Nhân kỷ niệm 50 năm Quốc nạn 30/4/1975, tôi xin gởi đến quý độc giả loạt bài Nhìn lại Quá Khứ, Định Hướng Tương Lai với niềm lạc quan “qua cơn bĩ cực đến hồi thái lai”. Thời bĩ cực của quá khứ bi thảm đã qua, tiếp theo là hồi thái lai, tương lai huy hoàng sẽ đến. Trong quá khứ các thế hệ cha anh đi trước đã hy sinh xương máu quá nhiều vì đại nghĩa dân tộc vì tương lai con cháu mai sau. Và bất cứ sự mất mác, đau thương nào cũng sẽ được đền bù xứng đáng. Người đi trước đã gieo nhân lành, người đi sau tất phải gặt quả tốt. Gieo càng nhiều, gặt càng lớn. Đó là lẽ đương nhiên của luật Nhân Quả.
Tôi vừa viết xong bộ Sử Lược Việt Nam Thời Cận-Hiện-Đại từ năm 1920.đến ngày nay. Trong quyển sử này tôi viết lịch sử chỉ dưới khía cạnh nhân quả mà thôi, trong bối cảnh đất nước ta là đấu trường chính của Chiến tranh Lạnh. Đây là biến cố quan trọng nhất của thế kỷ vừa qua: cuộc xung đột giữa hai chủ nghĩa đối lập: tư bản và cộng sản, giữa Hoa Kỳ và Liên Xô.
Theo nhà báo lão thành Nguyễn Tú (1924-2010) lịch sử ghi lại những sự kiện xảy ra theo đúng nguyên trạng, từ đó các sử gia sắp xếp có suy nghĩ để tạo thành một toàn cảnh chung giúp họ nhìn thấy rõ các sự kiện trong tiến trình xảy ra mà viết thành sử. Lịch sử -bất luận ở thời đại nào, bất cứ ở nơi đâu, xưa nay, đều không bao giờ có chuyện “ngẫu nhiên”. Lịch sử theo một quy luận bất di bất dịch là quy luật “nhân quả”, để nhận định, mà không cần phán xét rườm rà; còn người đời, có thể “tùy nghi”. Lịch sử đứng trên tất cả vì tính chất vô tính, vô tình và vô thần của nó. Lịch sử cũng không cần được ban cho hai chữ “khách quan”, Lịch sử là lịch sử thế thôi.
Quyển sử này còn nhằm góp phần giải đáp những vấn nạn do cụ sử gia Trần Trọng Kim đề cập từ 75 năm trước (1949) trong hồi ký Một Cơn Gió Bụi. Cụ là thủ tướng đầu tiên khi đất nước bước vào kỷ nguyện độc lập, cụ vốn không thích chính sách bá đạo của người Nhật, nhưng họ lại tìm cách đưa cụ làm thủ tướng hồi năm 1945. Cụ giải bày: “Thế mà tự đâu nó bắt buộc tôi làm những việc tôi không muốn làm. Hình như ngoài cuộc nhân sinh vật chất của người ta, có cái thế lực u uẩn, huyền bí, an bài hết cả mọi việc theo cái nghiệp của từng người, giống như một tấn tuồng sắp đem ra diễn, đã có người xếp đặt đâu đấy cả rồi, ai đóng vai trò nào là phải đóng cho hết trò, chứ không từ chối được. Nhà triết học nói đó là cái nhân quả tự nhiên của các sự vật, chứ không có gì lạ. Nói đúng lắm, song tìm cho ra cái nhân và biết được cái quả không phải là việc dễ.
Theo thiển kiến của tôi, “cái thế lực u uẩn, huyền bí” mà cụ Trần đã đề cập, chính là hai thế lực đã chế ngự thế gian này trong thế kỷ vừa qua, đó là Hoa Kỳ và Liên Xô. Giữa thế kỷ trước, hai thế lực này vừa mới lộ hình, chưa lộ rõ chân tướng của nó, nên cụ Trần chỉ mường tượng đó là thế lực huyền bí, vô hình. Và vì thế “Tìm cho ra cái nhân và biết được cái quả không phải là việc dễ”.
Trong quyển Sử Lược đất nước ta thời cận hiện đại, tôi trình bày tuần tự lớp lang từng giai đoạn một của lịch sử từ lúc khởi đầu đến hồi kết cuộc. Theo dõi các hoạt động của ba thế lực Nga, Mỹ, Trung Quốc, đặc biệt về nhân vật Hồ Chí Minh và những người kế nghiệp ông sau này, độc giả sẽ thấy được cái Nhân và biết được cái Quả. Những hoạt động đó tạo ra chuổi nhân quả tiếp nối nhau, từ cái nhân tạo ra cái quả; giải quyết cái quả xong lại tạo ra cái nhân mới, cứ thế xoay vần, nhân sinh ra quả, rồi quả tạo ra nhân tiếp diễn suốt dòng lịch sử trong 100 năm qua. Bộ Sử Lược Việt Nam thời cận hiện đại cũng là một phần trong bộ Thế giới sử trong thế kỷ vừa qua.
Ba sự kiện lớn của thế giới trong thế kỷ vừa qua:
*Một là Sự dấn thân của Hoa Kỳ vào chính trường thế giới để mang lại hòa bình cho các nước.
* Hai là Sự ra đời và kết thúc của Liên bang Xô Viết và Đảng Cộng sản và các nước Đông Âu.
*Ba là Chiến tranh Việt Nam và mối liên hệ chồng chéo giữa Hoa Kỳ, Trung Quốc và Cộng sản Việt Nam
Quyển Việt Nam Sử Lược Đại Cương Thời Cận-Hiện Đại bắt đầu từ năm 1920, nhưng thật ra những dấu ấn lịch sử quan trọng diễn ra sau đó đã khởi nguồn từ vài ba năm trước với sự xuất hiện của hai cường lực trên đấu trường chính trị thế giới hồi đầu thế kỷ 20. Đó là Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ và Cộng sản Nga Xô Viết, ngoài ra còn có sự xuất hiện của Nguyễn Tất Thành, sau đó lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, năm 1930 ông sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1942 ông đổi tên là Hồ Chí Minh, ba năm sau ông thực hiện cuộc Cách mạng mùa Thu tháng 8, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945 và làm chủ tịch nước cho đến khi qua đời ngày 3/9/1969.
Để thực hiện hoài bão xuất ngoại tìm đường cứu nước, năm 1911 Nguyễn Tất Thành rời bến Nhà Rồng (Sàigòn) đi Pháp cùng thời với lãnh tụ Cách mạng Việt Nam -cụ Phan Chu Trinh. Tại Paris cụ Phan qui tụ một số thanh niên Tây học yêu nước như tiến sĩ Phan Văn Trường, kỹ sư Nguyễn Thế Truyền, nhà báo Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành, con Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, bạn đồng khoa và tù Côn đảo của cụ. Nhờ mối thân tình này, Nguyễn Tất Thành được hoạt động trong nhóm báo chí của cụ Phan. Đó là nhóm Ngũ Long -5 con Rồng An-nam, họ viết báo và diễn thuyết để khơi động lòng yêu nước của kiều bào Việt Nam ở Pháp trong giai đoạn mà những nguyên tắc của tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson về việc giải trừ chế độ thuộc địa được dư luận thế giới ủng hộ mạnh mẽ.
Hai thế lực Nga Mỹ đều xuất hiện trong Thế chiến thứ nhất (1914-1918). Chiến tranh khiến nền kinh tế Nga suy yếu, mức sản xuất giảm sút trầm trọng, nạn đói xảy ra ở nhiều vùng nông thôn, người dân xuống đường biểu tình, công nhân đình công ở thủ đô Petrograd. Khủng hoảng kinh tế dẫn đến khủng hoảng chính trị đưa đến Cách mạng tháng Hai 1917 do giới tư sản lãnh đạo, lật đổ Nga hoàng Nicholas II khai sinh nước Cộng hòa Nga, kết thúc sự thống trị của triều đại Romanov và đế chế Nga. Lúc bấy giờ Vladimir Iliych Lenin -lãnh tụ đảng Cộng sản Nga Bolshevik đang sống lưu vong ở Thụy sĩ, được tin chính biến ở quê nhà, ông cấp tốc trở về nước để giành chính quyền. Nga là đối thủ của Đức trong chiến tranh, do đó để làm suy yếu, chia rẽ kẻ thù, chính quyền Đức tạo cơ hội giúp Lenin và đồng đảng dùng xe lữa xuyên qua lãnh thổ Đức trở về Nga vào tháng Tư năm 1917.
Lenin đưa ra khẩu hiệu “Hòa bình, bánh mì và ruộng đất” để đáp ứng khát vọng của dân Nga lúc bấy giờ, nhờ đóông tập hợp được đông đảo quần chúng nhất là giới công nhân và nông dân vùng lên đấu tranh, nổi dậy khắp nước Nga. Đến ngày 7/11/1917 (theo lịch Julius là tháng 10), cuộc Cách mạng tháng Mười Nga đã thành công, lật đổ Chính phủ Lâm thời của giai cấp tư sản và lập ra nhà nước cộng sản đầu tiên trên thế giới.
Ngay sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười, sắc lệnh đầu tiên của chính quyền Xô Viết là Sắc lệnh Hòa bình với khẩu hiệu “hòa bình cho các dân tộc” được Lenin ký ban hành ngày 28/10/1917. Vì mục tiêu này, ngày 3/3/1918 Nga Xô Viết đã ký hiệp ước hòa bình riêng rẽ với Đức-Phổ ở Brest Litovsk để rút lui khỏi Thế chiến I sau khi chịu bồi thường cho Đức 1 tỷ rúp vàng và để cho quân Đức chiếm đóng một vùng lãnh thổ rộng lớn với 46 triệu dân. Tháng 3 năm trước, Đức đã giúp Lenin về nước để giành chính quyền, nay Nga trả ơn bằng hiệp định hòa bình với Đức. Theo Lenin, đó là điều cần thiết, Nga Xô viết đã buộc phải hy sinh những lợi ích khác để giữ được lợi ích căn bản là sự tồn tại của chính quyền Xô Viết.
Ký hòa ước nhượng bộ Đức ở Brest Litovst, Lenin đã không ngăn được ý đồ xâm lược của Đức mà còn phản bội đồng minh, bị các nước tư bản bao vây phong tỏa, nhưng may mắn cho Nga Xô Viết là các nước đó đều kiệt quệ sau 4 năm chiến tranh từ 1914 đến 1918. Lúc bấy giờ Winston Churchill với tư cách bộ trưởng Quốc phòng đã đề nghị chính phủ Hoàng gia Anh gởi quân sang Nga để bóp chết “hài nhi Cách mạng Bolshevik trong trứng nước” vì chủ nghĩa cộng sản sẽ đe dọa đến quyền lợi của đế quốc Anh. Nhưng vì Anh Quốc bị tổn thất nặng nề với gần 80 vạn binh sĩ thương vonng và 6700 triệu bảng Anh chiến phí sau 4 năm chiến tranh với Đức, nên thủ tướng Lloyd George ra lệnh rút quân về nước.
Sau khi giải phóng nước Nga khỏi chế độ phong kiến, Lenin còn muốn giải phóng tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Năm 1919 ông thành lập Quốc tế III (Cộng sản), đưa ra khẩu hiệu “Đoàn kết quốc tế giữa giai cấp vô sản và các dân tộc thuộc địa”. Lenin coi việc giải phóng các nước thuộc địa là một phần chủ yếu của cách mạng vô sản thế giới. Ông cho rằng “Công cuộc giải phóng dân tộc, giành độc lập và dân chủ chỉ có thể đi đến thắng lợi triệt để khi nó trở thành một bộ phận khắng khít của cách mạng vô sản thế giới, phải hướng đúng vào xu thế phát triển tất yếu của xã hội loài người trong xã hội ngày nay là tiến lên chủ nghĩa xã hội, phải dựa vào sự giúp đỡ và ủng hộ của thành trì cách mạng thế giới là Nga Sô và phải đi vào quỹ đạo Quốc tế cộng sản”.
Về phần Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, đất nước này ra đời sau cuộc Cách mạng năm 1776 và từ giữa năm 1917 lần đầu tiên họ can dự trực tiếp vào cuộc chiến ở Âu Châu, đó là Đại chiến Thế giới lần thứ nhất (1914-1918). Khi cuộc chiến này bùng nổ, họ vẫn còn duy trì nguyên tắc mà vị tổng thống thứ ba của họ là Thomas Jefferson đề ra là “Gây tình hữu nghị chân thành với mọi quốc gia, cố tránh liên hệ vào mọi liên kết tai hại đến quyền lợi của Hiệp Chúng Quốc”. Do đó Hoa Kỳ đứng hoàn toàn trung lập trong cuộc chiến Âu châu, nhưng mấy năm sau, khi cuộc chiến lan rộng gây nhiều ảnh hưởng tai hại đến quyền lợi của Hoa Kỳ vì Âu châu là thị trường quan trọng nhất của họ lúc bấy giờ nên tổng thống Woodraw Wilson kêu gọi vãn hồi hòa bình bằng thương thuyết.
Từ tháng 2 năm 1917, Đức đe dọa tấn công các tàu bè trung lập, nhiều thương thuyền Hoa Kỳ bị tàu ngầm Đức đánh chìm. Ngày 2/4/1917 tổng thống Wilson gởi đến Quốc hội một thông điệp cho biết “chiến tranh chống chính phủ quân phiệt Đức là một điều không thể tránh khỏi”. Bốn ngày sau, Quốc hội biểu quyết với đa số phiếu chấp nhận cuộc chiến mà Wilson đề nghị với Quốc hội như là một cuộc thánh chiến “để xây đấp hòa bình vĩnh cửu của thế giới, quyền tự do của các dân tộc và nhất là để bảo vệ nền dân chủ”. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử của họ, Hoa Kỳ sẳn sàng hy sinh “xương máu và sức lực vì những nguyên tắc đã sản sinh ra quốc gia của họ”. Theo quan niệm Phật giáo, đây cái nghiệp của nước Mỹ.
Gần hai triệu thanh niên Mỹ được gởi sang Âu châu chiến đấu, Wilson giải thích: “Sự tham chiến của các nước dân chủ là để chống chế độ quân phiệt Đức, chớ không phải chiến đấu chống nhân dân Đức mà chính phủ Hoa Kỳ đầy lòng tôn trọng và mến chuộng”.
Trong diễn văn ngày 7/1/1918 Wilson chủ trương kiến tạo một nền hòa bình cho cả đôi bên, một nền hòa bình không có kẻ chiến thắng có nghĩa là không phe nào có thể lợi dụng để giành chiến thắng và Hoa Kỳ sẽ đóng vai trò trung gian để giúp các bên giải quyết cuộc chiến. Wilson đưa ra 14 điểm làm căn bản cho một nền hòa bình hợp chính nghĩa: bãi bỏ những thỏa hiệp bí mật trên chính trường quốc tế. -Bảo đảm tự do lưu thông trên mặt biển. -Bãi bỏ rào cản kinh tế giữa các nước. -Tài giảm binh bị đến mức tối thiểu chỉ đủ bảo đảm nền an ninh quốc gia. -Quy định quyền hạn đế quốc trong việc tôn trọng quyền lợi của các dân tộc chưa được tự trị. -Bảo đảm quyền dân tộc tự quyết và tự do phát triển kinh tế. -Thiết lập một cơ cấu quốc tế bảo đảm lẫn nhau nền độc lập về chính trị cũng như sự toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia.
Tháng 10/1918 quân Mỹ tấn công hai mục tiêu trên sông Meuse và Argonne, bẻ gãy chiến tuyến Hinderbourg, chính phủ Đức kêu gọi Mỹ nghị hòa trên căn bản 14 điểm của Wilson. Ngày 11/11/1918 hiệp định đình chiến được ký kết, chấm dứt Thế chiến thứ nhất.
Sau khi đóng góp vào các nổ lực quốc tế chấm dứt Thế chiến I với gần 12 vạn binh sĩ tử thương, hơn 20 vạn bị thương, 10,350 triệu đô la cho đồng minh vay mượn, tháng 6/1919 Hoa Kỳ và các nước chiến thắng đến Paris tham dự hội nghị hòa bình Versailles, thảo luận việc xây dựng một cơ cấu hòa bình cho thế giới. Wilson tuyên bố sở dĩ nhân dân Hoa Kỳ đã cùng các nước đồng minh sát cánh chiến đấu trong cuộc chiến lên đến cực điểm chỉ vì mục tiêu tối hậu là quyền tự do của con người. Họ đã ủng hộ 14 điểm do ông đề ra: “Đó là nguyên tắc công bằng cho mọi dân tộc, mọi quốc gia và quyền của họ được sống bình đẳng với nhau trong tự do và an toàn bất kể các quốc gia, các dân tộc đó lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu”. Wilson tin tưởng Hội Quốc Liên mà ông thành lập sẽ duy trì mãi mãi cách cư xử đúng đắn đó đối với mọi dân tộc.
Khi hội nghị Versailles nhóm họp ở Paris, Nguyễn Tất Thành gởi đến ngoại trưởng Hoa Kỳ Robert Lansing và ngoại trưởng các nước tham dự hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An-nam bằng tiếng Pháp đề ngày 18/6/1919. Bản yêu sách này do nhóm báo chí của cụ Phan Chu Trinh soạn thảo, được ký tên chung là Nguyễn Ái Quốc với nội dung yêu cầu Hoa Kỳ và Hội Quốc Liên can thiệp buộc Pháp sửa đổi chính sách thuộc địa ở Việt Nam theo tinh thần dân tộc tự quyết vừa được Hoa Kỳ đề ra.
Điều đáng tiếc là hội nghị hòa bình Wersailles thất bại, Anh và Pháp chỉ muốn áp đặt điều kiện hòa bình thay vì thương thuyết hòa bình với Đức, họ buộc kẻ bại trận phải cắt đất bồi thường chiến tranh nặng nề. Chán nản trước thái độ thiễn cận, hẹp hòi của Anh Pháp, Quốc hội Mỹ không phê chuẩn Hiệp ước hòa bình Versailles và Hiến chương Hội Quốc Liên đã được 27 quốc gia công nhận, đồng thời tuyên bố chấm dứt tình trạng chiến tranh với Đức và rút ra khỏi liên minh với Anh, Pháp. Từ đây Hoa Kỳ trở lại chính sách biệt lập cố hữu.
Sự kiện này đã tác động lớn đến xu hướng chính trị của ông Hồ Chí Minh, lúc bấy giờ mang tên Nguyễn Ái Quốc. Ngay bước đầu dấn thân vào con đường chính trị, ông đã có sự ngộ nhận về chính sách của Hoa Kỳ. Ông không còn tin tưởng vào Hoa Kỳ sẽ giúp Việt Nam được quyền dân tộc tự quyết, nên hướng về Nga Xô, tìm chỗ dựa ở thế lực cộng sản để giải phóng dân tộc. Tại Đại hội Tours năm 1920, ông cùng những đảng viên Đảng Xã hội Pháp (Quốc tế II) có khuynh hướng thiên tả bỏ phiếu tán đồng Quốc tế III, đưa đến việc thành lập Đảng Cộng sản Pháp.
Mùa Hè năm 1923, với tư cách đại biểu các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh được Đảng Cộng sản Pháp gởi đến Moscow tham dự Đại hội Nông dân Quốc tế và các Đại hội 3 vả 5 của Quốc tế Cộng sản và được cử vào Ban Chấp hành Trung ương. Ông ở Nga một năm và được bồi dưỡng nghiệp vụ tại trường Đại học Công nhân Đông phương. Cuối năm 1924, ông Hồ được Quốc tế Cộng sản gởi đi Trung Quốc làm thông ngôn và thư ký cho Porodine, trưởng phái bộ Nga tại Quảng Châu, thủ đô hành chánh của Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Nơi đây ông Hồ Chí Minh đã thành lập tổ chức cộng sản bí mật đầu tiên là Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội và truyền bá học thuyết Mác-Lê cho những thanh niên Việt Nam đang theo học tại Học viện Quân Chính Hoàng Phố.
Vô hình trung, ông Hồ Chí Minh trở thành nhân tố lôi kéo Hoa Kỳ và Liên Xô can dự vào nội tình Việt Nam. Hậu quả là khi Đại chiến Thế giới lần thứ hai -Thế chiến II (1939-1945) vừa chấm dứt, Việt Nam gánh chịu một cuộc chiến tàn khốc kéo dài gần nửa cuối thế kỷ 20, và những di sản của chiến tranh vẫn còn tác động nặng nề đến cục diện đất nước ngày nay.
Thảm họa chiến tranh và chủ trương ngăn chận của Hoa Kỳ: Chiến tranh đem lại muôn vàn bất hạnh và tang thương cho nhân loại. Thế chiến I kéo dài 4 năm đã tàn phá gần phân nửa Âu châu, làm cho 10 triệu người chết, hơn 20 triệu bị thương, hàng chục triệu người khác phải đau khổ về tinh thần và vật chất. Dù lịch sử là một chuỗi dài chiến tranh, nhưng từ trước đến nay người ta chưa từng chứng kiến một cuộc tàn sát nào ghê gớm đến như thế.
Khi cuộc chiến này vừa kết thúc, tướng Jan Christian Smuts (1870-1950) của Nam Phi đã nhận xét một cách chua chát: “Thế giới chỉ có hai con đường để lựa chọn, một đường bằng bạo lực, một đường là sự thông cảm. Chúng ta đã thử con đường vũ lực và đã thấy nó hủy diệt một phần thế giới”. Smuts là thủ tướng Nam Phi sau Thế chiến I từ năm 1919 đến 1924 và thủ tướng Nam Phi lần hai trong và sau Thế chiến 2 từ năm 1939 đến 1948.
Phải chấm dứt chiến tranh, nếu không nó sẽ hủy diệt sự tồn sinh của nhân loại, trong nỗ lực đó hội nghị hòa bình do Hoa Kỳ đề xướng đã được triệu tập tại Paris vào năm 1919 để mưu tìm một sự thỏa hiệp giữa các nước và tạo dựng một hình thức tổ chức quốc tế hữu hiệu để loại trừ thảm họa chiến tranh. Sau nhiều tháng thảo luận, đại biểu 27 nước thắng trận thỏa thuận thành lập Hội Quốc Liên, vấn đề giải trừ quân bị được ghi vào điều lệ của tổ chức quốc tế này: “thành viên của Hội Quốc Liên công nhận rằng bảo vệ hòa bình đòi hỏi hạn chế lực lượng vũ trang củamọi nước đến mức tối thiểu vừa đủ để giữ an ninh quốc gia và thực hiện nhiệm vụ quốc tế”.
Điều đáng tiếc là nổ lực của Hoa Kỳ trong việc loại trừ thảm họa chiến tranh cho nhân loại đã thất bại. Từ đầu thập niên 1920 Hoa Kỳ trở về thế cô lập cố hữu thì những mầm móng chiến tranh bắt đầu xuất hiện ở Âu Châu vì Thế chiến I không được giải quyết êm đẹp như sự dàn xếp của Mỹ, chấm dứt chiến tranh bằng sự cảm thông và hòa giải, xóa bỏ hận thù. Thái độ hẹp hòi tạo thêm thù hận của Anh Pháp đối với Đức là nguyên nhân gây ra Đại chiến thế giới lần thứ hai 20 năm sau đó.
Tại Nga sau khi Thế chiến I chấm dứt, Lenin thực hiện chính sách “cộng sản thời chiến” (War Communism) quốc hữu hóa toàn bộ xí nghiệp lớn nhỏ, trưng thu lương thực thừa, áp dụng chế độ cưỡng bách lao động, thiết lập kỷ luật sắt ở các cơ quan, tích lũy nhân vật lực xây dựng lực lượng hồng quân 3 triệu người. Cuối năm 1922 Liên bang Cộng hòa Xã hội xã hội chủ nghĩa Xô Viết được thành lập. Từ 4 xứ tự lúc ban đầu, lãnh thổ Nga Xô Viết ngày càng mở rộng về hướng Đông, bao trùm một dãy lục địa nối liền hai châu Âu Á, chiếm hơn 1/3 lãnh thổ hai châu này. Stalin dùng những quyền lực tuyệt đối do Lenin vạch ra để bành trướng thế lực bằng tất cả mọi phương tiện cứng rắn.
Từ năm 1928, Liên Xô bắt đầu thực hiện việc kỹ nghê hóa xã hội chủ nghĩa. Sau hai kế hoạch ngũ niên với gần 50 triệu người chết và sự hy sinh của hàng chục vạn thanh niên xung phong cùng sự thắt lưng buộc bụng ra sức sản xuất và tiết kiệm của nhân dân, Liên Xô trở thành cường quốc kỹ nghệ thứ ba thế giới chỉ đứng sau Hoa Kỳ và Đức trước Thế chiến II.
Chiến tranh bắt đầu xuất hiện từ năm 1939 khi Hitler sáp nhập Áo vào Đức, thôn tính Tiệp Khắc bất chấp thỏa ước Munich ký với Anh, Pháp và đe dọa Phần Lan. Chính phủ Anh Pháp kêu gọi Nga hợp lực hình thành gọng kềm hai mặt chống mưu đồ bành trướng của Đức, nhưng bất thành. Ngày 23/8/1939, Stalin ký hiệp ước bất tương xâm với Hitler. Yên tâm ở mặt trận phía Đông, Hitler xua quân xâm chiếm Ba Lan và các nước Tây Âu, ngày 22/6/1040 Pháp đầu hàng Đức. Chớp thời cơ, Hồng quân Liên Xô chiếm đóng các tỉnh phía đông Ba Lan và Lỗ Ma Ni, xâm lược Phần Lan, thôn tính 3 tiểu quốc trên bờ Baltic là Latvia, Lithuania và Estonia sát nhập vào lãnh thổ Nga.
Tháng 6/1941, sau khi quét sạch liên quân Anh Pháp ra khỏi lục địa Âu châu, Hitler xé bỏ hiệp ước bất tương xâm, tuyên chiến với Liên Xô. Đến cuối năm 1941, Nhật bất thần tấn công các căn cứ Hải quân Mỹ ở Trân Châu Cảng. Quốc hội Mỹ tức khắc tuyên bố tình trạng chiến tranh với Nhật. Ba ngày sau Đức, Ý tuyên chiến với Mỹ. Hoa Kỳ chính thức nhảy vào vòng chiến,
Khi Đức tuyên chiến với Liên Xô, tổng thống Mỹ Roosevelt và thủ tướng Anh Churchill đều hướng về người đồng minh mới là Stalin, hình thành Mặt trận Tam cường Đồng minh để đương đầu với Đức Quốc Xã. Liên Xô phụ trách mặt trận phía Đông, Hoa Kỳ phụ trách mặt trận phía Tây nước Đức. Hai bên thỏa thuận sau khi Đức bại trận, Hoa Kỳ và Liên Xô sẽ chia đôi ảnh hưởng ở Đức và châu Âu.
Dựa vào Đạo luật cho thuê mượn (Lend-Lesae Act) đã được Quốc hội thông qua ngày 11/3/1941 để “cung cấp kịp thời trang thiết bị cho những quốc gia nào mà tổng thống thấy cần phải bảo vệ vì quyền lợi thiết yếu của Hoa Kỳ”, Hoa Kỳ đã điều động hàng trăm tàu chở thực phẩm, xăng dầu và trang thiết bị trực chỉ Bắc Nga xuyên qua Bắc Băng Dương để giúp Hồng quân Nga cầm cự với quân Đức ở mặt trận phía Đông suốt 3 năm từ tháng 6/1941 Còn Hoa Kỳ khôn khéo biết “lấy của che thân” để khỏi phải trực tiếp tham chiến ở Âu Châu.
Đến đầu tháng 6/1944 nhận thấy lực lượng Đức Quốc Xã và Liên Xô đều suy yếu, Hoa Kỳ mới đổ quân lên Normandie ngày 6/6/1944 lần lượt giải phóng nước Pháp, các nước Tây Âu và tiến về Berlin. Chín tháng sau, Đức đầu hàng (7/5/1945). Thế chiến II chấm dứt, giữ đúng cam kết, Nga Mỹ chia hai ảnh hưởng ở Đức và Âu châu…Nhưng chỉ hơn một năm sau Liên Xô khước từ sự giúp đỡ của Hoa Kỳ qua kế hoạch Marshall để tái thiết đất nước thời hậu chiến. Stalin mở ra một cuộc xung đột mới giữa chủ nghĩa cộng sản đối đầu chủ nghĩa tư bản do Hoa Kỳ lãnh đạo từ cuối năm 1946.
Thực hiện lời dạy của Lenin về việc lợi dụng chiến tranh đế quốc, Liên Xô đã mở rộng ảnh hưởng trên phân nửa lãnh thổ Âu châu. Song họ đã gánh chịu một tổn thất nặng nề nhất trong lịch sử chiến tranh: 25 triệu người chết trong tổng số 54,8 triệu của toàn thế giới trong Thế chiến II, số chiến phí lên đến 2500 tỉ roup. Từ khởi điểm này, Liên Xô đã thực sự dấn thân vào cuộc chấp tranh ý thức hệ lớn nhất thời đại, đương đầu với chủ nghĩa tư bản do Hoa Kỳ lãnh đạo, để quyết định “Ai thắng ai ?” giữa hai hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội đối nghịch. Đó là bước khởi đầu Chiến tranh Lạnh.
Từ đồng minh khắng khít, Liên xô được Hoa Kỳ tận tình yểm trợ trong cuộc chiến vệ quốc vĩ đại của lịch sử Nga với khoảng 25 triệu người chết, nhưng Stalin trở mặt biến bạn thành thù. Hành động này là cái nhân đưa đến hai cái quả:
*Một đã xảy ra ở Việt Nam, ông Hồ Chí Minh ngưng việc đàm phán với Pháp và phát động Toàn quốc Kháng chiến (19/12/1946). Vô hình trung ông Hồ đã đưa đất nước vào cuộc xung đột thế giới. Hai siêu cường nguyên tử không trực tiếp đối đầu vì có nguy cơ hủy diệt nhân loại. Họ duy trì tình trạng chiến tranh lạnh, nhưng chiến tranh nóng diễn ra ở Việt Nam song hành với chiến tranh lạnh từ lúc bắt đầu năm 1946 đến lúc kết thúc năm 1991.
*Hai là tại Trung Hoa, trong Thế chiến II, Hoa Kỳ cũng “lấy của che thân”, viện trợ hai phe Quốc Cộng chiến đấu chống Nhật. Sau khi Nhật đầu hàng, nội chiến Quốc Cộng ở đây lại tái diễn trong bối cảnh tình đồng minh giữa Liên Xô và Hoa Kỳ sụp đổ, họ trở thành đối thủ trong cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa Thế giới Tự do và Quốc tế Cộng sản. Vì quyền lợi của Thế giới Tự do, Hoa Kỳ tìm cách phân hóa hai cường quốc cộng sản Nga Hoa khi họ thấy được mưu đồ của Bắc Kinh.
&&&
Nhân quả trong Lịch sử (II)
Lê Quế Lâm
Từ đồng minh trở thành địch thủ trong Chiến tranh Lạnh: Trong Thế chiến II, khi bị Đức tấn công vây hãm ngặt nghèo, Liên Xô được Hoa Kỳ tận tình chi viện vật lực trong cuộc chiến bảo vệ đất nước. Trước khi chiến tranh chấm dứt, tổng thống Franklin D. Roosevelt đến lúc qua đời (12/4/1945) luôn bày tỏ tình bạn chân thành và tin tưởng vào thiện chí hợp tác của người bạn đồng minh Joseph Stalin, nên đã thỏa thuận với lãnh tụ Xô Viết nhiều vấn đề quan trọng của thế giới. Sau khi chiến tranh chấm dứt, Nga Mỹ chia hai ảnh hưởng ở Đức và Âu Châu, còn tại Châu Á, Hoa Kỳ và Liên Xô chia hai ảnh hưởng ở bán đảo Triều Tiên.
Ngoài ra, sau chiến tranh, chính sách căn bản của Hoa Kỳ là giúp các nước Âu Châu bị chiến tranh tàn phá nặng nề -không kể là nước thắng hay bại trận, gồm cả Liên Xô và các nước Đông Âu, để phát triển kinh tế và xây dựng cuộc sống sống tự do, dân chủ bằng các chương trình tái thiết phát triển (kế hoạch Marshall). Điều đáng tiếc là Stalin khước từ thiện chí của Mỹ, ông dứt tình đồng minh, trở hành đối thủ của Mỹ trong cuộc chiến ý thức hệ giữa cộng sản và tư bản.
Stalin biết lợi dụng thời cơ để hành động khi nội chiến Quốc Cộng ở Trung Hoa vừa tái phát. Trong thời Nhật xâm chiếm Trung Hoa, Mỹ dàn xếp để Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch hợp tác trong chính phủ liên hiệp được Hoa Kỳ yểm trợ đế kháng chiến chống Nhật. Sau khi Nhật đầu hàng, chính phủ liên hiệp tan rã, nội chiến Trung Hoa tái diễn. Đây là cơ hội giúp Stalin hợp tác với Mao để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản ở Châu Á. Nơi đây, Đảng Cộng sản Triều Tiên và Đông Dương đã giành được chính quyền khi Thế chiến II vừa chấm dứt.
Nội chiến ở Trung Hoa vô cùng bất lợi cho Mỹ vì chiến trường cách xa chính quốc cả vạn dậm, ở bên kia Thái Bình Dương. Việc tiếp tế yểm trợ Tưởng Giớ Thạch hết sức khó khăn, trong lúc Liên Xô ở bên cạnh sẳn sàng viện trợ giúp Mao chiến thắng. Trong tình thế đó, Hoa Kỳ quyết định chấm dứt can dự vào công việc nội của Trung Hoa, vã lại đường lối nhất quán xưa nay của Mỹ là tạo dựng hòa bình. Không được Hoa Kỳ yểm trợ, Tưởng rút quân di chuyển ra Đài Loan. Mưu đồ của Stalin hợp tác với Mao để đẩy ảnh hưởng của Mỹ ra khỏi Á Châu đã thất bại khi Mao chiếm được Hoa Lục mà không cần sự giúp đỡ của Stalin.
Về phần ông Hồ Chí Minh, sau Thế chiến II Pháp trở lại Đông Dương, ngay bước đầu Pháp đã công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một nước tự do. Sau đó, hai bên sẽ thương thảo tiếp, nhưng ông Hồ Chí Minh vì cái nghiệp cộng sản, ông không muốn Việt Nam độc lập trong khối Liên hiệp Pháp. Ông từng là ủy viên Quốc tế Cộng sản, ông phải thi hành chỉ thị của Stalin, ngưng việc đàm phán và phát động Toàn quốc Kháng chiến chống thực dân Pháp (19/12/1946). Vô hình trung ông Hồ Chí Minh trở thành nhân tố lôi kéo hai cường lực Hoa Kỳ và Liên Xô can dự vào chính trường Việt Nam.
Họ lợi dụng Việt Nam để thực hiện mưu đồ nhằm phục vụ quyền lợi của đất nước họ. Việt Nam trở thành đấu trường chính của Chiến tranh Lạnh, nhân dân chịu ba cuộc chiến tàn khốc kéo dài gần nửa cuối thế kỷ 20, và những di sản của chiến tranh vẫn còn tác động nặng nề đến cục diện đất nước ngày nay. Vì sự dính líu của nhiều thế lực quốc tế vào đất nước, nên quyển Sử Lược Việt Nam Thời Cận-Hiện Đại cũng là quyển Thế Giới Sử Tóm Lược đặc biệt đề cập đến ba cường lực Hoa Kỳ, Liên Xô và Trung Quốc đã can dự vào Việt Nam với mưu đồ gì và kết quả ra sao?
*
Tháng 4/1949, sáu tháng trước ngày Cách mạng Trung Quốc thắng lợi, Edgar Snow -nhà báo phương Tây bạn thân của Mao, cho đăng trên Tạp chí Tin tức Trung Quốc hàng tuần ở Thượng Hảibài xã luận “Liệu Trung Quốc có thể trở thành tay sai của Nga hay không?” Snow tiên liệu: “Bắc Kinh rốt cuộc có thể trở thành một kiểu Moscow châu Á, một kiểu thành phố La Mã phương Đông có trách nhiệm truyền bá chủ nghĩa Mác Châu Á ngoài tầm kiểm soát của Moscow”.
Để giúp Mao truyền bá chủ nghĩa Mác ở Á Châu, Hoa Kỳ quyết định chấm dứt can dự vào công việc nội bộ Trung Hoa, mở đường giúp Mao thống lĩnh Hoa Lục. Chi có Mao mới có đủ uy thế để đương đầu với Stalin, do đó Mỹ phải chấm dứt yểm trợ Tưởng Giới Thạch
Chính phủ Trung Hoa Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch di chuyển ra Đài Loan, quốc gia này vẫn là Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, đồng minh của Mỹ và Thế giới Tự do. Hai nước Trung Hoa cùng tồn tại hòa bình nhờ sự gắn bó lịch sử trong gia tộc người sáng l ập nền Cộng hòa Trung Hoa. Bà Tống Khánh Linh sau này có thời là quyền Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, là vợ của Bác sĩ Tôn Trung Sơn tức Tôn Dật Tiên, người lãnh đạo Cách mạng Tân Hợi 1911, biến Trung Hoa hành nước Trung Hoa thành Cộng hòa và là người sáng lập Trung Hoa Quốc Dân Đảng.
Em của bà quyền chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là Tống Mỹ Linh -vợ của Thống chế Tưởng Giới Thạch -tổng thống Trung Hoa Dân Quốc nay di chuyển ra Đài Loan. Như vậy ông Tưởng là anh em cột chèo (đồng hao hay bạn rễ) với Bác sĩ Tôn Trung Sơn -tổng thống lâm thời đầu tiên của Cộng hòa Trung Hoa năm 1912. Người dân Hoa Lục đề cao Tôn Trung Sơn là Nhà Cách mạng Tiên phong còn dân chúng Đài Loan tôn xưng ông là Quốc phụ.
Năm 1949, Mỹ ngưng ủng hộ Tưởng Giới Thạch, giúp Mao Trạch Đông chiếm được Hoa Lục. Hoa Kỳ đã tạo cơ sở giúp Mao thực hiện tham vọng thành lập khối Cộng sản Đông Á đối đầu khối Cộng sản Đông Âu để tiến lên tranh quyền với Stalin lãnh đạo Quốc tế Cộng sản. Để thực hiện ý đồ này Mao ủng hộ Kim Nhật Thành -lãnh tụ Cộng sản Bắc Triều Tiên vượt vĩ tuyến 38 xâm lăng Nam Triều Tiên là khu vực ảnh hưởng của Hoa Kỳ, đồng thời ủng hộ Hồ Chí Minh chống thực dân Pháp giành độc lập cho Việt Nam.
Nhờ thủ đoạn của Mỹ nên Cách mạng Trung Quốc thắng lợi một cách nhanh chóng không giống như thắng lợi ở Đông Âu do Liên Xô sắp đặt, đã chứng minh cho luận thuyết của Lenin: “Trong thời đại chủ nghĩa đế quốc, có thể tiến hành Cách mạng xã hội chủ nghĩa trong từng nước riêng biệt”, trái với lập luận của nhóm cơ hội trong Quốc tế cộng sản thường cho rằng “Cách mạng vô sản chỉ có thể thắng lợi khi tiến hành đồng loạt trong một số nước phương Tây”. Lập luận này đã tác động đến đường lối chiến lược của Mao Trạch Đông. Trung Quốc không thể chịu một số phận như Đông Âu bị Stalin khống chế nặng nề,
Sau thắng lợi ở Hoa Lục năm 1949, Đảng Cộng sản Trung Quốc muốn trở thành lãnh tụ của Phong trào Cách mạng vô sản ở phương Đông. Do vị trí đặc biệt của một khu vực có nhiều thuộc địa và cuộc đấu tranh giành độc lập đang phát triển mạnh mẽ. Mao Trạch Đông hy vọng thời cơ đã đến để cùng các đồng chí lãnh đạo các đảng Cộng sản ở đây thực hiện con đường mà Lenin và Quốc tế III đã vạch ra từ năm 1919 tại Đại hội các tổ chức Cộng sản Đông phương: “Cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận của Cách mạng vô sản sẽ quyết định số phận của chủ nghĩa đế quốc thế giới”.
Chiến lược của Mao là lấy sức mạnh của chiến tranh nhân dân làm đòn xeo, lấy sức mạnh của đông đảo nông dân làm quân chủ lực, lấy khu vực rộng lớn của vùng nông thôn, rừng núi làm căn cứ địa để bao vây thành thị và tiến tới giành toàn bộ chính quyền. Mao quyết tâm ủng hộ các đảng cộng sản anh em ở các nước nông nghiệp Đông Á hình thành sức mạnh của Phong trào vô sản ở phương Đông, lấn phe xã hội chủ nghĩa ở phương Tây.
Mao Trạch Đông lợi dụng chủ trương phân hóa khối cộng sản của Mỹ, để bành trướng thế lực ở Châu Á. Để thực hiện mưu đồ này, Mao ra sức ủng hộ ông Hồ Chí Minh hoàn thành hoài bão: Đông Dương Cộng Sản, đồng thời yểm trợ ông Kim Nhật Thành nhuộm đỏ bán đảo Triều Tiên. Đây là vùng ảnh hưởng của Liên Sô và Hoa Kỳ theo quyết định của các nước Đồng minh thắng trận tại hội nghị Potsdam hồi cuối năm 1945.
Mục tiêu chiến lược của Mao là thành lập khối Cộng sản Đông Á song hành với khối Cộng sản Đông Âu do Liên Xô lãnh đạo. Vô hình trung, Hoa Kỳ đã gián tiếp tạo thế lực cho Mao, thực hiện tham vọng tranh quyền lãnh đạo Cách mạng thế giới với Stalin.
Mối xung đột Nga Hoa bắt đầu bộc phát sau khi Hoa Kỳ giúp Mao chiếm được Hoa Lục, thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày 1/10/1949.
Ngày 6/12/1949 là sinh nhật lần thứ 70 của Stalin, Cộng đảng Nga mời Mao đến Moscow tham dự sinh nhật lãnh tụ của họ. Mao vốn không thích Stalin song vì áp lực chính trị, họ là đồng chí cùng lý tưởng cộng sản, nên Mao phải miễn cưỡng đến Moscow.
Trước khi lên đường, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc dự định món quà sinh nhật Stalin của Mao là một bộ sưu tập bằng vàng, nhưng họ lại tự hào cho rằng Trung Hoa có ngọc bích còn đắc giá hơn vàng, nên quà tặng của Mao tặng Stalin sẽ là một bộ sưu tập bằng bạch ngọc. Khi Bộ Chính trị trình Mao gợi ý này, Mao nói: “Xin lỗi, chúng ta là gì, một thuộc địa hay sao? Chúng ta phải cống nạp cho họ?” Mao quyết định món quà sinh nhật Stalin là một bộ sưu tập rau quả đặc sản của Trung Quốc.
Cuối tháng 11/1949, Mao và phái đoàn Cộng đảng Trung Quốc lên đường đi Liên Xô bằng xe lữa. Cuộc hành trình kéo dài 16 ngày vào mùa Đông khiến Mao bị bịnh. Đến Moscow, người Nga lại dành cho Mao một nơi cư trú nhỏ và chẳng quan tâm đến lãnh tụ đảng Cộng sản Trung Hoa. Họ báo cho Stalin biết món quà của Mao, Stalin tức giận quát lên “Ồ ông ta muốn đầu độc tôi à. Vứt nó đi”. Mao cảm thấy bị xúc phạm nặng nề và nói “Tôi đã kết thúc với người Nga”. Sau đó Stalin nhận ra sự thiếu tế nhị của mình nên đưa Kosygin đến tiếp xúc với Mao. Và người Trung Quốc trả đũa bằng cách mời Kosygin lưu lại trong một cái lều đầy muỗi trước khi gặp Mao.
Trên đây là tường thuật của Henry Kissinger với cựu thủ tướng Do Thái Shimon Peres. Hai ông đều là người Do Thái cùng sanh năm 1923. Ông Peres đề cập đến câu chuyện này trong cuộc phỏng vấn của nhà báo David Samuels ba tuần trước khi ông qua đời ngày 28/9/2016. Hai hôm sau, David phổ biến bài viết One Last Interview. Trong cuộc phỏng vấn này, Peres nói với ký giả David; “Hãy để tôi kể lại cho bạn nghe một câu chuyện mà tôi có từ Kissinger. Tôi nghĩ anh ấy cũng đã viết ra rồi”. Sau đó ông Peres tiết lộ rất nhiều chuyện rất lý thú, vì ông là bạn thân của Putin và cả Tập Cận Bình. Chi tiết này sẽ được đề cập trong bài Chiến tranh Ukraine-Nga và mục tiêu chiến lược của Tổng thống Donald Trump ở Âu Châu Âu.
Vào thời điểm Mao đến Moscow, ông Hồ Chí Minh đến Bắc Kinh cầu viện Mao giúp ông kháng chiến chống Pháp. Vô hình trung, ông Hồ đã tạo cái nhân, giúp Trung Quốc từng bước can dự vào cục diện chính trị Việt Nam.
Mưu đồ bành trướng ảnh hưởng ở châu Á để tranh quyền lãnh đạo Thế giới cách mạng của Mao không qua mặt được Stalin. Giữa tháng 2/1950 khi Mao đến Mạc tư Khoa ký Hiệp ước hữu nghị Xô Trung (14/2/1950), Stalin đã phân tích cho Mao thấy rằng mục tiêu hàng đầu của Hoa Kỳ hiện nay là dồn nỗ lực giúp Nhật tái thiết và phát triển sau chiến tranh. Đối với bán đảo Triều Tiên, Hoa Kỳ không có quyền lợi gì đáng kể trên vùng đất bị chia cắt này nên đã rút hết quân chiếm đóng từ tháng 7/1949. Thâm ý của Stalin là muốn đẩy Mao nhảy vào Triều Tiên để đọ sức với Mỹ.
Ngoài ra vì tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản: Stalin giao cho Mao phụ trách châu Á, do đó Trung Cộng sẽ dốc sức ủng hộ Hồ Chí Minh. Cuộc chiến bùng nổ ở châu Á sẽ làm cho Trung Cộng phải lệ thuộc vào Liên Xô, đồng thời làm cho Mỹ suy yếu vì vướng chân vào cuộc chiến mới. Lợi dụng thời cơ này, Liên Xô vừa củng cố lực lượng vừa áp lực Hoa Kỳ ở châu Âu -địa bàn chiến lược có tính chất quyết định đối với hệ thống chủ nghĩa xã hội thế giới do Liên Xô lãnh đạo.
Khi về nước, Mao điều động gần nửa triệu quân từ các tỉnh Hoa Nam và Hoa Trung kéo về Mãn Châu, áp sát biên giới Triều Tiên. Năm năm sau ngày Thế chiến II chấm dứt, nguy cơ chiến tranh mới lại bày ra trước mắt các dân tộc, xuất phát từ sự mâu thuẫn về quyền lợi của các nước cộng sản, trái với lập luận của Lenin cho rằng chính những mâu thuẫn về quyền lợi của bọn đế quốc là mầm móng gây ra chiến tranh.
Sáng sớm ngày 25/6/1950, 8 sư đoàn Cộng sản Bắc Triều Tiên bất thần vượt vĩ tuyến 38 tấn công Nam Triều Tiên. Ngay sau đó tổng thống Truman ra lịnh tướng Mac Arthur -Tư lịnh quân đội Mỹ ở Viễn Đông tiếp vận chiến cụ khẩn cấp cho Nam Triều Tiên, và điều động Hạm đội 7 vào eo biển Đài Loan để bảo vệ quần đảo này. Buổi chiều cùng ngày, do yêu cầu của Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Trygve Lie, Hội đồng Bảo An nhóm phiên đặc biệt. Hội Đồng thông qua bản quyết nghị “hòa bình đã bị phá vỡ tại Hàn quốc” và kêu gọi hai bên ngừng bắn, triệt thoái quân Bắc Hàn ra khỏi vĩ tuyến 38. Hai hôm sau, Hội Đồng Bảo An thông qua một quyết nghị nữa kêu gọi các quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc đến cứu nguy Nam Hàn. Sau lời kêu gọi của Hội đồng Bảo An, có 42 quốc gia tự nguyện gởi quân hoặc tiền bạc đóng góp cho nỗ lực quốc tế tại Nam Triều Tiên để ngăn chặn sự xâm lăng của Cộng sản Bắc Hàn.
Trong khi tình hình Triều Tiên sôi động, Mạc tư Khoa không ngớt kêu gọi “các nước anh em ủng hộ cuộc chiến tranh giải phóng tổ quốc của nhân dân Triều Tiên“… Nhưng tại Liên Hiệp Quốc, phái đoàn Liên Xô lại im lặng, vì trước đó họ quyết định tẩy chay Hội đồng Bảo An để phản đối các thành viên khác về vấn đề Bá Linh. Dựa vào đó, Liên Xô vắng mặt có lý do để tránh lâm vào một tình huống khó xử. Nếu bỏ phiếu thuận cho quân Liên Hiệp Quốc -90% là quân Hoa Kỳ- can thiệp vào Triều Tiên, Liên Xô không những đã phản bội Trung Cộng mà còn đi ngược chủ đích của mình muốn có một cuộc đụng độ giữa Trung Cộng và Hoa Kỳ. Nếu dùng quyền phủ quyết, chống sự an thiệp của Mỹ, thì phản bội tinh thần Hiến chương Liên Hiệp Quốc và nhất là phá hoại sự thỏa thuận với Hoa Kỳ về việc phân chia ảnh hưởng ở Triều Tiên.
Ngày 30/6/1950, hưởng ứng lời kêu gọi của Hội đồng Bảo An, những đơn vị đầu tiên của Hoa Kỳ do tướng MacArthur chỉ huy gồm 4 Sư đoàn thuộc Quân đoàn 8 trú đóng ở Nhật đã mở đầu cầu đổ bộ lên Pusan giúp chính phủ Lý Thừa Vãn (Cộng hòa Triều Tiên) chống xâm lăng. Tiếp theo Hoa Kỳ là 2 ngàn quân thuộc Lữ đoàn 27 bộ binh Hoàng gia Anh cùng lực lượng 14 nước thành viên Liên Hiệp Quốc. Theo quyết định của Hội đồng Bảo An, lực lượng Liên Hiệp Quốc tham chiến ở Triều Tiên có một Bộ chỉ huy đặt dưới sự điều động của Hoa Kỳ. Tướng MacArthur được Truman bổ nhiệm làm Tổng tư lịnh Quân đội Liên Hiệp Quốc ở Triều Tiên.
Tướng MacArthur trong quyền hạn Tổng tư lệnh Quân đội Liên Hiệp Quốc được quốc tế giao phó nhiệm vụ vãn hồi hòa bình và duy trì an ninh ở Cao Ly, ông muốn xử dụng sức mạnh để quét sạch Cộng quân ra khỏi Bắc Hàn, thực hiện sự thống nhất Hàn Quốc theo nghị quyết của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc. Ngoài ra trong cương vị Tư lịnh Quân đội Hoa Kỳ ở Viễn Đông, MacArthur đề nghị Tổng thống Truman trừng phạt nặng nề kẻ gây chiến bằng cách dùng bom nguyên tử chiến thuật tiêu diệt tiềm lực chiến tranh của Trung Cộng ở Mãn Châu, đồng thời tấn công Trung Cộng, tạo cơ hội giúp quân Tưởng Giới Thạch đổ bộ tái chiếm lục địa. Theo MacArthur “đây là cơ hội vô cùng thuận lợi cho Thế giới tự do để trừ mối hoàng họa cho toàn thể nhân loại”.
Quan điểm thuần túy quân sự của MacArthur hoàn toàn trái ngược với chính sách của chính phủ Hoa Kỳ ở Viễn Đông. Truman gọi đề nghị của MacArthur là “toa thuốc đưa đến thế chiến III”. Hoa Kỳ chỉ muốn tái lập nguyên trạng những gì đã được quốc tế thỏa thuận thời tiền chiến. Sự can thiệp của Mỹ chỉ nhằm ngăn chận chủ nghĩa Cộng sản bành trướng thêm nữa. Họ không muốn mở rộng chiến tranh với Trung Cộng, cố tránh khiêu khích Bắc Kinh nhưng áp dụng những biện pháp cần thiết để Trung Cộng phải e dè. Điều quan trọng hơn là Hoa Kỳ không muốn xâm phạm vùng ảnh hưởng của Liên Xô, họ không muốn trực tiêp thách đô uy tín của Xô Viết vì Stalin đã đứng ngoài cuộc xung đột, không bỏ phiếu ở Hội đồng Bảo An.
Nhằm chận đứng hành động liều lĩnh vượt vĩ tuyến 38 phản công lực lượng Cộng sản một lần nữa, Truman cất chức MacArthur và khẩn cấp triệu hồi ông ta về nước. Trở về Mỹ, MacArthur được dân chúng nồng nhiệt đón tiếp như một vị anh hùng. Tướng Mathew Ridgway được chỉ định thay thế. Truman xác định mục tiêu của Hoa Kỳ ở Triều Tiên là đẩy lực lượng Cộng quân Bắc Cao Ly về phía trên vĩ tuyến 38, nghĩa là trở lại lãnh thổ của Bắc Triều Tiên. Sau hai năm bàn thảo gay go, vừa đánh vừa đàm, cuối cùng Hoa Kỳ đe dọa sẽ dùng vũ khí nguyên tử mới chấm dứt được cuộc chiến. Thỏa hiệp đình chiến Triều Tiên được ký kết tại Bàn Môn Điếm (Panmunjom) ngày 27/7/1953. Hiệp định chỉ giải quyết việc chấm dứt chiến sự và chia cắt Triều Tiên theo vĩ tuyến 38 đã được Đồng minh qui định năm 1945, mà không có một điều khoản nào đề cập đến việc thống nhất Triều Tiên.
Chiến tranh Triều Tiên đã giải quyết xong, trong khi chiến tranh Đông Dương vẫn còn tiếp diễn. Ngày 13/7/1953, hai tuần trước khi hiệp định đình chiến ở Triều Tiên được ký kết, trong cuộc hội đàm Anh Pháp Mỹ ở Hoa thạnh Đốn, Ngoại trưởng Georges Bidault cho biết lập trường của Pháp là muốn giải quyết vấn đề Đông Dương như vấn đề Triều Tiên. Ngày 24/8/1953 trong bài diễn văn về Triều Tiên, Thủ tướng Chu Ân Lai nói rằng: “Đình chiến ở Triều Tiên có thể dùng làm mẫu mực để giải quyết các cuộc xung đột khác“. Để thực hiện ý định trên, Pháp và Trung Quốc nhờ Liên Xô và Anh Quốc đứng ra làm đồng chủ tịch hội nghị Genève để chấm dứt cuộc chiến ở Đông Dương.
Về phần Liên Xô bất đắc dĩ phải can dự vào cuộc xung đột quốc tế này, trong khi họ cần tranh thủ thời gian hòa hoãn để hàn gắn vết thương chiến tranh và củng cố sức mạnh. Đối với Liên Xô chẳng có con đường nào tốt hơn là “thỏa hiệp” với phương Tây để sớm thoát khỏi tình trạng tấn thoái lưỡng nan: bỏ mặc thì thế giới Cộng sản tan nát, dấn thân thì chấp nhận thi đua với Hoa Kỳ trong việc chi viện cho chiến cuộc Đông Dương và có thể đưa đến chiến tranh với Mỹ. Cả hai mặt -chi viện cho Đông Dương và chiến tranh với Mỹ- Liên Xô đều ở thế yếu so với Hoa Kỳ, vì thế Liên Xô tích cực ủng hộ giải pháp thương thuyết. Một giải pháp không những giúp họ giành được một nửa ảnh hưởng ở Việt Nam mà còn tránh cho khối Cộng sản khỏi phải đương đầu với những khó khăn mới.
Đầu tháng 12/1953 trong hội nghị tứ cường Đồng minh về vấn đề Bá Linh, ngoại trưởng Liên Xô Molotov đề nghị với Anh Pháp Mỹ mời Trung Cộng tham dự một phiên họp chung với 4 cường quốc để giải quyết các vấn đề căng thẳng của thế giới. Hoa Kỳ chấp nhận sự có mặt của Trung Cộng trong các hội nghị quốc tế nhưng chỉ giới hạn vào khuôn khổ những vấn đề có liên quan đến Viễn Đông mà thôi. Cuối cùng bốn ngoại trưởng Anh, Pháp, Mỹ, Nga đồng ý ngồi chung với đại biểu Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Genève để cùng hai đại biểu Nam và Bắc Triều Tiên giải quyết dứt khoát vấn đề Triều Tiên. Và sau đó cùng đại biểu ba nước liên kết Đông Dương và Việt Minh thảo luận việc ngừng bắn ở Đông Dương.
Riêng đối với Hoa Kỳ, họ chỉ có lợi khi thấy kẻ thù dính líu vào cuộc chiến gần như không lối thoát này. Liên Xô và Trung Cộng sẽ phải nỗ lực viện trợ cho Việt Minh, do đó sẽ hạn chế nhiều đến việc kiến thiết và xây dựng để củng cố sức mạnh nhằm làm chỗ dựa ủng hộ các cuộc chiến tranh cách mạng, nên lúc đầu Hoa Kỳ không chấp nhận đàm phán. Một văn kiện của Hội đồng An ninh Quốc gia hồi tháng 8/1953 cho biết “Trong điều kiện hiện nay, mọi giải pháp thương lượng đều có nghĩa là cuối cùng không những để mất Đông Dương vào tay cộng sản mà còn để mất cả Đông Nam Á. Mất Đông Dương sẽ nguy kịch cho nền an ninh của Mỹ“.
Đầu tháng 3/1954, trong khi các cường quốc đã thỏa thuận gặp nhau tại Genève để giải quyết cuộc chiến Đông Dương bằng đàm phán hòa bình, thì cộng quân gia tăng áp lực uy hiếp Điện biên Phủ bằng trọng pháo và sẵn sàng dùng chiến thuật biển người tràn ngập tập đoàn cứ điểm này. Việt Minh tung hết lực lượng bao vây Điện biên Phủ với số quân gấp 4 lần quân Pháp trú phòng tại đây, bất chấp tổn thất sinh mạng của binh sĩ, nhằm tạo chiến thắng quân sự gây sức ép ở bàn hội nghị.
Hoa Kỳ lo ngại Trung Cộng có thể đưa Chí nguyện quân tham chiến nên thông báo cho Pháp biết là họ sẵn sàng can thiệp bằng lực lượng quân sự. Một sự can thiệp mà Hoa Kỳ cho là cần thiết vì “nếu không có Mỹ giúp đỡ, người Pháp có thể sẽ thương lượng một cuộc bán đứng tại Genève để thoát khỏi một cuộc chiến tranh thất nhân tâm”. Để cứu Điện biên Phủ, tướng Paul Ely -Tham mưu Trưởng Quân đội Pháp đến Hoa thạnh Đốn vận động Hoa Kỳ can thiệp bằng không lực.
Đô đốc Arthur W.Radford -Chủ tịch Hội đồng Tham mưu Trưởng Liên quân Mỹ đề nghị xử dụng 60 oanh tạc cơ B-.29 đồn trú ở Phi Luật Tân và dự định ném ba quả bom nguyên tử nhỏ để giúp Pháp giải tỏa áp lực cộng quân. Đề nghị được ngoại trưởng Foster Dulles và Phó tổng thống Richard Nixon ủng hộ…nhưng bị sự chống đối của một số thượng nghị sĩ và dân biểu có thế lực ở Quốc hội trong đó có thượng nghị sĩ Lyndon Johnson. Họ chỉ chấp nhận can thiệp nếu Đồng minh thân cận nhất là Anh quốc chịu hợp tác với Mỹ trong nỗ lực cứu Pháp ở Đông Dương.
Eisenhower phái Radford và Dulles đến Luân Đôn tham khảo và thuyết phục chính giới Anh, nhưng thủ tướng Churchill và ngoại trưởng Eden lại không muốn bị liên hệ với Hoa Kỳ vào một cuộc chiến tranh mới. Churchill đã gay gắt nói với Radford: “Anh Quốc đã không chiến đấu để ở lại Ấn Độ thì họ không có lý do gì để chiến đấu ở Đông Dương chỉ nhằm giúp Pháp ở lại đó“. Anh Quốc chủ trương giải quyết cuộc chiến Đông Dương bằng thương lượng, giúp Pháp tìm một lối thoát danh dự. Churchill cam kết trước Thứ dân Nghị viện là “Anh Quốc sẽ không có một quyết định nào trước khi hội nghị Genève có kết quả“. Còn ngoại trưởng Eden thì cương quyết gạt bỏ ý kiến can thiệp quân sự của ông Dulles. Vấn đề này theo ông chỉ bàn đến trong trường hợp hội nghị Genève thất bại. Ngoại trưởng Anh còn gợi ý chia cắt là giải pháp hiệu lực nhất để giải quyết cuộc chiến tại đây.
Sau đó, Dulles đến Paris để thảo luận với ngoại trưởng Pháp Bidault trước khi lên đường tham dự hội nghị Genève. Dulles coi chiến tranh Đông Dương làm nguy hại cho nền hòa bình và an ninh của toàn vùng Đông Nam Á và Tây bộ Thái bình Dương nên “cần phải chấm dứt mau lẹ nhưng với điều kiện là phải bảo đảm tự do và công lý cho tất cả các dân tộc ở khu vực này…” . Dulles nhấn mạnh thêm “nếu Bắc Kinh mưu định giúp Việt Minh can thiệp vào chiến tranh Đông Dương làm cho hội nghị thất bại thì Trung Cộng sẽ nhận một lời cảnh cáo rất cương quyết của Hoa Kỳ“.
Lúc bấy giờ Thủ tướng Ấn -Nehru một lãnh tụ uy tín của các nước trung lập cũng lên tiếng yêu cầu các phe liên hệ ngưng bắn, nnưng chính giới Anh cho biết “không thể có ngưng bắn nếu kế hoạch phân ranh chưa được chấp thuận“. Sau chuyến viếng thăm Việt Nam trở về, thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Bedell Smith cũng thừa nhận rằng “chỉ có sự chia cắt mới có thể giải quyết được cuộc chiến dai dẳng này, nhưng đó chỉ là lối giải quyết tạm, khó lâu dài“.
Trước việc chia cắt Việt Nam không thể nào tránh khỏi, một giải pháp mà Hoa Kỳ cho là tạm bợ chỉ nhằm xoa dịu các cường quốc và sẽ tạo mầm móng xung đột sau này nên ngoại trưởng Dulles không muốn dính líu đến những quyết định do các cường quốc sắp đặt. Ông chỉ đến Genève tham dự hội nghị trong mấy ngày đầu và sau đó để thứ trưởng Ngoại giao Bedell Smith cầm đầu phái đoàn Mỹ. Ông yêu cầu Eden thỏa thuận với người đồng nhiệm -đồng chủ tịch hội nghị Genève là Ngoại trưởng Liên Xô Molotov những biện pháp thỏa đáng để giải quyết vấn đề Đông Dương. Điều quan trọng của giải pháp đó là phải bảo đảm tự do và công lý cho các nước trong vùng.
Từ giữa tháng 4/1954, song song với những lời đe dọa dùng sức mạnh can thiệp để thúc đẩy cuộc đàm phán sớm kết thúc, Dulles chỉ chú tâm vào việc thành lập Hiệp ước phòng thủ Đông Nam Á. Ông nhấn mạnh: “Đông Nam Á là vùng then chốt trong chiến lược của các cường quốc Tây phương, đòi hỏi một sự họp tác và hành động chung, chớ không thể giao trong tay một cường quốc nào. Trong trường hợp Pháp và Trung Cộng đi đến một thỏa thuận chia cắt Đông Dương thì Minh ước phòng thủ Đông Nam Á sẽ được thành lập“. Dulles hy vọng tổ chức quân sự này sẽ ngăn chận được mưu đồ bành trướng của Trung Cộng, bảo vệ hòa bình và an ninh ở Đông Nam Á, vì mục tiêu của Mỹ là để tránh tham chiến ở đây.
Ngày 7/5/1954, -hai ngày trước khi hội nghị Genève chính thức thảo luận về vấn đề Đông Dương, cứ điểm Điện biên Phủ thất thủ, làm chấn động dư luận thế giới. Tại Hoa thạnh Đốn, tổng thống Eisenhower dự định ra trước Quốc hội yêu cầu được can thiệp bằng lực lượng quân sự với điều kiện tiên quyết Pháp phải trao trả độc lập thực sự cho các nước Đông Dương. Ông coi đây là hành động cuối cùng để cứu Đông Dương.
Ngày 10/5, thủ tướng Pháp Joseph Laniel kêu gọi Hoa Kỳ can thiệp để cứu Đông Dương. Tổng thống Eisenhower họp khẩn cấp với Chủ tịch Hội đồng Tham mưu Trưởng Liên quân -Đô đốc Radford, Ngoại trưởng Dulles và Bộ trưởng Quốc phòng Charles Wilson. Ông chỉ thị Bộ Ngoại giao chuẩn bị sẵn một quyết nghị để ông ra trước lưỡng viện Quốc hội yêu cầu được đưa binh sĩ Mỹ sang Đông Dương để bảo vệ Đông Nam Á, đồng thời ra lịnh Bộ Quốc phòng thiết lập một kế hoạch khẩn cấp cho việc can thiệp.
Đô đốc Radford đề nghị xử dụng bom nguyên tử chiến thuật ở Điện biên Phủ, kế hoạch đã được Eisenhower chấp nhận nhưng bị thủ tướng Anh -Churchill cực lực phản đối nên phải hủy bỏ vì Anh Quốc đã cùng Liên Xô đứng ra làm đồng chủ tịch hội nghị Genève 1954 để mang lại hòa bình cho khu vực Viễn Đông. Cuối cùng các cường quốc đồng thỏa thuận: Bán đảo Triều Tiên vẫn giữ nguyên trạng chia cắt ở vĩ tuyến 38; Trung Quốc, Hoa Kỳ và Liên Xô chia ba ảnh hưởng ở Đông Dương: Cam Bốt và Lào trung lập, Miền Bắc Việt Nam theo Liên Xô, miền Nam nằm trong quỹ đạo của Mỹ.
Nhìn lại trong thập niên qua, tình đồng minh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô tan rã đưa đến Chiến tranh Lạnh. Từ cái nhân này dẫn đến cái quả là một cường lực mới xuất hiện làm thay đổi cục diện thế giới. Đó là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nước này từ chỗ là đồng minh của Liên Xô vì lý tưởng cộng sản, nay chuyển hướng chiến lược đứng về các nước Á Phi chủ trương trung lập trong bối cảnh diễn ra cuộc xung đột giữa Hoa Kỳ và Liên Xô. Cũng trong thập niên đó, Việt Minh/Cộng sản được Liên Xô và Trung Cộng tận tình yểm trợ đưa đến chiến thắng ở Điện Biên Phủ, tướng Christian de Castrie kéo cờ trắng đầu hàng…Nhưng tại hội nghị Genève 1954, Liên Xô và Trung Quốc lại thỏa thuận với Anh Pháp chia cắt Việt Nam ở vĩ tuyến và đặt miền Nam Việt Nam dưới ảnh hưởng của Thế giới Tự do.
Từ cái quả này sẽ tạo ra cái nhân mới, xin quý độc giả và thân hữu xem tiếp trong bài kế tiếp
&&& Lê Quế Lâm
Sau hội nghị Genève 1954, cuộc xung đột thế giới đi vào giai đoạn hòa hoãn. Với những tổn thất lớn tại Triều Tiên và Việt Nam, Trung Cộng được các cường quốc mặc nhiên công nhận l à một thế lực quốc tế. Họ đã góp phần đắc lực với 4 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đưa hội nghị Genève 1954 đến thành công: chấm dứt chiến tranh, vãn hồi hòa bình ở Châu Á. Quyết tâm của Hoa Kỳ ngăn chận sự bành trướng thêm nữa của chủ nghĩa cộng sản đã làm Bắc Kinh thay đổi chiến lược. Trung Cộng bắt đầu hướng về các nước Á Phi, trannh thủ ảnh hưởng của các nước thứ ba, đồng thời bắt tay hòa hoãn với Hoa Kỳ qua các cuộc tiếp xúc trực tiếp bắt đầu ở Genève sau đó di chuyển sang Warsaw (Ba Lan)
Cuối tháng 4/1954, trong khi cùng các cường quốc tham dự hội nghị Genève, thủ tướng Chu Ân Lai đi thăm hai nước trung lập Miến Điện và Ấn Độ. Ông đề ra 5 nguyên tắc sống chung hòa bình, được xem là đường lối đối ngoại của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tháng 4/1955 Chu Ân Lai tham dự hội nghị đầu tiên của các nước Á Phi được tổ chức ở Bandung (Nam Dương). Tại đây, 5 nguyên tắc sống chung hòa bình của Bắc Kinh được 29 nước Á Phi thừa nhận. Cả hai chính phủ Việt Nam ở miền Bắc và miền Nam đều tham dự hội nghị này. Đây là hội nghị đầu tiên của các nước có khuynh hướng đứng ngoài cuộc xung đột đang diễn ra giữa Hoa Kỳ và Liên Xô.
Từ tháng 4/1956, hai đồng Chủ tịch Hội nghị Genève 1954 là Liên Xô và Anh quốc đều nhìn nhận rằng “tổng tuyển cử thực ra không quan trọng bằng việc duy trì hòa bình“. Để rảnh tay đối phó với vấn đề nội bộ, đầu năm 1957 Liên Xô đề nghị thu nhận hai nước Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc như là hai quốc gia riêng biệt dù có sự khác biệt về thể chế chính trị của hai miền Nam Bắc. Nhưng Hoa Kỳ với lập trường cứng rắn đã có từ năm 1954: “Hoa Kỳ không dự phần vào hiệp ước xây dựng trên sự xoa dịu. Hoa Kỳ cũng không bao giờ thừa nhận sự hợp pháp đối với mọi sự kiểm soát của Cộng sản trên bất cứ phần đất nào tại Đông Nam Á“, nên đã bác bỏ đề nghị của Liên Xô.
Vấn đề nội bộ của Liên Xô là việc Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô -Khrushchev đang chấn chính những di sản tai hại của Stalin, đặc biệt là tệ nạn sùng bái cá nhân, Stalin qua đời ngày 5/3/1953 sau 31 năm giữ chức tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô ngày 25/2/1956 Khrushchec đả kích nặng nề những tệ nạn của Stalin trong thời gian dài lãnh đạo Liên Xô. Ông chủ trương “Liên Xô chung sống hòa bình với Mỹ.
Đối với Bắc Kinh, vì lợi ích chiến lược, họ ra sức cản trở hành động của ông Hồ Chi Minh đang chuẩn bị kế hoạch giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Mưu đồ thôn tính miền Nam đã được Hà Nội dự tính ngay từ năm 1954, sau khi hiệp định Genève được ký kết. Trong bài xã luận “Sự nghiệp giải phóng dân tộc của chúng ta nhất định thắng lợi” trên báo Học Tập –cơ quan lý luận của Đảng Lao động Việt Nam, số tháng 7/1964. Hồng Chương, một cán bộ cao cấp cộng sản đã thú nhận: “ngay từ khi hòa bình được lập lại, Đảng ta đã nói là phải hoàn thành nhiệm vụ Cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước, trực tiếp là miền Nam”.
Chính vì mục tiêu này, tại hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (1955), Bộ Chính trị đã nêu rõ “Bất kể tình hình như thế nào, miền Bắc cũng phải được củng cố và phải tiến lên xả hội chủ nghĩa”. Miền Bắc phải đứng hẳn vào quỹ đạo cộng sản mới tranh thủ được sự ủng hộ của khối Cộng sản để hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà.
Những người lãnh đạo Bắc Kinh luôn thuyết phục Hà Nội rằng công cuộc thống nhất đất nước là “một cuộc đấu tranh trường kỳ” và không thể thực hiện được bằng lực lượng vũ trang. Tình hình thế giới chưa thuận lợi cho việc giải phóng miền Nam, hành động này có thể đưa đến sự can thiêp trực tiếp của Mỹ nên Bắc Kinh luôn nhắc nhở Hà Nội: “Công cuộc thống nhất là một cuộc đấu tranh trường kỳ và không thể thực hiện ngay được mà phải chờ đợi thời cơ”.
Tháng 7/1955, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc -Đặng Tiểu Bình đã đề cập thẳng vấn đề: “Dùng lực lượng vũ trang để thống nhất nước nhà sẽ có hai khả năng: một là thắng, một khả năng nữa là sẽ mất cả miền Bắc”. Đặng muốn đến chiến tranh Triều Tiên hồi năm 1950, quân Cộng sản Bắc Triều Tiên vượt Vĩ tuyến 38 xâm lược miền Nam, tướng MacArthur trong quyền hạn Tư lịnh quân Liên Hiệp Quốc được quốc tế giao phó nhiệm vụ vãn hồi hòa bình và duy trì an ninh ở Triều Tiên, ông muốn xử dụng sức mạnh để quét sạch Cộng quân ra khỏi Bắc Triều Tiên, thực hiện việc thống nhất đất nước này theo nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.
Tháng 11/1956, Mao Trạch Đông nói với các lãnh tụ Đảng Cộng sản Việt Nam: “Tình trạng Việt Nam bị chia cắt không thể giải quyết được trong một thời gian ngắn, mà phải trường kỳ…Nếu 10 năm chưa được thì phải 100 năm”. Đến tháng 7/1957 Mao nhắc lại “Vấn đề là phải giữ biên giới hiện có. Phải giữ vĩ tuyến 17. Thời gian có lẽ dài đấy. Tôi mong thời gian dài thì sẽ tốt”. Theo Bắc Kinh, trong tình hình thế giới hòa hoãn hiện nay “Miền Nam chỉ có thể dùng phương châm thích hợp là trường kỳ mai phục, tích trữ lương thực, liên hệ quần chúng, chờ đơi thời cơ”.
Trung Cộng khuyến cáo Cộng sản Bắc Việt nên cố tránh nhúng tay vào miền Nam để thế giới thấy rằng phong trào cách mạng ở đây là một phong trào tự giác, tự phát của nhân dân miền Nam nổi dậy chống chế độ thực dân mới của Mỹ. Như vậy mới có thể giải phóng miền Nam và “thắng Mỹ mà không làm thương tổn tự ái của Mỹ”.
Do tác động của Liên Xô và Trung Cộng khiến giới lãnh đạo Cộng sản Hà Nội có khuynh hướng chấp nhận chính sách xét lại của Khrushchev -chủ trương tạm thời sống chung hòa bình với Mỹ. Họ không muốn phát động chiến tranh giải phóng miền Nam ngay, mà phải đặt trọng tâm vào việc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc trước khi nghĩ đến việc đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Các ông Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và những phần tử ôn hòa hy vọng có thể hòa bình thống nhất đất nước như hiệp định Genève 1954 quy định. Ngược lại, nếu phát động đấu tranh vũ trang, sẽ đẩy Mỹ nhảy vào trực tiếp tham chiến, khi đó chẳng những sẽ thất bại mà còn mất lòng Liên Xô.
Rất tiếc ý định này bất thành vì với hiệp định Genève 1954, công cuộc kháng chiến chống Pháp của ông Hồ Chí Minh chỉ đạt được một nửa thắng lợi: giải phóng được miền Bắc. Trong khi cuộc kháng chiến ở Nam Bộ của những người Việt Minh kết thúc trong đắng cay. Theo tinh thần hiệp định đình chỉ chiến sự, khoảng 80 ngàn bộ đội Việt Minh được lịnh tập kết ra miền Bắc trong vòng 300 ngày. Họ bị lưu đày biệt xứ trong khi cuộc kháng chiến chưa thành. Chính quyền miền Nam đã thay đổi từ Bảo Đại được Pháp bảo trợ chuyển sang Ngô Đình Diệm được Hoa Kỳ ủng hộ.
Lúc bấy giờ ông Lê Duẩn đang trực tiếp chỉ đạo cách mạng ở miền Nam trong bối cảnh lịch sử mới này. Trong 9 năm kháng chiến 1946-1954, chiến cuộc diễn ra ác liệt ở miền Bắc, lực lượng Việt Minh ở trong Nam tổn thất nhẹ, hầu như còn nguyên vẹn. Ngoài việc sắp xếp thành phần tập kết bộ đội ra miền Bắc, ông Lê Duẩn còn xúc tiến việc chôn giấu vũ khí và cài lại miền Nam hàng ngàn đảng viên nồng cốt trung kiên nhằm chuẩn bị cho việc tiếp tục cuộc kháng chiến ở miền Nam trong bối cảnh mới -chống Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm.
Cuối năm 1956, Lê Duẩn chủ trì hội nghị Xứ ủy Nam bộ lần thứ hai. Xứ ủy đề ra quyết nghị “Con đưởng tiến lên của Cách mạng miền Nam phải dùng bạo lực của quần chúng đi lên tổng khởi nghĩa. Do nhu cầu cách mạng, trong chừng mực nào đó phải có lực lượng để hổ trợ đấu tranh chính trị và tiến tới sau này dùng nó để đánh đổ Mỹ Diệm”. Ở miền Đông Nam Bộ, xứ ủy chỉ đạo xây dựng hai vùng căn cứ lớn: Chiến khu A gồm chiến khu D cũ được mở rộng tiếp giáp với nam Cao nguyên và biên giới Miên. Chiến khu B gồm căn cứ Dương Minh Châu cũ và vùng rừng núi Tây Ninh.
Trước đó cộng sản đã chuẩn bị kế hoạch xây dựng lực lượng võ trang bằng cách cài người vào bộ đội của Bình Xuyên và các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo khi bị chính quyển Ngô Đình Diệm tấn công và truy kích. Họ di chuyển vào các chiến khu ở miền Đông và Đồng Tháp Mười, nhân cơ hội này, cộng sản cho cán bộ, đảng viên và du kích gia nhập để tranh thủ các lực lượng đối kháng với chính quyền Sài Gòn.
Sau khi có nghị quyết của Xứ ủy, nhiều lực lượng võ trang hoặc mang danh giáo phái được thành lập để tuyên truyền, bảo vệ căn cứ địa và mở rộng vùng giải phóng. Đầu tháng 8 năm 1957 lực lượng vũ trang ở chiến khu D và chiến khu Dương Minh Châu lấy danh nghĩa giáo phái tấn công và chiếm khu vực Minh Thạnh tiếp giáp hai tỉnh Tây Ninh và Bình Dương. Cuối năm 1957 Lê Duẩn được lịnh Hồ Chí Minh trở ra miền Bắc. Từ tháng 4/1958 Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao Động ở Hà Nội quyết định mở các cuộc tấn công với qui mô lớn ở toàn miền Nam. Có thể nói từ thời điểm này, việc giải phóng miền Nam là do ông Lê Duẩn, chớ không phải ông Hồ Chí Minh.
Đến tháng 5/1960 giới lãnh đạo Bắc Kinh vẫn nhắc nhở Hà Nội “Không nên nói đấu tranh chính trị hay đấu tranh quân sự là chính. Đấu tranh chính trị hay đấu tranh quân sự không phải là cướp chính quyền ngay, mà cuộc đấu tranh vẫn trường kỳ. Dù Diệm có đổ cũng không thể thống nhất ngay được, vì đế quốc Mỹ không chịu để như vậy đâu”. Do dó Trung Cộng khước từ giúp Hà Nội xây dựng quân dội chính quy và chỉ nhận cung cấp cho phía Việt Nam một số vũ khí nhẹ và trang bị hậu cần. Khi miền Nam Việt Nam đã phát động cuộc “Đồng khởi” 1960 thì Bắc Kinh cho rằng hình thức chiến đấu ở miền Nam vẫn là đánh du kích, đánh nhỏ, từng đơn vị trung đội, đại đội.
Hà Nội không nghe theo lời khuyến cáo của Trung Cộng. Tháng 9/1960, Cộng sản Việt Nam triệu tập Đại hội Đảng lần thứ ba ban hành nghị quyết thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam, nhằm “giữ vững tiền đồn của chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam Á và ra sức góp phần tăng cường lực lượng của phe xã hội chủ nghĩa”. Trong diễn văn khai mạc, Hồ Chí Minh nêu rõ “Đại hội lần này là đại hội xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà“. Đại hội này, ông Lê Duẩn là Bí thư thứ nhất của Đảng, nghị quyết của đại hội đề ra hai nhiệm vụ chiến lược: củng cố Miền Bắc và giải phóng Miền Nam. Ba tháng sau Mặt trận Giải phóng Miền Nam ra đời. Do sự khơi động và khả năng huy động chiến tranh của ông Lê Duẩn, một lần nữa các thế lực lớn trong cuộc quốc tế tranh hùng đều tham dự vào cuộc chiến Việt Nam với những mưu đồ lợi dụng khác nhau.
Dù chủ trương chung sống hòa bình với Mỹ, nhưng trong diễn văn ngày 6/1/1961 trước Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc, Khrushchev lên tiếng ủng hộ Phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới, đặc biệt tại Cuba, Algeria và miền Nam Việt Nam. Liên Xô tự nhận việc giúp đỡ và ủng hộ các cuộc chiến tranh giải phóng là nghĩa vụ quốc tế của các nước xã hội chủ nghĩa.
Việc Liên Xô công khai tuyên bố yểm trợ chiến tranh giải phóng tại miền Nam Việt Nam, được xem là một thách thức đối với Hoa Kỳ. Hai tuần sau trong diễn văn nhậm chức, tổng thống Kennedy gián tiếp trả lời thách đố của Khrushchev: “Hoa Kỳ sẽ trả bất cứ giá nào, chịu bất cứ gánh nặng nào, đương đầu với mọi chướng ngại, ủng hộ mọi đồng minh, đối đầu với mọi kẻ thù để bảo vệ sự tồn tại và thành công của tự do”.
Trên các diễn đàn quốc tế, Khrushchev kêu gọi chung sống hòa bình, mở ra giai đoạn hòa hoãn thế giới, nhưng lại đẩy Hoa Kỳ vào thế đối lập với Thế giới thứ ba với lập luận “Đế quốc Mỹ gây chiến xâm lược” còn Liên Xô là “thành trì bảo vệ hòa bình thế giới”. Mưu đồ đó thể hiện rõ trong thông cáo chung của Hội nghị 81 Đảng Cộng sản họp ở Mạc tư Khoa tháng 11/1960: “bản chất của chủ nghĩa đế quốc không bao giờ thay đổi và chiến tranh không bắt buộc phải bùng nổ giữa Hoa Kỳ với Liên Xô hoặc Trung Cộng nhưng chủ nghĩa đế quốc sẽ sụp đổ dưới sức đẩy của Phong trào giải phóng dân tộc”.
Trung Quốc chống bá quyền và học thuyết ba thế giới: Sau trận đọ sức với Hoa Kỳ tại Triều Tiên, Trung Cộng tự tách dần khỏi hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới do Liên Xô lãnh đạo và tập hợp một lực lượng riêng dưới lá cờ dân tộc chủ nghĩa. Trung Cộng chống cả hai hệ thống thế giới đối lập với mưu đồ “tam phân thiên hạ”, cùng hai siêu cường Nga Mỹ quyết định những vấn đề lớn của thế giới
Theo quan điểm của Bắc Kinh thì cuộc chiến tranh đang diễn ra trên thế giới không phải là sự đụng đầu giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, mà thực chất chỉ là cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa hai siêu cường và sự phản ứng của các nước dân tộc chủ nghĩa chống lại chủ nghĩa bá quyền: – Thế giới thứ nhất được coi là lực lượng phản động chủ yếu gồm có Hoa Kỳ và Liên Xô. -Thế giới thứ hai gồm các nước phát triển nhưng bị hai siêu cường chèn ép khống chế, đó là các nước Tây Âu, Nhật Bản, Canada và các nước Đông Âu. -Thế giới thứ ba là đối tượng của những tham vọng bá quyền, của sự áp bức và bóc lột từ phía thế giới thứ nhất.
Bắc Kinh kêu gọi các nước chịu dưới ách bá quyền của hai siêu cường nổi dậy và tập họp thành một mặt trận thống nhất toàn thế giới chống lại chủ nghĩa bá quyền. Trong mặt trận này, thế giới thứ ba là lực lượng chủ lực, thế giới thứ hai là đồng minh, thế giới thứ nhất là kẻ thù. Bắc Kinh cho rằng các nước thứ ba là lực lượng chủ yếu của phong trào cách mạng ngày nay và họ tự nhận là người đại diện cho lợi ích của Thế giới thứ ba và là người lãnh đạo duy nhất của các nước này.
Khi Hà Nội phát động chiến tranh giải phóng Miền Nam Việt Nam thì Bắc Kinh tìm mọi cách lôi kéo Cộng sản Việt Nam tách rời hệ thống xã hội chủ nghĩa do Liên Xô lãnh đạo, đứng hẳn về Thế giới thứ ba để thực hiện cuộc chiến tranh chống bá quyền, bảo vệ nền độc lập dân tộc. Để lôi kéo Việt Nam thoát khỏi cuộc chiến tranh vì sự xung đột giữa Thế giới tự do và Quốc tế cộng sản, từ năm 1963 Bắc Kinh cố thuyết phục Hà Nội chấp nhận quan điểm của họ là phủ nhận hệ thống Xã hội chủ nghĩa thế giới. Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình hứa sẽ viện trợ cho Hà Nội l tỉ nhân dân tệ nếu Cộng sản Bắc Việt khước từ mọi viện trợ của Liên Xô, chỉ nhận sự giúp đỡ của Bắc Kinh và các nước thứ ba để thực hiện công cuộc giải phóng Miền Nam chống đế quốc Mỹ.
Đến năm 1968, không chịu nổi áp lực của Hoa Kỳ quyết dùng sức mạnh để tái lập hòa bình ở Việt Nam, Hà Nội phải chấp nhận đàm phán với Mỹ. Trung Cộng lên tiếng trách cứ Hà Nội “nghe lời của Liên Xô” và “đã nhân nhượng một cách vội vã. Sự thỏa hiệp của Việt Nam với Mỹ là một thất bại lớn, tổn thất lớn đối với nhân dân Việt Nam, giống như cuộc đàm phán ký hiệp định Genève 1954 là một sai lầm”.
Bắc Kinh coi việc Hà Nội đàm phán với Mỹ là “một phản bội đối với sự viện trợ to tát của Trung Quốc“. Họ khuyến cáo Bắc Việt “muốn đánh thắng Mỹ thì phải cắt quan hệ với Liên Xô“. Miền Bắc Việt Nam phải chứng tỏ cho thế giới thấy rằng cuộc kháng chiến ở miền Nam Việt Nam là cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược để xây dựng một miền Nam độc lập và trung lập. Nếu Bắc Việt dựa vào Liên Xô để thực hiện công cuộc giải phóng miền Nam, nơi đây sẽ trở thành địa bàn tranh chấp bá quyền giữa hai siêu cường và Hoa Kỳ sẽ phải can thiệp.
Bắc Kinh cho rằng Hoa Kỳ đã sa lầy vì cuộc chiến phi nghĩa ở Việt Nam, bị nhân dân thế giới lên án và đòi Hoa Kỳ phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, do đó họ khuyến cáo Bắc Việt hãy chiến đấu đến cùng: “Nhân dân Việt Nam phải giải quyết cuộc đấu tranh của mình, không phải trên bàn hội nghị mà trên chiến trường“. Đó là điều mà tướng Mawxell Taylor gọi là “quyết tâm của những người lãnh đạo Trung Cộng muốn đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”.
Hà Nội không nghe lời khuyên của Bắc Kinh cắt đứt quan hệ với Liên Xô, cũng không chịu đàm phán nghiêm chỉnh khi đã ngồi vào bàn hội nghị. Theo Bắc Kinh, đã có chính nghĩa thì phải đánh đến cùng, nếu đã nghe lời Liên Xô chấp nhận đàm phán, thì phải chấm dứt trò “vừa đánh vừa đàm” chỉ đem lại tổn thất vô ích.
Trong cuộc hội đàm với giới lãnh đạo Cộng sản Việt Nam hồi tháng 11/1971, các lãnh tụ ở Bắc Kinh khuyên Việt Nam nên tranh thủ thời cơ giải quyết trước vấn đề rút quân Mỹ và quan tâm giải quyết vấn đề tù binh Mỹ, còn việc “đánh đổ ngụy quyền Sàigòn là lâu dài“. Giới lãnh đạo Trung Cộng còn nhiều lần lưu ý Hà Nội: “Nếu Nam Việt Nam không được bảo đảm thì cuối cùng sẽ đưa đến chỗ mất toàn bộ Việt Nam“.
Sau khi Hiệp định Paris 27/1/1973 được ký kết, giới lãnh đạo Bắc Kinh luôn nhắc nhở Hà Nội đừng nôn nóng trong việc thôn tính Miền Nam. Tháng 6/1973 khi Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng đến Bắc Kinh, thủ tướng Chu Ân Lai đã nói với họ: “Trong một thời gian chưa thể dứt khoát là 5 năm nay 10 năm, Việt Nam và Đông Dương nghỉ ngơi được thì càng tốt. Tranh thủ thời gian đó mà nhân dân Miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia thực hiện hòa bình trung lập trong một thời gian“.
Mao Trạch Đông còn nhấn mạnh thêm về việc thực hiện cuộc cách mạng ở Miền Nam: “Nên chia làm 2 bước, gộp lại làm một người Mỹ không chịu đâu“. Trong khi chờ đợi thống nhất hai miền Nam Bắc sống chung trong hòa bình, Bắc Kinh hứa sẽ tiếp tục viện trợ thêm 5 năm nữa nhằm giúp Hà Nội tái thiết và phục hồi các cơ sở kỹ nghệ đã bị Mỹ đánh phá trong chiến tranh.
Đối với Hoa Kỳ, sau hiệp định Genève 1954, hai miền Nam Bắc Việt Nam được xem là tiền đồn của hai thế giới đối nghịch. Hành động công khai giải phóng Miền Nam để bành trướng chủ nghĩa cộng sản của giới lãnh đạo Bắc Việt bắt buộc Hoa Kỳ vì những lời cam kết mà họ từng tuyên bố, phải can thiệp để bảo vệ Miền Nam tự do, bảo vệ hòa bình và an ninh ở Đông Nam Á. Hoa Kỳ không thể phá vỡ nguyên trạng hòa bình, mở các cuộc tấn công ồ ạt vào miền Bắc để tiêu diệt trung tâm điểm phát động chiến tranh.
Hoa Kỳ chỉ có thể viện trợ giúp chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đương đầu với chiến tranh du kích của cộng sản… Nhưng nhân dân Hoa Kỳ không đủ nhẫn nại theo đuổi cuộc chiến trường kỳ được khối cộng sản yểm trợ để lấn chiếm Thế giới tự do. Yếu điểm này được tướng Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng Quốc phòng chính phủ Hà Nội trình bày như sau: “Kẻ thù phải kéo dài chiến tranh để thắng, nhưng họ không có nhưng tài nguyên tâm lý và chính trị để chiến đấu lâu dài“.
Nếu oanh tạc Miền Bắc nhằm triệt hạ nguồn nhân vật lực chi viện cho cuộc chiến Miền Nam thì Hoa Kỳ trở nên kẻ gây chiến. Trung Cộng sẽ có dịp chứng minh với Thế giới thứ ba về luận điểm mà họ thường rêu rao: “Đế quốc gây chiến xâm lược, bản chất của chủ nghĩa đế quốc không bao giờ thay đổi. Đế quốc Mỹ là kẻ thù nguy hiểm nhất của các dân tộc”.
Nếu bỏ cuộc để “Miền Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản” -như lời nhận xét của bộ trưởng Quốc phòng McNamara hồi năm 1961, “thì phần còn lại của lục địa Đông Nam Á sẽ bị cộng sản chiếm mau lẹ hay ít ra thì vùng đất ấy cũng sẽ tìm cách hòa hoãn với cộng sản… Sự kiểm soát của cộng sản ở Đông Nam Á là mối đe dọa trực tiếp đối với nền an ninh quốc gia“. Điều đó xảy ra, không những uy tín của cường quốc số một của Thế giới tự do bị chôn vùi mà Khrushchev sẽ huênh hoang với thế giới về sự tất thắng của chủ nghĩa xã hội: “Chủ nghĩa đế quốc sẽ bị tiêu diệt mà không cần có sự chiến thắng hoàn toàn của chủ nghĩa xã hội”.
Vì sự sống còn của Thế giới tự do, vì nền an ninh của chính nước Mỹ, vì nền an ninh của Đông Nam Á mà Hoa Kỳ đã long trọng cam kết khi thành lập SEATO, và để trả lời thách thức của Quốc tế cộng sản, Hoa Kỳ nhập cuộc và đưa quân vào Miền Nam Việt Nam. Sự can thiệp của Hoa Kỳ giúp Miền Nam Việt Nam bảo vệ nền độc lập tự do rất khó biện minh trước sự tuyên truyền xuyên tạc của cộng sản. Chính các tướng lãnh Hoa Kỳ đã từng than thở: “Lãnh đạo một cuộc chiến không được thua mà cũng không dám thắng”.
Nếu thắng thì thế giới sẽ cho rằng Mỹ đã hất chân Pháp để biến nơi này thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Cuối cùng giới lãnh đạo Hoa Kỳ đã dùng Miền Nam làm thí điểm thực hiện chiến lược chống Cộng sản với một thủ đoạn thâm độc là tìm cái thua. Một cái thua như thật được ngụy trang dưới chiêu bài “một giải pháp hòa bình trong danh dự“.
Trong 4 năm từ 1965 đến 1968, Hoa Kỳ phải dùng đến sức mạnh, dội bom Miền Bắc và đưa quân vào Miền Nam trực tiếp tham chiến để buộc Cộng sản Bắc Việt phải ngồi vào bàn đàm phán và chấm dứt chiến tranh Việt Nam bằng một hiệp định hòa bình được ký kết tại Paris hồi đầu năm 1973. Để thi hành nghiêm chỉnh hiệp định, tôn trọng những quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ từng bước rút khỏi Miền Nam và làm ngơ để Cộng sản Bắc Việt dùng võ lực xé bỏ hiệp định thôn tính Miền Nam Việt Nam vào ngày 30/4/1975.
Nhờ thủ đoạn đi tìm cái thua và dành cái thắng cho kẻ thù, Hoa Kỳ một mặt chấm dứt sự can dự ở Việt Nam, mặt khác họ đẩy địch thủ vào một cuộc chiến tranh mới giữa Cộng sản Việt Nam với Khmer Đỏ và Trung Cộng. Kết quả là 16 năm sau, Liên bang Xô viết và khối Cộng sản Đông Âu tan rả, chủ nghĩa cộng sản cáo chung, Chiến tranh lạnh kết thúc (1991).
Liên Xô sụp đổ, Hà Nội quay về hợp tác toàn diện với Bắc Kinh, dẫn đến cái quả là “Thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã bắt đầu”. Đó là lời báo động của một cán bộ cao cấp cộng sản -ông Phạm Cơ Thạch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1981-1991). Đây cũng là cái nhân khiến Hoa Kỳ trở lại Việt Nam thiết lập bang giao với quốc gia đã góp phần giúp Mỹ kết thúc Chiến tranh Lạnh vào tháng 7/1995..
Hoa Kỳ trở lại Việt Nam, mối quan hệ Việt Mỹ ngày càng gắn bó thì Bắc Kinh càng gia tăng áp lực uy hiếp Việt Nam ở biển Đông, xâm phạm liên tục thềm lục địa Việt Nam. Sự đe dọa này khiến mối quan hệ Việt Mỹ càng phát triển, từ thiết lập bang giao năm 1995 đến quan hệ Đối tác toàn diện năm 2015-2016 đến Đối tác chiến lược toàn diện ngày 10/9/2023.
Trước đó Việt Nam đã có quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện với Trung Quốc năm 2008 và Nga năm 2012. Mối quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa Việt Nam với 3 cường lực Trung Quốc, Nga và Hoa Kỳ đã cân bằng ngang nhau. Ba tháng sau khi Việt Nam xây dựng quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện với Hoa Kỳ, ngày 2/12/2023 Chủ tịch Tập Cận Bình đến Hà Nội, cố thúc ép Việt Nam tăng cường hơn nữa quan hệ với Trung Quốc, chấp nhận xây dựng “Cộng đồng chung vận mệnh”…Nhưng Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng muốn chuyển thành “Cộng đồng chia sẻ tương lai” trong bối cảnh Donald Trump muốn Hoa Kỳ trong tương lai sẽ trở lại vĩ đại. Tập Cận Bình cũng có tham vọng Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc đứng đầu thế giới. Và đó cũng là ước mơ một nước Đại Việt hùng mạnh dân chủ tự do trong tương lai.