máy móc cho sinh viên thực tập, mà lớp lại đông học trò. Chúng em mong rằng chúng em còn được tiếp tục học ở Thầy những môn học khác trong những học kỳ tới (semester). Chúng em xin cám ơn Thầy rất nhiều, nhất là phần tận tâm (commitment) của Thầy!”

Càng dậy thêm các môn mới trong Phân Khoa Khoa Học và Kỹ Thuật (School of Engineering Technology and Applied Sciences), tôi càng thấy rõ những mối tương quan khắng khít của các môn học (courses) và của các ngành nghề kỹ thuật (technical programs). Sau khi đã đi dậy được nhiều năm, tôi cảm thấy rất may mắn và hứng khởi vì tôi đã học thêm được biết bao nhiêu là điều mới lạ. Là một nhà giáo trong phân khoa Kỹ Thuật, tôi cảm thấy tôi may mắn hơn và học hỏi được nhiều hơn so với “đời sống bay nhẩy” của một kỹ sư chuyên nghiệp (Professional Engineer)  mà tôi đã hằng mong ước trong những năm đầu tiên khi tôi trở thành một “nhà giáo bất đắc dĩ”!

Nhiều năm về sau, một số cựu sinh viên đang đi làm cho tôi biết là họ vẫn còn giữ lại tất cả các “lecture notes” (tất cả các tài liệu liên quan tới môn học) của các môn học do tôi phụ trách. Không những vậy, nhiều người còn mang vào văn phòng làm việc của họ những “cours” này để làm tài liệu tra khảo khi họ phải “design” (kiến tạo), hay họ phải “construct” (xây dựng) hay “inspect” (khám xét) một số những công việc mà họ đang phải làm. Ðối với tôi, đây là một phần thưởng tinh thần rất quý giá vì những nỗ lực đi tìm kiếm tài liệu để tự học hỏi và những đêm khuya ngồi soạn bài giảng (lecture notes), bài nộp (assignments), bài thi (tests, exams), tuy có nhiều lúc làm tôi lên cơn đau bao tử nhưng chúng đã mang lại những kết quả khả quan. Những tài liệu này đã đáp ứng được những nhu cầu (up-to-date and relevant materials) của ngành nghề (industry) mà nhiều khi không tìm được trong các sách giáo khoa.Vì vậy mà tôi càng cảm thấy thích thú trong việc tiếp tục đi tìm kiếm tài liệu (manuals, drawings, reports, specifications, videos …) và những kỹ thuật mới lạ (new technology) trong ngành công chánh và trong lãnh vực khoa học và kỹ thuật để rồi tôi phổ biến phần kiến thức này trong những môn học mới cũng như cũ mà tôi đã từng hay đang giảng dậy .

Trong quãng đời đi dậy tại College, tôi đã được chứng kiến rất nhiều những thay đổi trong ngành giáo dục tại tỉnh bang Ontario. Trong thập niên 90, sự thay đổi có tác động mạnh mẽ nhất tại College, theo tôi, chắc đó là hiện tượng “đa dạng” (diversity) trong hệ thống giáo dục tại Ontario liên quan tới gốc gác của sinh viên và ban giảng huấn. Số sinh viên da mầu (visible minority), các di dân nói chung (immigrant) mà Anh Ngữ không phải là tiếng mẹ đẻ (non native speakers of English) đã lên tới 45% của tổng số sinh viên không những tại trường tôi mà còn tại các Colleges khác nữa. Vì là một người di dân (immigrant) mà Anh Ngữ không phải là sinh ngữ mẹ đẻ của tôi (mother tongue) cho nên tôi có thể cảm nhận và thấu hiểu được những cái khó khăn của sinh viên di dân (immigrant students) trong lãnh vực học hành như: sinh ngữ, khác biệt về văn hóa, những kỳ vọng trong xã hội mới (expectations in the new society), những khó khăn về tài chánh, lòng nhớ quê quán cội nguồn (homesickness), đời sống gia đình và xã hội gặp nhiều khó khăn, cũng như nghề nghiệp và tương lai bấp bênh của họ. Trong tư thế của một giáo sư, tôi còn đóng vai trò của một người bạn, một người hướng dẫn (mentor, guide), một người cổ võ (advocate), một người cố vấn (adviser), một mẫu người để họ noi theo (role model) trong xã hội mới hội nhập.

Tôi thường hay trò truyện với học trò trong lớp học cũng như ngoài giờ học và vì vậy mà tôi được biết nhiều về họ hơn. Cũng chính vì vậy mà tôi biết cách để làm sao tôi có thể giảng dậy cho có hiệu quả hơn cho cả lớp.Thầy trò tôi đâm ra tránh được ít nhiều những xích mích với nhau. Trong những giờ phút giảng dậy và học hỏi (teaching-learning process), thầy trò chúng tôi không thấy không khí căng thẳng cho lắm (stressful moments). Nhờ giao thiệp với các sinh viên, các đồng nghiệp, các bạn hữu trong trường cũng như ngoài xã hội mà đời sống của tôi được thêm phong phú hơn (enriched) vì chính bản thân tôi đã học hỏi được ở họ những kinh nghiệm cá nhân, sự khôn khéo (wisdom) và những điều hay trong nền văn hóa của họ (cultures)… Tôi cũng đã từng gặp nhiều bà mẹ của học trò khi họ đến văn phòng nhờ tôi đóng vai một người cha để chỉ dẫn và bắt buộc con trai của họ phải đi học cho đều đặn (regular class attendance) và học hành cho có kết quả khá hơn. Xin thú thực với quý vị rằng cái “bổn phận bất đắc dĩ” này chẳng có dễ dàng gì hết mà thực sự ra cũng chẳng phải là “bổn phận trong nghiệp đoàn giáo chức” của tôi nữa nhưng tôi cũng đã có hai con trai nên tôi thông cảm với các bà mẹ này nên tôi hứa tôi sẽ cố gắng giúp họ được chút nào hay chút ấy.Tôi cũng đã bị một, hai “quý tử” trả lời “Việc gì tới Ông Thầy!?” (Mind your own business!) nhưng mà kỳ diệu thay, sau đó tôi thấy tay “yêng hùng” đi học đều đặn trở lại. Không những thế, sau khi các “đứa con nuôi bất đắc dĩ” này của tôi đã ra trường và đi làm, họ đã gọi điện thoại cho tôi để nói lời cám ơn và :

“Mẹ em cũng gửi lời hỏi thăm Thầy và cám ơn Thầy nữa đấy, thưa Thầy!”

Tự nhiên tôi cảm thấy có một đại gia đình (extended family), thật là trân quý biết bao.

Tôi xin “vào đề” và nói rõ về Phương Thức Giảng Dậy (Principles of Teaching) mà tôi đã áp dụng trong nhiều năm:

1.0

Vấn đề truyền thông (Communications)

Theo tôi nghĩ, đây là một việc hết sức quan trọng. Các thầy/cô có thể làm cho học trò thêm hứng khởi (motivated) trong công việc giảng dậy và học hỏi (teaching-learning process) nhưng ngược lại, các thầy/cô cũng có thể làm cho học trò nản chí (turned off) qua các bài giảng (lectures, lesson plans), qua các cử chỉ và lời ăn tiếng nói của họ trong lớp học hay cách ứng xử của họ khi tiếp xúc với học trò.

Nghệ thuật ăn nói tùy thuộc vào:

1.1

Soạn bài (Lecture preparation, lesson plan)

Tôi xin mạn phép méo mó nghề nghiệp viết theo khía cạnh của ngành kỹ thuật mà tôi biết khá rành rõi. Hầu hết các môn học trong ngành kỹ thuật đều có phần thực hành trong các phòng thí nghiệm (hands-on components), phòng vẽ (drafting room, Auto Cad lab, field work).

Tôi đã từng phải tự ý kiến tạo (design) và thực tập (conduct) những bài học trong phòng thí nghiệm (laboratory experiments). Vì nhà trường không đủ ngân sách để thuê thêm chuyên viên làm việc trong các phòng thí nghiệm , trước khi vào lớp, chính tôi đã phải tự ý kiểm soát tất cả những dụng cụ liên quan tới bài học đó trong phòng thí nghiệm và phải tự hỏi rằng liệu sinh viên có đủ thì giờ và dụng cụ để làm xong các phần thí nghiệm trong những giờ thực tập của họ không? Các bài học trong phần thí nghiệm (lab experiments) liệu có thể giúp học trò hiểu rõ thêm phần lý thuyết không? Tôi thường chỉ dẫn học trò đi theo từng bước một (step-by-step method) từ dễ đến khó (logical and numerical sequence) trong những giờ làm thực tập cũng như trong các giờ học trò ngồi học ở trong lớp (lecture, tutorial sessions). Nhờ phương pháp chỉ dẫn này mà tôi có thể móc nối khá dễ dàng được các bài giảng trong lớp đến các chương (chapters) trong sách giáo khoa và tài liệu học tập (textbook, reference book, handout materials …), các bài tập và các bài nộp (exercises and assignments) và các đề án (projects)…

Thầy/cô không nên ỷ y cho rằng ”điều này quá dễ, chắc là học trò biết hết rồi mà”! Thực ra, có rất nhiều điều, học trò chẳng biết, hoặc là chưa biết gì hết. Chẳng biết có phải tại học trò đã bị đuối sức trong những năm học ở trung học hay không!?

Các bài thi (tests, exams) được soạn thảo với mục đích để đo lường khả năng (measure) xem học trò đã hiểu và có thể áp dụng được những phần họ đã học đến mức độ nào? Các bài tập, bài nộp và đề án có mục đích làm cho học trò thực tập các bài giảng để họ thấy “thích thử lửa” (challenging) mà tự tìm hiểu hoặc là chính họ sẽ đến gặp tôi để hỏi thêm. Học trò phải làm các bài tập, bài nộp, đề án ở nhà trước để họ tự ý biết những phần nào họ bị lúng túng và không hiểu để rồi trong giờ giảng dậy sau đó, tôi sẽ giải nghĩa cho họ hiểu rõ ràng hơn và tôi sẽ chỉ dẫn cho họ cách làm bài. Sinh viên sẽ phải tự ý làm các bài giải để mà họ “học hành là để biết những điều mình không biết hay không hiểu để rồi tự đó mà học hỏi cho đến nơi, đến chốn”.

Ðể tránh nạn “cọp dê” (copy), tôi thích ra các đề thi theo lối “mở sách” (open book tests/exams). Lời văn viết trong mỗi câu hỏi (questions) trong đề thi (test/exam papers) thì giống nhau nhưng đề thi trong lớp lại có 3 loại các con số khác nhau (3 different sets of given data) cho nên trong giờ thi, tôi có 3 loại đề thi A, B, C (test papers A, B, C).Học trò không thể viện lý rằng “đề thi của em khó quá so với đề thi của bạn em” vì rằng tất cả các đề thi A, B, C đều giống nhau về cách chấm bài và cho điểm nhưng chỉ khác nhau ở các con số (given data) mà thôi. Trước khi vào lớp, các đề thi đã được xếp theo thứ tự A, B, C, A, B, C…và tuyệt nhiên học trò không hề hay biết cái “món ăn chơi này” của chúng tôi! Sau khi các sinh viên đã ngồi vào chỗ đâu vào đó, người coi thi cứ việc đi theo từng giẫy bàn (rows of tables) mà phát đề thi theo thứ tự A, B, C, A, B, C, A, B, C … kia. “Quân gian” khó lòng mà có thể tráo được các đề thi để mà A ngồi cạnh A, B ngồi cạnh B, C ngồi cạnh C được. Ðây là một bài học mà nhà giáo chúng tôi đã học được qua những “kinh nghiệm chiến trường cọp dê” của các “yêng hùng vua cọp dê người bạn láng giềng” để đối phó với họ cho “hợp lý, hợp tình”!.

Trong lãnh vực khoa học, kỹ thuật, các chuyên viên kỹ thuật (technicians, technologists), các kỹ sư … thường phải dùng đến các “handbooks” (sách cẩm nang chuyên môn cho ngành nghề), các “manuals” (sách chỉ dẫn), các sách giáo khoa (textbooks, reference books), các đồ thị (graphs, charts, tables) và họ phải thật hiểu rõ cách dùng những tài liệu này để mà lấy các dữ kiện (data-gathering) để rồi dùng trong các bài giải (solution) cho các câu hỏi trong đề thi . Lối thi “mở sách” (open book tests/exams) giống như khi học trò đang đi làm vậy: họ phải biết cách tự đi tìm các tài liệu để mà áp dụng cho các phần giải đáp. Mà thật ra cái phần tính toán giải đáp (analysis and problem solving) mới là phần chính và phần “mở sách” chỉ là phần phụ giúp cho sinh viên đi kiếm các dữ kiện mà thôi. Sinh viên phải thật hiểu các câu hỏi của đề thi để phân tích rồi đặt phương trình để đưa đến đáp số (answer). Sinh viên mà bí quá thì cũng chẳng thể “cóp đại” người “hàng xóm” được vì thực sự là họ có 2 đề thi khác nhau! Cọp dê bài của người bên cạnh là “giẫm trúng mìn” liền!

Người viết đã cảm thấy “đỡ nhức đầu” khi phải trả lời những câu hỏi “cổ như trái đất” của các chàng/nàng “gà mờ” như:

  • Thầy ơi, bạn em nó được 10 trên 10, tại sao Thầy lại cho em zero điểm trong khi em có cùng đáp số y như bạn em?

Tôi sẽ sàng trả lời:

  • Em mang bài của bạn em và của em lên đưa cho tôi coi, tôi sẽ trả lời em, OK?

Rất nhiều lần, ông thầy sau khi xem 2 đề thi của “đôi bạn song sinh”, đã chu chéo la lên:

  • Trời đất ơi, bài thi của em thuộc loại “A” (giả dụ như có 360 con gà), trong khi đó bài thi của bạn em thuộc loại “B” (giả dụ như có 630 con gà, trông hơi giông giống như 360 con gà vậy!). Một đằng có 360×2=720 chân gà, một đằng có 630×2=1260 chân gà thì làm sao mà hai đề thi của 2 em có thể có cùng chung một đáp số được?

Cả lớp nghe khoái trí, cười rộ làm “đôi tri kỷ” cảm thấy “quê một cục” trước mặt các “bá quân văn võ“ và không dám phàn nàn gì thêm nữa.

Các “yêng hùng” mà làm khó dễ hay nặng lời với thầy/cô, thầy/cô bèn đề nghị “đôi ta” lên gặp ông/bà Trưởng Phòng (Program Co-ordinator) để người này phán quyết, đỡ phải cãi vã tay đôi cho mất thì giờ của thầy/cô!

Sách giáo khoa (textbooks) càng ngày càng đắt tiền cho nên tôi đã cố gắng dùng chung một cuốn sách giáo khoa cho 2 môn trong 2 học kỳ (Semesters) khác nhau để giúp học trò đỡ tốn tiền mua sách. Ðây là một việc làm chẳng đặng đừng nên tôi đã phải soạn ra và cho nhà trường đem in phần bài soạn thêm (Supplementary Lecture Notes, Laboratory Manuals) mà sách giáo khoa không có. Phần in thêm này được bầy bán trong hiệu sách nhà trường (college bookstore), giá rẻ mạt so với cuốn textbook và dĩ nhiên là “tác giả bất đắc dĩ” chẳng nhận được đồng xu teng nào để mà mua quà bánh cho vợ con! Ðược cái an ủi là học trò không hề than phiền về vụ phải mua thêm phần tôi viết vì họ thừa biết là họ đã được một “good deal” (giá hời) đỡ phải tốn tiền mua thêm một cuốn sách giáo khoa mắc mỏ (giá chừng 150 dollars Canadian một cuốn).

1.2

Giảng bài trong lớp (In-class lecture delivery)

Học trò hay viện cái “lý sự cùn” như:

  • Thế hôm nay tụi em có phải học phần nào quan trong lớp không hả Thầy?

hay

  • Tại sao tụi em lại phải học cái phần này, thưa Thầy?

Ðể tránh những câu hỏi này, trước khi vào đề, tôi thường kể một câu truyện liên quan tới đề tài mà tôi sắp giảng dậy và sau đó tôi đặt câu hỏi cho học trò để cho họ có cơ hội thi nhau tìm hiểu và trả lời. Lấy một thí dụ: Trong giờ Ðịa Chánh (Field Surveying), cách dễ nhất để đo chiều cao của một cái cao ốc (building) là trèo lên sân thượng rồi thả cái đầu thước đo xuống đất và đọc con số của chiều cao. Trên phương diện thực tế, làm như vậy thật là khó. Tôi hỏi học trò các lý do khó khăn này và tôi cũng hỏi học trò cho biết cách làm sao mà ước lượng cho khá chính xác chiều cao của cái cao ốc đó.

Ðây là cách vào đề trực tiếp (direct approach) để tôi dậy học trò cách sử dụng cái máy đo góc (transit) mà chúng tôi dùng trong phần Ðịa Chánh. Tôi mang cái transit ra, đặt tạm tại một vị trí cho vững, rồi đo bề dài theo chiều ngang (horizontal distance) – tạm gọi là “L” – từ cái transit theo chiều thẳng góc đến cái building ( giả dụ là một chân tường của lớp học). Sau đó, học trò sẽ dùng máy để mà đo góc giữa đường ngang chân trời (horizontal line “L”) và nóc của building (tạm gọi là góc “A”).Tôi đứng cạnh cái transit để chỉ rõ cho học trò chiều ngang “L” và góc “A” rồi vẽ trên bảng đen cái họa đồ đó . Vẽ xong, tôi hỏi học trò cách tính chiều cao – tạm họi là “H”- của building. Lúc này là lúc học trò thích “chỉ” cho thầy biết cách tính toán ra sao: (H = L x tanA).

Sau khi học trò đã hiểu nguyên lý, tôi dần dần chỉ dẫn học trò tất cả các chi tiết sử dụng transit và đọc góc cho thật chính xác. Nói tóm lại, tôi muốn học trò phải lắng nghe và chú ý đến (focus) đề tài mà tôi sẽ nói tới và tôi đặt câu hỏi với học trò để họ trả lời thay vì chỉ một mình tôi nói trong lớp mà thôi. Có những đối thoại và vài câu pha trò giữa thầy/cô và học trò mới có cái lý thú trong lúc giảng dậy và học trò mới không buồn ngủ trong lớp học vì chính họ cũng đang “diễn tuồng” (getting involved with the teaching-learning process)!

Thầy/cô cần phải nói (tiếng Anh hay ngôn ngữ dùng trong lớp học) cho đúng (precise), ngắn gọn và giản dị (short sentences and simple words), nói to (loud voice) để cho cả lớp nghe thấy rõ ràng, dễ hiểu và để gây uy thế của thầy/cô với học trò (in control of the classroom); điệu bộ của nét mặt và chân tay cho tự nhiên (good body language) để học trò cảm thấy như đang được xem một cái “show” cho đỡ buồn ngủ (interested)! Tính hài hước (sense of humour) của thầy/cô làm cho học trò/người nghe cảm thấy tươi vui, thoải mái (entertained) và nhờ vậy mà thầy/cô và học trò dễ phá tan được cái bức tường vô hình (invisible barrier) ngăn cách giữa thầy/cô, học trò và nhất là đề tài đang được trình bầy không khô khan và khó hiểu.

Chữ viết của thầy/cô trên bảng đen cần phải rõ ràng (good/neat handwriting), quy củ (organized) và các hình chiếu (overhead transparencies) trên phông (screen) đâu ra đấy sẽ giúp học trò thấy thoải mái (less stressful) và dễ theo kịp thầy/cô hơn (easy to follow, effective communication skills). Ngoài ra, đây cũng là lúc mà học trò còn học hỏi được nghệ thuật ăn nói trước công chúng (public speaking) để sau này họ sẽ đỡ bị bỡ ngỡ khi chính họ phải trình bầy một vấn đề gì cho nhân viên trong sở.

Trong lớp, thây/cô nên hỏi học trò:

  • Các em có theo kịp thầy/cô không? (Are you with me / do you follow me?). Nếu không hiểu, các em cứ giơ tay lên mà hỏi, OK?

Tôi còn hay hỏi thêm:

  • Nếu có ai trong lớp này bị khuyết tật (handicapped), xin cho tôi biết với!

Ở tỉnh bang Ontario, Canada, các sinh viên bị khuyết tật như: loạn sắc (colour blind), lãng tai (hearing problem), chậm hiểu (slow learning)… thường được nhà trường cho hưởng những quyền lợi đặc biệt. Thầy cô nên biết trước để biết cách chỉ dẫn cho họ một cách có hiệu quả hơn và cũng để chuẩn bị tinh thần luôn.

Thầy/cô cần phải nghiêm túc (professional)  khi trả lời các câu hỏi của học trò và cổ võ học trò hỏi thêm để họ thực sự hiểu bài giảng ở trong lớp. Cách ăn nói (communication skills) vừa cởi mở (easy-going), vừa đi thẳng vào vấn đề (direct approach) mà lại thêm phần pha trò làm cho thầy/cô và học trò thấy vui vẻ (enjoyable), thoải mái (relaxing, less stressful), nhất là cho các thầy/cô trong lúc giảng dậy.

Thầy/cô nên tránh tối đa lối nói gièm pha học trò (belittle students), thí dụ như:

  • Dễ như vậy mà tại sao em lại không hiểu? Chắc em không đọc sách thêm chứ gì? Thôi, đừng hỏi tiếp nữa cho đỡ mất thì giờ của tôi ở trong lớp, OK? Em về nhà đọc thêm phần sách giáo khoa đi! (Everything is in the textbook, just read it!).

Học trò sẽ có nhiều phản ứng dội ngược lại (strong reactions) đối với thầy/cô vì họ cảm thấy bị chạm tự ái (belittled, humiliated), chán nản (frustrated, turned off) và do đó họ trở nên “tác yêu tác quái trong lớp” (rebellious) để trả đũa lại với thầy/cô (get even with the teacher). Một số thầy/cô đã mắc phải lỗi lầm này và vị giáo sư Trưởng Phòng (Program Co-ordinator) đã phải nghe các sinh viên than phiền đến điếc tai về thầy/cô vì cách ăn nói này đã làm cho học trò không muốn tới lớp học của các thầy/cô này nữa. Trong nhiều trường hợp, một số sinh viên còn cùng nhau lên gặp vị Khoa Trưởng (Faculty Dean) với hy vọng là nhà trường sẽ có thái độ rõ rệt với các thầy/cô này.

2.0

 Giáo dục ngoại lớp (Non-class-room education)

Nhà giáo chúng tôi đã thấy có nhiều sinh viên khi đi học thì học rất giỏi nhưng khi ra đời thì lại lẹt đẹt về nghề nghiệp và đời sống riêng tư của họ nữa. Thoạt đầu, chúng tôi không rõ ngã ngũ ra sao. Sau nhiều lần cùng ngồi xuống để mà bàn luận, mổ sẻ, tìm nguyên nhân, chúng tôi nhận thấy cách ứng xử (interpersonal skills) thuộc về phần “thông minh cảm xúc” (emotional intelligence quotient, viết tắt là EQ) là cái đầu mối để đưa con người tới thành công hay thất bại khi bắt đầu ra đời làm việc.

Phần thông minh đầu óc (Intelligence quotient, viết tắt là IQ) giúp con người suy nghĩ, học hành dễ dàng hơn và nhà trường thường chỉ chú trọng tới phần IQ này mà thôi! Phần “thông minh cảm xúc” (EQ) giúp con người biết cách ứng xử để rồi thành công và thăng tiến trong nghề nghiệp. Cho tới bây giờ (năm 2005), nhà trường vẫn chưa có các ngân khoản hay phương tiện giúp cho học trò để họ có thể học hỏi (learn), áp dụng (practice) và thâu nhận (acquire) phần “thông minh cảm xúc” này trong lớp học hàng ngày (regular classes). Các sinh viên nói trên có phần IQ khá cao nhưng phần EQ theo chỗ chúng tôi nhận xét thì lại khá thấp cho nên mới ra như vậy.

Tôi đã tạo cơ hội cho sinh viên để cho họ có thể hiểu biết thêm, áp dụng và thâu nhận phần ”thông minh cảm xúc” này bằng cách tham gia vào các sinh hoạt ngoại khóa như:

  •  

Các Hội quán (Clubs) cho sinh viên

  • Hội quán cho các sinh viên ngành Công Chánh của Centennial College: Club này được thành lập năm 1980 và đóng cửa theo ngành vào năm 1995. Tôi là giáo sư hướng dẫn (professor and adviser)
    • Hội quán cho các sinh viên ngành Bảo Vệ Môi Sinh của Centennial College: Hội này được thành lập vào năm 1991 và vẫn còn hoạt động mạnh mẽ sau khi tôi về hưu năm 2002
    •  Hội Ái Hữu Sinh Viên – Cựu Sinh Viên Việt Nam của Centennial College: Hội này được thành lập năm 1985 và bành trướng mạnh mẽ vào năm 1994. Tôi là một trong những sáng lập viên của hội (founding members) và cũng là Giáo Sư hướng dẫn từ năm 1985. Sau khi tôi về hưu, tôi vẫn còn là Giáo Sư hướng dẫn.

Các Hội Quán này hoàn toàn do các sinh viên quản trị và điều động các chương trình hoạt động. Nhờ vậy mà sinh viên học được cách ứng xử, cách tổ chức, cách ăn nói giữa đám đông và làm việc trong tinh thần đồng đội và thiện nguyện (volunteer team work). Cũng nhờ vào các clubs này mà Centennial College đã thâu nhận được thêm nhiều sinh viên mới qua sự giới thiệu của các “club members” (hội viên của các clubs). Ngoài ra, một số sinh viên mới ra trường đã kiếm được việc do các cựu sinh viên hiện đang làm việc trong công kỹ nghệ giới thiệu và “chỉ đường dẫn lối” cho biết cách ăn nói cho đúng cách trong lúc được “job interview” (phỏng vấn). Cũng nhờ các hội viên của các clubs này mà nhiều sinh viên của chúng tôi cũng như cá nhân tôi đã móc nối được với giới công kỹ nghệ (industry) và được giới này trợ giúp rất nhiều về phần kỹ thuật (technical know how, cho các tài liệu “mới ra lò”) và phần kiếm việc cho sinh viên (job placement).

Hội Ái Hữu Sinh Viên Việt Nam đã tổ chức các buổi sinh hoạt như: Tham dự ngày triển lãm thế giới hàng năm (Annual International Day) tại College, các buổi nói truyện về học hành và nghề nghiệp, các sinh hoạt thể thao (bowling, indoor/outdoor soccer, badmington), đi cắm trại, đi picnic, dạ vũ Giáng Sinh (Christmas party), ăn Tết Nguyên Ðán (Vietnamese Lunar New Year celebration), ăn mừng các tân khoa (graduation dìnner party), hướng dẫn các tân sinh viên trước khi tựu trường (orientation session) … Nhiều sinh viên tốt nghiệp đã có những cơ sở thương mại tại Việt Nam và Canada khá thành công tạo một niềm vui cho College và cộng đồng Việt nam sở tại.

2.2

Các nhóm Email (Email groups)

Các sinh viên của ngành Công Chánh, Bảo Vệ Môi Sinh, Hội Ái Hữu Sinh Viên Việt Nam đều có nhóm Email riêng của họ để tiện việc loan báo cho nhau biết các tin tức về học hành, công ăn, việc làm, các tiến triển về ngành nghề (technical changes, new technology), các sinh hoạt văn hóa – xã hội… Các tân sinh viên và cựu sinh viên đã trao đổi tin tức với nhau rất là thoải mái, mặc dù là họ chưa hề gặp nhau nhưng họ cảm thấy gần gũi nhau hơn vì họ học chung cùng một chương trình tại cùng một College.

Tôi đã học được nhiều bài học quý giá về các kinh nghiệm hoạt động ngoại khóa (extra curricular activities) này khi còn là một sinh viên đang theo học tại đại học New South Wales, Úc Ðại Lợi và tôi cũng đã từng hăng say tham dự các sinh hoạt sinh viên lúc bấy giờ. Sau khi bắt đầu đi dậy, những kinh nghiệm rút tỉa được qua các sinh hoạt ngoại khóa này đã giúp ích cho tôi rất nhiều trong việc ứng xử, điều động, nghệ thuật ăn nói trước đám đông, sinh hoạt chung với sinh viên … Trong cương vị một giáo sư và nhất là giáo sư hướng dẫn của các “clubs”, tôi muốn chia xẻ và truyền lại cho các sinh viên những kinh nghiệm quý báu mà tôi đã may mắn có được trong thời đi học và dậy học .

Sang đến thế kỷ 21, trên mạng lưới toàn cầu (worldwide web) đã có nhiều các bài viết về ngành nghề (technical papers) rất mới mẻ và bổ ích cho sinh viên trong nhiều môn học. Thầy-trò chúng tôi đã tận dụng triệt để các bài viết này để bổ túc cho phần “lecture notes”, một điều mà tôi không dám mong ước trong các thập niên trước đó . Bắt đầu từ năm 2001, sinh viên còn mang máy hình digital (digital cameras) vào lớp và xin phép tôi cho họ chụp hình những phần tôi viết trên bảng đen trong giờ dậy học vì lý do

“Tụi em viết chữ vừa chậm lại vừa xấu xí nên không chép kịp. Các hình ảnh này sẽ giúp chúng em “ghi chép” vừa nhanh, vừa rõ ràng lại vừa có thì giờ nghe Thầy giảng bài”!

Năm 2000, nhà trường đã bắt đầu rục rịch dậy hàm thụ qua Internet (ngày xưa gọi là Correspondence Study, sau đó đổi là Distance Learning và bây giờ – năm 2005 – được mệnh danh là online education). Online education rất là tiện lợi cho sinh viên vì họ không phải mất thì giờ lái xe đi học, họ chỉ cần có Computer và Internet; nhà trường thì tha hồ mà “vỗ tay reo” vì càng có nhiều sinh viên ghi danh, nhà trường càng thu nhận được nhiều tiền. Chỉ khổ cho nhà giáo phải ngày đêm đầu tắt mặt tối mà đánh vật với bài vở, thi cử, trả lời Email, chấm bài qua Internet, đưa bài lên mạng lưới…! Hú hồn là tôi đã về hưu non và thoát nợ được cách giảng dậy trên xa lộ thông tin này: mệt thân, mệt óc, mệt mắt lắm lắm vì phải đọc bài của học trò đến hụt hơi … quý vị ơi!

2.3

Các Giải Thưởng (Awards)

Ðể khuyến khích sinh viên trong việc học hành cho thật giỏi khi theo học chương trình mà chúng tôi giảng dậy, với sự giúp đỡ và trợ cấp về tiền bạc của nhiều giáo sư trong Phân Khoa Kỹ Thuật, chúng tôi đã may mắn lập ra được một số giải thưởng bằng hiện kim trao hàng năm cho sinh viên như:

  • Giải Thưởng của ban giảng huấn ngành Công Chánh (Civil Faculty Award) từ năm 1981 cho đến năm 1995 khi ngành Công Chánh phải bắt buộc đóng cửa .
  • Giải Thưởng của ban giảng huấn ngành Bảo Vệ Môi Sinh (Environmental Protection Faculty Award) bắt đầu từ năm 1994.
  • Giải Thưởng của ban giảng huấn ngành Sinh Vật Học (Biological Technology Faculty Award) bắt đầu từ năm 1998.
  • Giải thưởng Gia Long (Gia Long Award) bắt đầu từ năm 1994, với sự trợ giúp về tiền bạc rất hồ hởi của các chi em cựu học sinh trường trung học Gia Long, tôi đã là người trung gian giữa nhóm Gia Long Toronto với Centennial College. Nhà trường đã phát giải thưởng Gia Long cho một nữ sinh viên Canadian, không phân biệt chủng tộc, có điểm số cao nhất trong Phân Khoa Kỹ Thuật.

Các giải thưởng này đã mang lại một tác dụng rất sâu đậm tới những sinh viên được lĩnh thưởng. Nữ sinh viên Maria Campos, gốc người Phi, đã viết cho tôi như sau:

“Số tiền mà em nhận được qua giải thưởng của các giáo sư trong ngành Sinh Vật Học đã được em dùng để mua sách giáo khoa cho học kỳ thứ 4 (Semester 4). Em cũng xin báo tin cho Thầy biết là chính Thầy cũng là một trong những người đã giúp em được thành công trong đời. Em xin chân thành cám ơn Thầy và xin Thượng Ðế ban phước lành cho Thầy!”

Ðể kết thúc bài viết này, người viết chỉ biết xin thưa cùng quý vị là tôi rất yêu thích nghề đi dậy bởi vì biển học mênh mông, học cả đời không hết và nhất là cái tình người đối xử với nhau (human bondage) đã làm tôi say mê và trân quý đời đi dậy. Tôi đã học được rất nhiều từ các sinh viên, bạn hữu ở trong trường cũng như ở ngoài xã hội. Những vị này và gia đình, anh chị em của tôi đã là niềm hứng khởi (inspiration) giữ chân tôi ở lại với mái trường thay vì là tôi “bay nhẩy” trong cương vị của một kỹ sư chuyên nghiệp (professional engineer) trong các công, tư sở ở ngoài đời. Tôi đã rất may mắn được sống trong cả hai văn hóa Ðông Phương lẫn Tây Phương để mà hấp thụ được nhiều cái hay, cái đẹp của hai nền văn hóa này. Tôi cố gắng tìm cách chia xẻ những điều này với học trò của tôi cũng như là các kiến thức ngành nghề mà tôi đã may mắn học hỏi được trong rất nhiều năm.

Tôi đã giảng dậy từ trong tâm huyết của tôi (from the bottom of my heart), từ trong cái trí tò mò luôn luôn muốn học hỏi (inquisitive mind) và tôi đã cố gắng dùng hết khả năng của mình trong cương vị của một giáo sư để góp phần vào ngành giáo dục đa văn hóa tại Ontario, Canada trong 32 năm dậy học. Tôi vẫn còn yêu thích nghề đi dậy nhưng thân xác đã thấy khá mệt mỏi với nghề nghiệp này rồi: con tằm đã thấy thấm mệt trong cái kiếp“con tằm nhả tơ” rồi! Chỉ xin ghi lại nơi đây những gì tôi đã thu nhận được qua những kinh nghiệm dậy học mà tôi rất trân quý mà thôi.

Ðàm Trung Phán      

Giáo sư hồi hưu

Centennial College. Toronto,

Canada August 29, 2005 / Feb. 2020

ÐỜI ÐI DẬY: Bước đầu bỡ ngỡ

Ðàm Trung Phán

HAI.

Ngay sau khi đi khám bệnh và làm các thủ tục giấy tờ xong, tôi đi làm liền vì theo lời ông Trưởng Phòng trường Công Chánh (Civil Technology Department Chairman) “mình muộn rồi đấy, anh bạn trẻ à!”

Tôi thức dậy thật sớm để đi làm chả là vì từ cái “basement apartment” của chúng tôi, tôi phải đi bộ ra trạm cuối của xe bus cũng mất 10 phút. Ngồi trên xe bus mất 15 phút mới tới trạm xe điện ngầm (subway station). Ði xe điện ngầm từ Bắc xuống Nam đến khu đổi xe điện ngầm mất 10 phút rồi đổi xe điện ngầm đi về hướng Ðông mất chừng 15 phút nữa. Ra khỏi xe điện ngầm, tôi lại phải lấy xe bus mất chừng 5 phút mới tới cái “campus” (khuôn viên) của nhà trường. Vị chi là gần 1 tiếng đi trên xe bus và xe điện ngầm, chưa kể thì giờ đứng đợi 2 lần xe bus và 2 lần xe điện ngầm. “Chính phủ tại gia“ (“spousal government”) và tôi đồng lòng “ký hiệp ước” để hai chúng tôi dọn nhà đến gần nhà trường hơn và cũng rất tiện cho “chính phủ” đi làm việc.

“Nhà mới” mà chúng tôi thuê là một “apartment” ở tận trên lầu cao nhất (penhouse) của một cao ốc (building) vừa mới xây xong. Từ cái trung cư (complex) của chúng tôi, chúng tôi có thể đi bộ trong một cái cầu có mái (catwalk) để đi thẳng vào trạm xe điện ngầm mà không sợ mưa hay bão tuyết hành hạ. Từ cái “nhà mới” này, tôi đi “subway” mất có 5 phút và thêm 5 phút đi xe bus là tôi tới trường rồi. Về phần “chính phủ” thì T. chỉ mất chừng nửa tiếng đồng hồ ngồi trên subway và xe điện (street car) là tới sở làm tại ngay trung tâm (downtown) của thành phố Toronto. Cái “apartment” còn mới nguyên xi và cái “building” này còn rất bụi bậm và ồn ào vì họ đang xây thêm hai cái “buildings” nữa trong cái trung cư này. Ðứng trên ban công (balcony) của “apartment”, chúng tôi có thể nhìn thấy một phần nào của thành phố Toronto một cách khá nên thơ, nhất là vào ban đêm khi ánh điện giăng đèn. Chuyện “nhà cửa” và công ăn việc làm của đôi uyên ương kể như là đã tạm yên ổn sau khi chúng tôi lấy nhau được một năm rưỡi.

Tôi thích đi bộ hay đi xe đạp đi tới trường nhưng mà “cuốc bộ” từ trường về nhà sau giờ làm việc thì thật là “bá thở” nên tôi mua ngay một cái xe đạp có thể gấp lại được (folding bicycle) rất tiện lợi trong việc di chuyển và cất xe trong “apartment” cũng như tại trường. Mỗi buổi sáng sớm, tôi ăn sáng thật no và đạp xe tới trường: xe lên dốc trên đường tới trường và ban sáng chừng khoảng mười giờ rưỡi là thấy đói bụng rồi, vừa đúng lúc “coffee break”! Buổi chiều tối, trên đường về nhà, tôi cứ việc thả dốc mà đi về, thật là tiện cho vì lúc này không còn sung sức như ban sáng nữa.

Sáng hôm đầu tiên, tôi đến trường rất sớm và chưa có ai đến đến hết. Tôi mở cửa Phòng Thí Nghiệm Vật Liệu Xây Cất (Construction Materials Testing Laboratory), không còn thấy “hoa cả mắt” nữa vì lần đầu tiên khi giáo sư Tom Level và George Sen dẫn tới phòng này, tôi đã thấy các dụng cụ nằm ngổn ngang trên các bàn thực tập của sinh viên (work bench), trên sàn nhà và trên cái “bàn giấy tương lai” của tôi. Thú thực là lần đó, tôi cảm thấy rất thất vọng vì tại sao lại có thể bừa bộn như vậy được? Mãi về sau, khi đã “quen nước, quen cái”, tôi mới biết rằng vị giáo sư phụ trách phòng thí nghiệm này đã có nhiều xích mích trầm trọng với Ông Trưởng Phòng và ông ta xin được việc tại một College khác nên đã “chơi đòn” (sabotage) ông McKnight “cho bõ ghét”. Khổ nỗi người “bị ăn đòn” đau điếng là tôi chứ không phải là ông Trưởng Phòng McKnight vì ông giáo sư kia đã dấu hết các tài liệu chỉ dẫn cách sử dụng các dụng cụ (Instruction manuals). Ngoài ra nhiều dụng cụ, đồ đạc bị mất vài bộ phận nhỏ. Ðúng là số bị “chó cắn áo rách” vì tôi đã có quá ít thì giờ để làm việc mà còn phải mò mẫm mãi để đoán thử cách sử dụng các dụng cụ sau khi đã “mò” ra được các bộ phận thiếu sót từ trong các hộc tủ (drawers), trong các tủ có ngăn khóa (locked cabinets). Cũng may cho tôi là trong cái “campus” này của chúng tôi còn có trường Cơ Khí (Mechanical Technology Department) với cái nhà máy (shop) đầy đủ các dụng cụ, vật liệu, đồ phụ tùng …nên tôi đã nhờ anh chàng chuyên viên cán sự (technician) giúp trong việc sửa chữa dụng cụ. Hú hồn, thật là may mắn được “quái nhân phò trợ” nên tôi đã có thể sửa chữa các dụng cụ trong một thời gian kỷ lục.

Trường Công Chánh của chúng tôi (Civil Engineering Technology Department) không nằm trong cái “building” của Warden Campus -một trong 2 “campus” của Centennial College – mà lại ở “riêng một góc trời”! Văn phòng của Ban Giảng Huấn chúng tôi là một “portable office” (căn phòng có thể di chuyển được vì không có nền móng cố định như của một căn nhà hay một building thực sự). Riêng tôi có 2 văn phòng: một cái chung với các giáo sư và một văn phòng ở ngay trong Phòng Thí Nghiệm Vật Liệu Xây Cất. Phòng thí nghiệm này và phòng Thực Tập Vẽ (Drafting Room) của sinh viên nằm trong một căn nhà gạch một tầng, tách rời khỏi “building” của “campus” và nằm ngay bên cạnh Văn Phòng “portable” của chúng tôi trong một khu đất dành riêng cho Trường Công Chánh. Ngoài ra “department” của chúng tôi còn có Phòng Thí Nghiệm về Thủy Ðộng Học (Hydraulics and Hydrology Laboratory), Phòng Thí Nghiệm về Cơ Học Ứng Dụng (Applied Mechanics Laboratory), phòng chứa dụng cụ về Ðịa Chánh (Field Survey Storage Area). Mỗi phòng thí nghiệm này nằm riêng trong 2 “lab portables” khác nhau.

So với các phòng nghiệm của Trường Công Chánh, Phòng Thí Nghiệm thử Vật Liệu Xây Cất (Construction Materials Testing Lab) lắm dụng cụ nhất và hay được dùng nhất trong cả hai học kỳ Mùa Thu và Mùa Ðông (Fall and Winter semesters) cho nên ông McKnight đã chấp thuận cho tôi “ở lì” trong phòng thí nghiệm này với một đường giây điện thoại riêng biệt cho tôi nữa.

Tôi chỉ có được 2 tuần lễ làm việc để trước khi nhà trường bắt đầu khóa học Mùa Thu năm 1970 và trước mắt, tôi chỉ thấy hết việc này đến việc khác phải làm xong trước cái “deadline” cắc ké này đó là chưa kể cái mối lo sợ nhất của tôi: chưa hề dậy học lần nào mà tôi lại là một người da vàng gầy nhom, mặt còn non choẹt trong một lớp học da trắng to con mà học trò tuổi từ 18 trở lên, có người còn hơn 30 tuổi và nghịch như quỷ sứ! Việc đầu tiên là phải xếp đặt và dọn dẹp tất cả các dụng cụ đang nằm ngổn ngang trong phòng thí nghiệm này. Cái khó khăn nhất là tôi phải biết được các bộ phận (parts) nào đi với các dụng cụ (equipments) nào. Tôi phải cố gắng kiên nhẫn quan sát từng thứ một trong khi đó phải định kế hoạch làm sao cho có đủ thì giờ dàn xếp công việc để có thể chỉ dẫn cho sinh viên trong phòng thí nghiệm này ngay trong ngày tựu trường của niên khóa Mùa Thu năm đó.

Trong những ngày tháng này, lúc nào tôi cũng phải lo lắng và nhiều lúc thấy sốn sang trong dạ dầy!

Ðến xế trưa, ông Trưởng Phòng John McKnight đến gặp tôi trong Phòng Thí Nghiệm:

– Chào anh bạn trẻ! (Hi, young fellow!) Anh thấy cái phòng thí nghiệm này ra sao?

-Thưa Ông, chắc tôi cần rất nhiều thì giờ để “vật lộn” với nó quá vì dụng cụ thì mỗi thứ một nơi và nhiều dụng cụ mất ốc, mất lò so và các bộ phận nho nhỏ. Tôi phải tạm thời dẹp chúng vào một bên để có chỗ làm việc cái đã.

Ông chậm rãi hút píp thuốc lá (tobaco pipe), lâu lâu lại đánh diêm châm cái píp và dùng cái píp gãi râu mép và thong thả nói với tôi:

-Tôi biết là anh sẽ vất vả với các phòng thí nghiệm này lắm nhưng thôi, mời anh lên phòng tôi, phòng 1098, lúc 1 giờ chiều hôm nay để tôi giới thiệu anh với tất cả các giáo sư và bà thư ký của Trường Công Chánh. Chúng ta sẽ họp để phân chia công việc. Gặp anh sau, OK?

Ông Trưởng Phòng lúc này cũng đã gần 60 tuổi và tôi mới 28 tuổi. Con trai duy nhất của ông cũng cỡ tuổi tôi nên ông hay gọi tôi bằng “young fellow” là vì vậỵ. Ông học xong bằng Cao Học Kỹ Sư Công Chánh (Master of Applied Science in Civil Engineering) tại Ðại Học Toronto chuyên môn về Structure (bộ môn tính toán và kiến tạo các bản vẽ trong ngành Công Chánh) trước khi tôi sinh ra đời. Ông đã từng là Kỹ Sư Trưởng về Structure (Structural Chief Engineer) tại Canada, Hoa Kỳ và Brazil.

Năm 1965 khi chính phủ tỉnh bang Ontario thiết lập 22 trường Cao Ðẳng (Community Colleges, còn được gọi là Colleges of Applied Arts and Technology), chính phủ bắt đầu tuyển lựa các Viện Trưởng (College Presidents) cho các trường Cao Ðẳng. Các vị viện trưởng này là những người đã từng có kinh nghiệm dậy tại Ðại Học, kinh nghiệm đi làm trong các hệ thống chính phủ hay công/tư sở, phải có tài tổ chức hệ thống hành chánh cho nhà trường và phải quen biết lớn trong xã hội để dễ bề móc nối (lobby) và những mong lấy thêm được phần tài trợ ngoài phần tài trợ của chính phủ cho hàng năm.

Vị Viện Trưởng đầu tiên của trường Centennial College khi tôi bắt đầu làm việc là ông John Harr. Ông Harr là người bổ nhiệm ông Khoa Trưởng đầu tiên của Phân Khoa Kỹ Thuật Frank Pounsett sau khi ông Pounsett đã được “lọt sàng” trong việc tuyển chọn của “Uỷ Ban Tuyển Chọn Khoa Trưởng Phân Khoa Kỹ Thuật”. Ông Frank Pounsett còn “già” hơn ông McKnight nữa: ông học xong Cao Học ngành Kỹ Sư Ðiện tại Ðại Học Toronto năm 1934. Ông đã từng làm Vice President của hãng Phillips of Canada trước khi ông trở thành vị Khoa Trưởng đầu tiên của Phân Khoa Kỹ Thuật (School of Engineering Technology).

Chính Phủ tỉnh bang Ontario (Ontario Provincial Government) thiết lập các trường Cao Ðẳng với mục đích chính là để đào tạo các chuyên viên có ngành nghề rõ rệt trong các phân khoa thương mại, kỹ thuật, truyền thông, y tế, mỹ nghệ, giao thông … và sau khi các sinh viên này đã ra trường, họ có “tay nghề vững chắc” và sẵn sàng làm việc ngay. Các giáo sư dậy Cao Ðẳng phải là những chuyên gia vừa có bằng cấp lại vừa có kinh nghiệm thực tiễn liên quan tới ngành họ dậy. Nhiệm vụ chính của họ là dậy học chứ không phải là làm nghiên cứu (research work) như các Giáo Sư Ðại Học. Vì những lẽ đó mà ngay từ năm 1965, khi hệ thống các trường cao đẳng được thành lập tại tỉnh bang Ontario (có 22 trường Cao Ðẳng cả thẩy), các viên chức quan trọng của mỗi College được tuyển lựa theo một quy luật chặt chẽ và rất là tỉ mỉ.

Khi tôi bắt đầu làm việc vào tháng 8 năm 1970 thì ông Pounsett đã về hưu nhưng ông vẫn còn tiếp tục làm việc với nhà trường trong chức vụ của một Cố Vấn (Consultant). Chính ông Khoa Trưởng đã phỏng vấn và bổ nhiệm ông Trưởng Phòng Công Chánh John McKnight vào năm 1966. Ông John McKnight có nhiệm vụ tuyển lựa các giáo sư và nhân viên cho Trường Công Chánh.

Các giáo sư đầu tiên của Trường Công Chánh chúng tôi gồm có (xin tạm không dùng tên thật):

  • Ông Tom Level chuyên dậy các môn về Ðịa Chánh. Ông là một Ontario Land Surveyor (Ðịa Chánh gia chuyên nghiệp, có cái triện nổi để đóng dấu trên các bản vẽ Surveying Drawings). Ông đã từng có công ty riêng với nhiều năm kinh nghiệm trong nghề.
  • Ông Don Pike chuyên dậy các môn về Ðường xá, Vật liệu xây cất, Kiều lộ và trông coi các Phòng thí nghiệm. Ông đã từng là một Kỹ Sư Chuyên Nghiệp (Professional Engineer của Hội Kỹ Sư Tỉnh Bang Ontario, có triện riêng để đóng dấu trên các bản vẽ) làm việc với Bộ Giao Thông của Tỉnh bang Ontarion (Ontario Ministry of Transportation). Vì bất đồng ý kiến với ông Trưởng Phòng John McKnight nên ông Pike đã chuyển sang một College khác và tôi được tuyển dụng để “trám vào một phần cái lỗ trống” này.
  • Ông George Sen chuyên môn dậy bộ môn Cơ Học Ðất Ðá (Soil Mechanics), Kiều lộ (Public Works). Ông là một Kỹ Sư Chuyên Nghiệp và đã từng làm việc với các hãng Kỹ Sư Cố Vấn (Consulting Engineering firms). Ông gốc người Tích Lan (Ceylon, Shri Lanka)
  • Ông Rajah Singh chuyên dậy bộ môn Tĩnh Lực Học (Statics), Cơ Học Áp Dụng  (Applied Mechanics), Sức Chịu Ðựng của Vật Liệu (Strength of Materials). Ông đã từng làm Giáo Sư dậy các môn này tại một Trường Công Binh bên Ấn Ðộ và ông cho biết Sinh Viên của Ông phần lớn đã là sĩ quan cấp tá nên ông đã thấy “quen tai” khi thấy học trò gọi ông là “Sir” rồi. Ông cũng hay gọi ông Trưởng Phòng John McKnight là “Sir” luôn!

Ông McKnight có hoài bão đào tạo các chuyên viên của trường Công Chánh tại Centennial College chuyên môn về:

  • Structure (bộ môn tính toán và kiến tạo các bản vẽ trong ngành Công Chánh): phụ giúp các Kỹ Sư Chuyên Nghiệp trong công việc tính toán (calculations), kiến tạo (design), vẽ các đồ án (drafting), ước lượng (estimating), kiểm tra (inspection) các công trình xây cất (construction projects)…
  • Field Surveying (các công trình địa chánh): phụ giúp các Ðịa Chánh gia chuyên nghiệp (Ontario Land Surveyors), các Kỹ Sư Chuyên Nghiệp (Professional Engineers) trong việc đo đường, định hình thù và các công tác xây dựng đường xá, cầu cống, cao ốc, nhà cửa, ước lượng vật liệu và giá cả (estimating)…
  • Kiều Lộ (Public Works): phụ giúp các Kỹ Sư Chuyên nghiệp về Kiến Tạo (design), Xây Cất (construction), Kiểm Tra (inspection) các đồ án như: đường xá, cầu cống, nhà máy lọc nước uống, nhà máy lọc nước cống, điều động việc hốt rác, chôn rác, hốt tuyết cho thành phố…

Mùa hè năm 1970, nhân dịp ông Don Pike từ chức, Ông Trưởng Phòng McKnight đã được phép tuyển người thay thế ông Pike đồng thời tuyển thêm 2 giáo sư khác. Ngoài tôi, hai Giáo sư khác là:

  • Ông Ian Thomas. Ông là 1 Kỹ Sư Chuyên Nghiệp và đã có 7 năm kinh nghiệm làm việc với các hãng Kỹ Sư chuyên môn xây cầu và xa lộ, đường xá trong thành phố. Ông Thomas và tôi sẽ thay thế ông Pike và chúng tôi có nhiệm vụ nghiên cứu để mở thêm các môn học mới dựa theo các môn học và kinh nghiệm sở trường của chúng tôi, điều mà ông Trưởng Phòng đã mơ ước từ mấy năm trước. Ông Thomas gốc người Trinidad, Trung Mỹ.
  • Ông Rick Chan: Ông Chan là một “Structural Engineer” chuyên về kiến tạo các kiến trúc công chánh, cùng một “lò” với ông McKnight. Ông gốc người Tầu và sinh quán tại Jamaica. Ông đã có 6 năm kinh nghiệm đi làm với chức năng của một Kỹ Sư Chuyên Nghiệp. Ông Chan sẽ phụ trách dậy các môn dính dáng tới “Structural Design” (kiến tạo các dự án), “Structural Analysis” (tính toán các sức lực trong mỗi phần của một dự án) và ông phải soạn thảo các “course outlines” (chương trình giảng dậy của môn học) liên quan tới phần “Structure” để ban giảng huấn chúng tôi bàn luận và sửa đổi cho hợp với Chương Trình Công Chánh (Civil program) học trong 2 năm hay 3 năm (Civil Engineering Technician program – 2years, and Civil Engineering Technology program  – 3 years) trước khi chúng tôi được Ủy Ban Học Trình Toàn Trường (Academic Council) của College chấp thuận trong việc giảng dậy. Những năm về sau, tất cả các chương trình dậy (Academic Programs) thí dụ như Chương Trình Ðiện Tử, Công Chánh, Cơ Khí … đều phải nộp lên cho Bộ Ðại Học và Cao Ðẳng  (Ministry of Universities and Colleges) duyệt xét để cho tất cả các chương trình dậy nghề trong 22 Colleges khác nhau được đồng đều. Vì lý do đó, ban giảng huấn chúng tôi phải sửa đổi (revise) lại cả cái Chương Trình Công Chánh gồm có biết bao nhiêu các môn học khác nhau. Công việc này tuy rất tốn thì giờ nhưng đây cũng là cơ hội để ban giảng huấn chúng tôi cập nhật hóa chương trình giảng dậy với sự trợ giúp của rất nhiều các chuyên gia đầy kinh nghiệm trong ngành nghề và hiện đang giữ những chức vụ quan trọng trong công kỹ nghệ.

Tôi là nhân vật trẻ tuổi và ít kinh nghiệm nhất trong Department. Tôi chưa kịp có nhiều kinh nghiệm đi làm ngoài đời như các bậc đàn anh nhưng tôi lại có những kinh nghiệm thực tiễn mà nhà trường đang cần và các bậc đàn anh lại không có. Tôi có 3 năm kinh nghiệm trong cương vị một Kỹ Sư Kiến Tạo Ðập Nước (Dam Design Engineer) khi tôi làm việc với chính phủ Úc. Thêm đó là 2 mùa hè tôi làm phụ tá (assistant) cho các Kỹ Sư Xây Cất (Construction Engineer) khi tôi là một sinh viên đi thực tập trong những tháng hè. Cái kinh nghiệm “quý giá” của tôi mà ông Trưởng Phòng và 2 vị giáo sư kia đánh giá khá cao là cách đo các áp lực của nước trong lòng đất (water pore pressure). Kinh nghiệm này tôi có được là do tôi phải đi khám xét (inspection) các dụng cụ đo áp lực của nước khi họ đang xây đập nước tại Wyangala Dam trong nội địa Úc. Khi tôi trở về Sydney, tôi được vào làm trong phòng thí nghiệm đo lường áp lực của nước, mức lún (consolidation) của đất dưới sức nặng của xe cộ, của các công trình xây cất … Tôi cũng đã rất may mắn được ông Kỹ Sư trưởng phòng thí nghiệm thử đất, đá của “Water Conservation and Irrigation Commission” tại Sydney chỉ dậy cho tôi rất ngọn ngành và đặc biệt là ông ta hay gọi tôi là “My Son”(“Tiểu Tử của ta”). Mỗi lần mà “Tiểu Tử” không hiểu điều gì, “Sư Phụ” lại từ tốn ngồi xuống mà giảng dậy trên giấy trắng, mực đen cho dến khi “Tiểu Tử” hiểu ngọn ngành. Nhờ vậy mà tôi thông suốt được với môn Cơ Học Ðất Ðá (Soil Mechanics) mà nhiều bạn hữu trong ngành Công Chánh của tôi ở Úc cũng như ở Canada mệnh danh là môn học đầy “bí ẩn” (mistery subject) vì sách giáo khoa hồi đó rất ít mà các phường trình thì nhiều và rất là “bí hiểm” chẳng được sách vở hay các giáo sư giải thích rõ ràng! Trong khi đó, các dụng cụ thực tập trong phòng thí nghiệm trong Ðại Học lại thô sơ mà nếu có chăng nữa thì cách sử dụng lại rất là “ở chốn dân gian không thể hiểu”! Các vị giáo sư đàn anh của tôi ở trong Department đều biết rõ điều này, ngay cả ông giáo sư và kỹ sư thâm niên nhất trong ngành – ông George Sen – đều biết đến các “điều bí ẩn” này. Không ngờ vì “Tiểu Tử” đã được “Sư Phụ” truyền dậy cho các “bí kíp” của “những điều bí ẩn” trong môn Cơ Học Ðất Ðá, “Tiểu Tử” đâm ra may mắn có một cây gậy dẫn đường cho hắn đi vào cuộc đời dậy học bất đắc dĩ lúc ban đầu khi “Tiểu tử” này chưa biết cuộc đời đi làm sẽ ngã ngũ ra sao!

Chính vì tôi có những “bí kíp” để hóa giải những “điều bí ẩn” trong cách sử dụng những dụng cụ trong phần Thí Nghiệm Thử Ðất Ðá (Soil Mechanics Testing) và các vật dụng xây cất (Construction Materials Testing) mà ông John McKnight, qua sự ưng thuận của 2 giáo sư Tom Level và George Sen,  cả 3 người này đã quyết định tuyển lựa tôi với kỳ vọng là Department của chúng tôi về sau này sẽ đào tạo được các sinh viên chuyên môn về Thử Ðất Ðá (Soils, Sands, Aggregates), Xi Măng (Cements), Bê Tông (Freshly Mixed and Hardened Concretes), Gỗ (Timber), Nhựa Ðường (Asphalts and Asphalt concretes), Kim Loại (Metals)… mà nền kỹ nghệ của Canada đang cần tuyển lựa nhiều chuyên viên trong thập niên 70 và 80.

Khi mới bắt đầu làm việc trong College này, tôi chỉ muốn “lánh nạn” trong trường ít lâu để tiếp tục đi kiếm việc làm của một Kỹ Sư Chuyên Nghiệp trong ngành Công Chánh tại Canada. Không ngờ rắng những “bí kíp” mà “Sư Phụ” đã truyền lại cho “Tiểu Tử” này đã mở đường cho tôi đi vào một ngã rẽ của cuộc đời nghề nghiệp mà lúc đầu tôi cứ nghĩ là chỉ để làm tạm thời trong lúc chờ thời cơ nhưng rồi cuộc đời dậy học về sau đã đem lại cho tôi biết bao là niềm vui và lòng phấn khởi cho nên tôi đã quyết định “ở vậy” với nó cho tới khi đủ điều kiện để về hưu non!

Ðàm Trung Phán

Mississauga, Canada

Dec.4, 2005 / Feb.6, 2020

ÐỜI ÐI DẬY: NGHỀ VÀ NGHIỆP

Ðàm Trung Phán

MỘT

Thân phụ của tôi là một nhà giáo. Lúc tôi lên tám, anh P. chín tuổi, hai anh em được theo chân thân phụ đi học xa nhà.

Vì là một nhà giáo nên thân phụ chúng tôi “gò” anh em chúng tôi dữ lắm. Không phải chỉ riêng hai đứa chúng tôi mà cụ còn “gò” tất cả các anh chị em chúng tôi kể cả các anh con của bác chúng tôi nữa. Khi còn bé tí thì cụ đã bắt chúng tôi đồ (tô) bằng bút mực các hàng chữ bút chì mà chính tay cụ viết. Chúng tôi mà tô không đúng nét hay cẩu thả thì chỉ có “ăn thước kẻ” vào tay mà thôi! Xong cái vụ “đồ chữ” là cụ dậy chúng tôi cách đọc, viết tiếng Việt, làm toán đố từ lúc mới học cho đến Lớp Nhất luôn. Ðến khi bắt đầu học tập làm luận văn và tiếng Pháp, cụ đích thân dậy từng đứa một vì cụ sợ chúng tôi bị mất căn bản ngay từ đầu. Cụ giảng nghĩa từng chữ một (vocabulaire) rồi đến phần văn phạm (grammaire), cách đặt câu và cụ bắt anh em chúng tôi phải đọc to phần lecture để xem chúng tôi đọc có đúng không.

Tôi những tưởng đã “thoát thân” sau khi học xong tiểu học. Ðâu ngờ rằng lên đến Trung Học, thân phụ chúng tôi vẫn tiếp tục dậy thêm cho anh P. và tôi môn Việt văn và Pháp văn. Vốn bản tính “thích chơi hơn thích học” nên mặc dù cụ muốn dậy cho tôi thêm chữ Hán, tôi “né” rất tài tình. Từ lúc học Ðệ Thất lên Ðệ Tứ, tôi thường phải đọc to các bài thơ văn tiếng Việt. Bố tôi nghe thấy là thế nào bố tôi cũng giải thích những chữ khó của từng câu văn để cho tôi hiểu rõ ý nghĩa của bài văn đó. Tôi thường hay gật đầu văng mạng để cho xong chuyện, xong càng sớm thì càng được đi chơi ngay với bạn bè. Anh tôi, với bản chất văn chương cho nên anh ấy hay ngồi chăm chú nghe cụ giảng bài hơn tôi vì thế mà cuộc đời về sau này, anh ấy có “vốn liếng” về văn chương nhất là chữ Hán hơn tôi nhiều.

Nhiều đêm khuya, khi mở mắt thức giấc, tôi vẫn thấy bố tôi ngồi đọc sách hay chấm bài cho nên cảm thấy “ớn đến xương sống” cái nghề đi dậy học của bố tôi. Thêm vào đó, bố tôi lại rất cẩn thận từ lời ăn, tiếng nói đến cách hành xử trong đời nữa. Vì vậy mà tôi đã hoạch định rõ ràng chương trình cho tương lai: tôi sẽ không bao giờ nối gót chân cụ vào cái nghề đi dậy đâu!

Tôi sẽ đi học Y Khoa, vì theo ý tôi nghĩ, tôi sẽ giúp ích cho thiên hạ được một cách thực tế mà ban đêm lại không phải ngồi soạn bài và chấm bài nữa. Ngoài ra, ngành Y khoa sẽ cho tôi nhiều cơ hội để đi dây, đi đó cho thỏa cái ý thích giang hồ kỳ thủy của tôi.

Thế là tôi đã có “kế hoạch” cho tương lai rồi và sau khi đậu xong Tú Tài, tôi quyết định đi học Y Khoa. Chỉ khi học dự bị Y Khoa, mới biết rằng tình trạng tài chánh của thân phụ (mẹ mất lúc tôi học Ðệ Lục) không thể cáng đáng nổi cho tôi học 7 năm Y Khoa được. Lý do chính là vì thân phụ tôi đã về hưu và cha mẹ đã trắng tay khi gia đình chúng tôi di cư vào Nam năm 1954. Tôi thi đậu vào Quân Y nhưng lại “rớt” môn sức khỏe vì lúc đó tôi quá gầy yếu.

Tôi  may mắn “thoát thân” bằng cách “thi đậu” được học bổng Colombo Plan đi học ngành kỹ sư Công Chánh tại Úc Ðại Lợi. Ít nhất thì tôi cũng sẽ tránh né được nghề đi dậy cái đã. Hồi còn học Trung Học, xem ciné thấy hình “bà chị” Marilyn Monroe chèo cái bè trên dòng sông nước đang chẩy như vỡ bờ, tôi đâm mê cái hình ảnh “bà chị” đẹp vừa khỏe mạnh lại vừa lồ lộ đang chống chỏi với dòng nước. Tôi mơ ước là ngày sau sẽ có cơ hội đi xây cất tại những nơi khỉ ho cò gáy để chế ngự những dòng nước đang lôi kéo “bà chị” xinh đẹp này. Ngành Công Chánh cho tôi ít nhiều cái đam mê của tuổi đang lớn. Tôi đã may mắn ra trường và hành nghề kỹ sư chuyên về kiến tạo (design) và xây cất (construct) các đập nước trong nội địa Úc. Ban ngày, đi làm cho chính phủ Úc, ban đêm tôi đi học part time ngành Cầu Ðường (Highway Engineering) chuyên môn kiến tạo và xây cất các đường xá và các cây cầu bắc qua các sông, ngòi. Rồi lại còn lấy vợ mà lại là vợ Việt Nam trên xứ lạ quê người nữa! Ôi chao, đời tôi sao lúc đó giống như trong mơ, đang trúng xổ số không bằng!

Nhưng mà cơn mơ của tôi bỗng đâu”đứt giây cót” và đôi vợ chồng trẻ vừa mới lấy nhau được 5 tháng thì chính tôi đã phải “dắt” vợ bay từ xứ Úc sang Canada lập nghiệp. Chuyện xẩy ra rất là đột ngột y hệt như trong loại truyện “Mission Impossible” vậy! Chúng tôi tới Vancouver trước. Ở Vanvouver, cặp vợ trồng son cùng nhau đi kiếm việc hợp với nghề nghiệp của mỗi đứa. Tôi hăng say đi gõ cửa từng hãng kỹ sư lớn của Vancouver, những mong kiếm ra việc hợp với kinh nghiệm của tôi. Nhưng hồi 1969, 1970, xứ Canada đang rất “hót” (rất hợp với chữ “hot” trong Anh ngữ!) về vụ ông Thủ Tướng Pierre Trudeau đẹp trai, trí thức, không những đã chịu chơi mà lại còn “chưa có vợ” nữa nên rất nhiều nơi họ chỉ “hót” những truyện cà kê dê ngỗng về ông Thủ Tướng “không/chưa có vợ” này mà thôi. Tôi đâm chán cái cảnh “có vợ mà không có job ở Vancouver” của tôi mà cứ phải nghe hoài cái truyện “ông thủ tướng không có vợ mà có job ngon lành ở Ottawa” này nên tôi bàn truyện với “chính phủ tại gia” (“spousal government”) về vụ rời khỏi Vancouver và chúng tôi quyết định dọn sang vùng Toronto lập nghiệp.

“Chính phủ” của tôi may mắn hơn tôi nên chỉ sau một tháng tại Toronto là nàng đã kiếm được việc. Thật hú vía, thế là cặp vợ chồng trẻ chúng tôi may mắn có đủ tiền để mua thịt cá mà ăn thay vì cái món “mì chay 7 món” cho 7 ngày trong tuần! Rồi sau đó 2 tháng “chính phủ” của tôi được thăng chức và trở thành một “Full time permanent Librarian” (Quản thủ thư viện). Thế là chúng tôi thấy vững bụng hơn và có ý định “xin nhận nơi này làm quê hương dẫu có …cãi nhau”!

Tôi vẫn tiếp tục đi kiếm việc trong ngành Công Chánh. Cái mộng kiếm được việc trong ngành xây đập nước tại Canada rất khó mà thực hiện được vì xứ Canada không còn xây đập nước như xứ Úc nữa. Rồi một hãng cho tôi việc đi kiếm quặng mỏ tại Manitoba, nơi khỉ ho cò gáy và phải đi làm ngay trong mùa đông năm đó. Trước khi tôi ra công trường để nhận việc, ông Xếp dặn tôi tới gặp ông ta ngay để hãng đưa tôi đi mua quần áo. Tôi thấy việc này “hơi lạ” và ngây thơ hỏi:

  • Sao mà tôi phải đi sắm quần áo, thưa Ông?
  • Tại vì rằng nhiệt độ có thể xuống tới -50 (trừ 50!) độ Celscius đó và anh phải có quần áo đặc biệt để chống lạnh thì anh mới làm việc được.

Nghe ông ta nói như vậy làm tôi rùng mình vì ở Toronto những lúc thấy nhiệt độ hạ xuống -20 độ C là tôi đã chịu không nổi rồi, đó là chưa kể đến cái vụ “Wind chill factor” nữa. Tôi bàn với T. (“chính phủ” của tôi) có “nên” nhận cái “job” này không vì tôi rất phân vân. Thành phố Toronto lúc bấy giờ hãy còn khá xa lạ đối với chúng tôi, bạn bè thì chỉ có 3 người quen biết và về sau này tôi mới biết rằng cả thành phố Toronto lúc đó mới có khoảng 50 người Việt Nam mà thôi. Tôi thoáng thấy T. lưỡng lự và có phần “ướt mi” nên tôi không đành lòng để T. ở lại Toronto một thân một mình. Cái yếu tố “Nhân” đã không ổn lại thêm cái yếu tố “Hàn” làm tôi lạnh phát run lên cả thân xác lẫn tinh thần cho nên tôi quyết định “tút suỵt” xin kiếu cái vụ nhận “job” này!

Những lúc T. đi làm, tôi ở nhà một mình. Chúng tôi là dân “lính mới tò te” không dám ho he đụng tới cái hầu bao vì ít tiền nên cặp uyên ương mới 26, 27 tuổi bèn đi thuê một cái “basement apartment” (căn phòng có đầy dủ tiện nghi tại dưới hầm nhà) cho đỡ tốn tiền. Tôi tiếp tục đọc báo và ra thư viện lục lọi báo chí, sách vở để dò xét các hãng nào đang cần kỹ sư công chánh. Lúc nào rảnh rỗi, tôi mang sách giáo khoa (textbooks) ra mà đọc cho “vững tay nghề” (tôi đã đóng thùng mang hết tất cả các sách giáo khoa từ Úc sang Canada). Chúng tôi không còn phải quá lo về vấn đề tài chánh nữa nhưng tôi đã phải nằm nhà mất 7 tháng trời, vả lại, tôi “cầm tinh con ngựa” nên tôi cảm thấy chồn chân nếu cứ phải ru rú ở só nhà cả ngày. Tôi lo việc chợ búa dùm T. và tôi “quen” luôn cả mấy bà bán hàng tại một cái “grocery store” gần nhà. Gặp các bà già là truyện nổ như pháo và họ thường hay hỏi vụ đi kiếm việc đã đến đâu rồi.

Mùa Xuân đến, mùa Xuân vào đầu tháng 5 năm 1970 của chúng tôi thật đẹp tuyệt trần đời sau mấy tháng mùa Ðông băng đá, tuyết lạnh cóng. Chim hót, hoa nở và đi lại dễ dàng biết bao nhiêu so với những tháng mùa Ðông và nhất là tôi không còn phải giam mình trong cái “basement apartment” suốt ngày để tránh cái lạnh nữa. Lúc này, đọc báo, tôi thấy có nhiều hãng kỹ sư (consulting engineering firms) đang cần các nhân viên thử đất, đá, bê tông. Tôi chán cảnh ngồi nhà đợi chờ công việc ngon lành đến, tôi bắc điện thoại và xin đại cái việc tạm thời này. Họ mướn tôi ngay vì tôi đã có khá nhiều kinh nghiệm về phần thử vật liệu (construction material testing) rồi. Công việc này cần phải làm việc bằng tay chân hơn là ngồi tính toán nhưng tôi cảm thấy thoải mái vì ngày nào tôi cũng “đi làm” như ai! Tôi vẫn tiếp tục đọc báo và tôi thấy một số trường Cao Ðẳng (Community College hay College of Applied Arts and Technology) tại tỉnh bang Ontario đang cần nhiều nhân viên kỹ thuật và giáo chức. Tôi thầm nghĩ:

  • Thì mình cứ đi xin việc để “thử thời vận” với các College này. Nếu được “job”, ta sẽ làm tạm thời trong vòng 1, 2 năm. Sau đó, ta sẽ đi kiếm việc Kỹ Sư sau. Cứ coi như đây là thời kỳ chuyển tiếp mà thôi!

Bắt đầu từ năm 1965, tỉnh bang Ontario thiết lập các trường Cao Ðẳng để đào tạo các chuyên viên về Kỹ Thuật, Kế Toán, Thương Mại, Y Tế, Giao Thông …mà các trường Ðại Học không thể đào tạo được. Nền Kinh Tế của Canada hồi đó rất mạnh nên các trường Cao Ðẳng của tỉnh bang Ontario (22 Colleges cả thẩy) được chính phủ tỉnh bang (Provincial Government) và chính phủ liên bang (Federal Government) tài trợ tối đa. Vì lý do đó mà các trường Cao Ðẳng có đủ ngân quỹ để thuê thêm các giáo sư và nhân viên nhà trường. Tôi thấy 2 trường Cao Ðẳng đăng báo cần nhân viên làm trong Phòng Thí Nghiệm của Ngành Công Chánh: Loyalist College và Centennial College. Những kinh nghiệm mà họ đòi hỏi phần lớn tôi đã có khi tôi còn là sinh viên đi thực tập ngành nghề trong những tháng hè tại nội địa Úc. Tôi nộp đơn xin việc tại cả 2 nơi đó.

Loyalist College nằm tại Belleville cách xa Toronto khoảng 2 tiếng lái xe gọi tôi tới “interview” trước. Họ rất “impressed” (“mát ruột”) với kinh nghiệm và bằng cấp của tôi trong lúc nói truyện nhưng sau đó họ đã trả lời trên lá thư “rất tiếc là chúng tôi đã kiếm được người ngay tại trong College rồi”!

Tôi không hề tiếc là tôi không được trường Loyalist cho việc làm vì như vậy cặp vợ chồng trẻ chúng tôi lại phải sống xa nhau trong tuần. Chẳng lẽ T. lại phải bỏ công ăn việc làm ngon lành tại Toronto để mà theo tôi xuống cái “tỉnh lẻ đêm buồn”này sao?

Ngày hôm sau, tôi vừa mới “đi làm” về thì ông John McKnight gọi điện thoại cho tôi:

  • Tôi là Giáo Sư Trưởng Phòng (hồi đó tên tiếng Anh là Chairman) của ngành Công Chánh tại Centennial College. Tôi muốn ông đến gặp tôi càng sớm càng tốt vì chúng tôi muốn “interview” ông!

Tôi tới gặp ông John McKnight ngay ngày hôm sau. Sau khi chào hỏi vài nói vài câu xã giao, ông vào đề ngay:

  • Tôi thực sự không hiểu tại sao mà anh (young fellow) lại bỏ xứ Úc mà sang cái xứ Canada lạnh như quỷ này (cold like hell!) để mà lập nghiệp?
  • Thưa Giáo Sư Trưởng Phòng, chẳng nói dấu gì ông: tôi không phải là dân có quốc tịch Úc. Tôi chỉ là một sinh viên du học có quốc tịch Việt Nam đã tốt nghiệp và tôi đi làm với chức vụ của một Kỹ Sư Kiến Tạo (design engineer) với chính phủ Úc chuyên về xây cất các đập nước. Quê hương tôi đang có chiến tranh khốc liệt. Cha tôi già rồi, già hơn cả ông Chairman nữa và cha tôi khuyên tôi phải ở lại ngoại quốc vì sau biến cố Mậu Thân 1968, rất có thể là Miền Nam nước Việt (South Viet Nam) chúng tôi sẽ mất vào tay Cộng Sản. Tôi cũng nghĩ như cha tôi nên tôi không muốn phải trở về Việt Nam rồi kẹt lại với Cộng Sản vì thế cho nên tôi đã phải tìm cách ở lại ngoại quốc. Tôi không được phép ở lại Úc vì tôi là dân học bổng Colombo Plan. Tôi có giấy tờ đi Pháp. Tôi cũng đã nộp đơn đi Brazil nhưng tôi đã chọn Canada vì tôi nghĩ rằng trên phương diện nghề nghiệp và học vấn, Canada sẽ thích hợp với tôi và vợ tôi hơn!

Ông John McKnight im lặng một hồi và ông ta tiếp tục:

  •  Anh à, thú thực với anh là con trai duy nhất của tôi nó trẻ hơn anh 2, 3 tuổi và cũng vừa mới tốt nghiệp Kỹ Sư Công Chánh như anh và tôi. Nếu mà hắn gặp khó khăn như anh tại ngoại quốc, tôi chẳng biết phải làm gì để giúp hắn nữa! À mà tôi tưởng người Úc chỉ uống bia thôi, họ đâu có uống nước thì họ xây đập nước làm gì nhỉ?

Nói rồi, ông lấy cái píp (pipe) gãi gãi cái râu mép và mỉm cười hiền hậu. Tôi cảm thấy những lời nói của ông đối với tôi như lời của một người cha già đang nói với một đứa con trai đang đi vào nghề vậy. Ông cho tôi biết ông đã tốt nghiệp bằng Cao Học về Công Chánh năm 1939 tại Ðại Học Toronto, trước khi tôi ra đời! Ông muốn biết những môn tôi học bên Úc vì ông muốn được “cập nhật hóa” ngành nghề nhất là môn Cơ Học Về Ðất Ðá (Soil Mechanics); môn học này còn khá mới mẻ trong thập niên 60 và dĩ nhiên ông không hề biết gì về môn này hết vì ông đã ra trường trước đó 30 năm. Môn Soil Mechanics đang là môn rất “hót” (hot) trong kỹ nghệ tại Úc cũng như tại Canada và cũng khá “hóc búa” (hard to swallow) trong việc giảng-dậy (teaching-learning process) tại Ðại Học cũng như tại College. Ông cũng muốn biết tôi có những kinh nghiệm gì trong Phòng Thí Nghiệm về thử các vật liệu xây cất (construction materials testing laboratory) như đất, đá, cát, bê tông, xi măng, kim loại, gỗ và nhựa đường. Ông cho biết Phân Khoa Kỹ Thuật của College đang đi kiếm một chuyên viên có khả năng và kinh nghiệm để chỉ dẫn cho sinh viên các thí nghiệm liên qua tới môn Soil Mechanics và thử nghiệm các vật dụng xây cất. Thật quả là một cái may mắn bất ngờ cho tôi là vì trong 2 mùa hè đi thực tập tại nhà máy điện Munmorah và đập nước Wyangala Dam tôi đã phải vào làm việc trong các phòng thí nghiệm cũng như đi ra ngoài công trường để khám xét các phần đã và đang được xây cất. Sau khi ra trường rồi, trong chức vụ Kỹ Sư Kiến Tạo, tôi còn phải chọn lựa đất (soils), đá (aggregates), cát (sands), xi măng (hydraulic cements), bê tông (concretes) để xây các đập nước khác cho nên tôi cảm thấy rất vững bụng khi tôi mô tả từng phần cho ông McKnight nghe. Tôi biết sử dụng rất nhiều các dụng cụ trong phòng thí nghiệm và nếu cần, tôi còn có thể sửa chữa các dụng cụ này nữa.

Ông còn hỏi tôi thêm về các môn học trong ngành Ðường Xá (Highway Engineering) cấp Cao Học và các kinh nghiệm mà tôi đã liệt kê trong cái “Résumé” (tờ khai về học vấn và kinh nghiệm). Những năm sau này, khi đã dậy một thời gian dài và trở thành Giáo Sư Trưởng Phòng tại College, tôi mới biết những cái khó khăn mà ông McKnight đã gặp phải: nhiều giáo sư rất lúng túng khi phải dậy một môn mới lý do là vì hoặc là họ không thông suốt môn học hay là vì không soạn bài kỹ càng.Vị Giáo Sư trưởng phòng phải nghe sinh viên than phiền đến đau cái đầu. Ngoài ra còn có cái rủi này nữa: khi mà một vị giáo sư nào đau yếu và phải tạm nghỉ dậy, nhà trường rất khó mà có thể kiếm người vào dậy thay cho vị giáo sư đó.Ông McKnight có ý định dùng tôi làm giáo sư thay thế các giáo sư này (giống như các supply teachers ở Trung Học vậy) trong khi đó nhiệm vụ chính của tôi là trông coi các phòng thí nghiệm như Phòng Thí Nghiệ thử Vật Liệu (Construction Materials testing laboratory), Phòng Thí Nghiệm về Thủy Ðộng Học (Hydraulics laboratory), Phòng Thí Nghiệm về Cơ Học Ứng Dụng (Applied Mechanics lab), Phòng Vẽ Kỹ Thuật (Civil Drafting Room) và ngay cả phòng chứa dụng cụ Ðịa Chánh nữa (Surveying Storage).

Sau hơn 90 phút “hỏi cung” tôi, ông McKnight dẫn tôi sang phòng hai ông giáo sư đã đứng tuổi. Hai ông này dẫn tôi đi xem hết tất cả các phòng thí nghiệm và kho chứa dụng cụ Ðịa Chánh. Tại mỗi nơi, hai ông thay phiên nhau hỏi tôi về những kinh nghiệm và lý thuyết của từng môn học liên quan tới các phòng thí nghiệm nàỵ. Hai ông còn hỏi tôi đã có kinh nghiệm giảng dậy chưa. Các kinh nghiệm về làm thí nghiệm thì tôi có khá nhiều nhưng kinh nghiệm dậy học thì tôi chưa bao giờ có và tôi nói với họ như vậy. Nhiệm vụ của hai vị giáo sư này là để họ nhận xét về cách tôi trả lời, cách tôi giảng giải để họ chấm điểm thêm về tôi (“their second opinion about me”) lý do chính là về sau này, tôi sẽ phải làm việc trực tiếp và trợ giúp họ trong những phòng thí nghiệm này.

Sau tất cả 3 tiếng đồng hồ tôi bị “hỏi cung” trong cái “job interview” này, ông Trưởng Phòng -sau khi đã thảo luận với hai vị giáo sư kia- đã nói với tôi:

  • Này anh bạn trẻ (young fellow), tôi không có quyền bổ nhiệm anh nhưng tôi sẽ đề nghị với nhà trường tuyển anh vào làm việc với chúng tôi trong Ngành Công Chánh. Tôi và nhà trường sẽ quyết định về lương bổng cho anh, tôi sẽ cố gắng nói College cho anh hưởng tiền lương tối đa, OK? Anh sẽ làm phụ tá (Laboratory Demonstrator) trông nom tất cả các phòng thí nghiệm. Vài năm sau, khi anh có đủ kinh nghiệm dậy học và Chương Trình Công Chính (Civil Technology Program) có đủ sinh viên, anh sẽ trở thành giáo sư, OK không? Thôi anh về đi, có gì tôi sẽ gọi điện thoại báo tin cho anh sau.

Trên đường về, tôi cảm thấy thoải mái và vui vẻ, chẳng bù với lúc tôi trên đường tới trường lo nghĩ đủ thứ trước khi tôi “được interview”! Tuy nhiên, sau nhiều lần đọc thư của các hãng trả lời, tôi không thực sự dám “tin lời hứa” của ông John McKnight nữa, nhất là sau cái kinh nghiệm với trường Loyalist.

Hai hôm sau, ông Trưởng Phòng gọi điện thoại cho tôi:

  • Anh được nhà trường chấp thuận cho việc làm rồi đó. Tôi có lời chúc mừng cùng anh. Anh có thể đến trường gặp tôi ngay ngày hôm nay được không vì chúng tôi muốn anh đi khám bệnh và làm các thủ tục hành chánh ngay lập tức. Nhớ là mình chỉ còn có hơn 2 tuần nữa là tựu trường rồi đó!

Ðây thực sự là một tin mừng về công ăn việc làm cho tôi, đúng một năm sau khi chúng tôi bỡ ngỡ đặt chân tới miền đất mới này. Trong vòng 2 năm trước đó tôi đã có rất nhiều việc phải lo liệu: học hành, làm việc overtime bù đầu, xin giấy tờ đi Pháp, đi Brazil, đi Canada và nhất là việc tôi đi … lấy vợ nữa! Bây giờ tôi có việc làm trong phòng thí nghiệm với các giáo sư và học trò, mặc dù chưa thực sự là việc mà tôi mong ước nhưng ít nhất tôi cũng có công ăn việc làm không đến nỗi cho lắm và tôi bắt đầu cuộc đời thực sự lưu vong giống như những ngày tháng trước nhưng lại ở một miền “đất hứa thật mới lạ này”.

Tôi những tưởng tôi sẽ tránh né được cái nghiệp đi d ậy giống như cái nghiệp đi dậy học của cha tôi và các cụ tổ trong dòng họ nội của tôi. Tôi cũng không có thể ngờ rằng tôi đang dần dần đi vào cái nghề và cái nghiệp đi dậy kéo dài trong suốt thời gian đi làm của tôi tại Canada. Tôi đã cố trốn tránh nghề đi dậy vì tôi đã có thành kiến với nó lúc ban đầu nhưng rồi dần dần tôi lại rất yêu cái nghề và nghiệp này của tôi cho đến khi tôi về hưu non sau 32 năm trong đời đi dậy.

Ðàm Trung Phán

Giáo Sư hồi hưu

Toronto, Canada

Sept.6, 2005 / Feb 2020

Việt Nam

Việt Nam

Kiếm tiền online

Kiếm tiền tại nhà hàng ngày . các cách kiếm tiền free online

Shop Mỹ Phẩm - Nước Hoa

Số 7, Lê Văn Thịnh,Bình Trưng Đông,Quận 2,HCM,Việt Nam.

Công phu Trà Đạo

Trà Đạo là một nghệ thuật đòi hỏi ít nhiều công phu

tranlucsaigon

Trăm năm trong cõi người ta...

Nhạc Nhẽo

Âm thanh.... trong ... Tịch mịch !!!

~~~~ Thơ Thẩn ~~~~

.....Chỗ Vơ Vẩn

Nguyễn Đàm Duy Trung's Blog

Trang Thơ Nguyễn Đàm Duy Trung

%d bloggers like this: