Đàm Trung Phán

Những bài viết …..

Hồng Vân diễn ngâm thơ Đàm Trung Phán

Xin Quý Vị mở speakers và bấm nút để nghe Hồng Vân diễn ngâm thơ Đàm Trung Phán:

1.Lời Giới Thiệu:

2. Bài Thơ Cho Con Ngày Con 20 tuổi

3. Út Tôi

4. Vu Lan Mộng Ảo

5. Phong Lan và Giai Nhân

6. Nhạc Kinh Tây Tạng

7. Nén Hương Cho Mẹ

8. Mộng Thường

9. Hình Bóng Mẹ Tôi

10. Em Đã Đến

11. Đóa Lan Rừng

12. Cha Con

13. Duyên Tình

14. Bước Trần Ai Đi

15.Chiêm bao Tỉnh thức

16.Chuyến Bay đêm

17.Cõi mộng

18.Mưa Hè

19.Ngọc Nữ

20.Đức Mẹ Maria

21.Em

22.Đêm Nay

23.Duyên Phận

24.Chiến Địa Flanders

25.Thu Cảm 2000

26.Tỉnh Say, Say Tỉnh

27.Dù Cho Thoát xác, Mãi Còn Yêu Thương

28.Mừng Sinh Nhật 70 của ĐÀm Trung Phán

29.Áo Trắng Học Trò

30.Phong Lan

31.Bài Thơ Không Tên

32.Đoạn Kết

Quý vị có thể tải về ( download ) tại đây :

DamTrungPhan-HongVan

LỜI NÓI ĐẦU

Sau khi viết xong loạt bài Cây Đa Lối Cũ, Gọi Hồn Người Xưa”, người viết đã có dịp đọc thêm nhiều bài viết về Tâm Linh của các tác giả Tây Phương và Ðông Phương. Tôi đọc say mê vì có nhiều khoa học gia và nhà ngoại cảm Tây Phương đã mô tả một số hiện tượng khá giống với những gì tôi đã cảm nhận được khi đang thức cũng như khi đang ngủ

Đây là một đề tài vừa rộng lớn, vừa mơ hồ vì còn nhiều vấn đề chưa có thể chứng minh một cách cụ thể được dựa theo nền tảng khoa học hiện tại của loài người. Tôi có cảm tưởng là mình giống như là một ông thầy bói mù đang sờ chân một con voi khổng lồ để mà “đoán quẻ” về hình dáng, kích thước và cuộc đời, số mạng của con voi đó.
Vì vậy mà cứ chần chờ trước khi viết loạt bài này về Tâm Linh

Dựa theo một số những kinh nghiệm tâm linh của chính bản thân và những gì mà tôi đã đọc được trong những tài liệu của phương Ðông và phương Tây về linh hồn, vong linh, cõi vô hình, tái sinh, luân hồi, gọi hồn… tôi mạo muội viết ra loạt bài này. Bài viết còn có nhiều thiếu sót, nhiều chỗ chưa hiểu rõ hay hiểu lầm… xin qúy vị rộng lòng thứ lỗi cho. Người viết sẽ rất hoan hỉ khi nhận được những ý kiến xây dựng của quý vị độc giả những mong học hỏi thêm được và để cải tiến bài này trong tương lai. Xin Quý Vị viết email về phandam99@yahoo.com cho người viết.

Xin cứ coi như đây là bài viết mở đầu để chúng ta cùng học hỏi thêm trong tương lai. Trong tinh thần “vạn sự khởi đầu nan”, xin mời quý vị vào đọc…

KHI TIẾNG ANH ĐƯỢC“CHÊM” VÀO TIẾNG VIỆT

 

TIẾN SĨ ĐÀM TRUNG PHÁP

 Professor of Linguistics Emeritus                                                                                                           

 Texas Woman’s University

 

 

MỘT ĐIỀU KHÓ TRÁNH

 

Sau hơn bốn thập kỷ tỵ nạn tại Mỹ, nhiều người Việt chúng ta sử dụng tiếng Anh thành thạo trong đời sống hàng ngày cũng như trong công ăn việc làm. Cũng vì vậy mà khi nói tiếng Việt với nhau tại quê hương mới này, chúng ta có khuynh hướng “chêm” khá nhiều tiếng Anh vào ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Trong các câu chuyện xã giao, trong báo chí, và ngay cả trong văn chương nữa, sự giao thoa giữa hai ngôn ngữ Việt và Anh là một hiện tượng tự nhiênkhó tránh.

 

Các tiệm ăn mới khai trương thường không tính tiền nước uống cho thực khách và diễn đạt ý tưởng ấy bằng nhóm chữ Free nước ngọt. Kỳ diệu thay, nhóm chữ này dùng cú pháp Anh rất chỉnh: tĩnh từ free mô tả danh từ nước ngọt được trịnh trọng đặt trước danh từ ấy! Vài tiệm phở có sáng kiến bán phở làm sẵn cho người mua mang về nhà, và quảng cáo thứ phở đó là Phở to go. Khỏi phải nói, nhóm chữ này cũng đúng cú pháp Anh luôn!

 

Người viết được đọc trên báo chí một bài thơ vui của tác giả Nguyễn Phú Long, trong đó tiếng Anh thoải mái sánh vai cùng tiếng Việt. Mời quý bạn thưởng lãm bài thất ngôn tứ tuyệt “mang hai dòng ngôn ngữ” được sáng tác để mừng tân xuân buồn tẻ nơi hải ngoại:

 

Xe thư bưu điện đến rồi đi,

Ngoài coupons ra chả có gì.

Bạn tới chúc xuân khui nước ngọt,

Buy one ngoài chợ get one free.

 

HIỆN TƯỢNG ĐẠI ĐỒNG

 

Hiện tượng giao thoa ngôn ngữ của chúng ta thực ra là một khuynh hướng đại đồng. Mọi sắc tộc di dân khác tại xứ này đều “chêm” tiếng Anh vào tiếng mẹ đẻ của họ, chẳng khác gì chúng ta cả. Khả năng sáng tạo của bộ óc loài người trong cách sử dụng hai ngôn ngữ thoải mái bên nhau để truyền thông hữu hiệu thực là thần kỳ.

 

Các ngữ học gia tại Mỹ ngày nay mệnh danh hiện tượng giao thoa ngôn ngữ ngoạn mục này là code-switchingphản bác những lời phê bình lỗi thời  lên án người sử dụng nó là cẩu thả, lai căng, hoặc hỗn loạn trí tuệ. Trái lại, họ cho rằng những người có khả năng cho hai ngôn ngữ hòa hợp với nhau một cách hữu hiệu là những người thực sự đã làm chủ được cả hai ngôn ngữ ấy, và khi cần thiết (như khi giao dịch với một cá nhân đơn ngữ) họ dư khả năng sử dụng chúng một cách “tinh tuyền” không pha trộn chút nào.

 

Người ta từng ví von một cá nhân “đơn ngữ” (monolingual) như một ca sĩ chỉ có thể đơn ca, một cá nhân “song ngữ” (bilingual)” như một ca sĩ có thể một mình song ca, và một cá nhân “đa ngữ” (multilingual) như nhạc trưởng một ban hợp ca!

 

LÝ DO CỦA CODE-SWITCHING

 

  • Tiếng Việt không có ngữ vựng hoặc thành ngữ thỏa đáng để diễn tả một ý niệm mà chúng ta đã quá quen trong tiếng Anh. Thí dụ, khi còn ở quê nhà trước 1975, lúc bị bệnh không đi làm được, chúng ta đâu có gọi điện thoại vào sở để “cáo ốm” được? Thành ra, khi diễn tả ý niệm đó trong cuộc sống hiện tại, chúng ta liền cho thành ngữ rất tiện dụng của người Mỹ là call in sick giao duyên ngay với tiếng Việt mến yêu, để nẩy sinh ra câu “Bữa nọ mình bịnh quá, đi làm hết nổi, thành ra phải call in sick rồi nhờ người ta đưa đi bác sĩ đấy!”

 

Những từ ngữ chuyên môn như software, blueprint, email, workshop, những công thức ngắn gọn để chào hỏi, chúc tụng, cảm tạ, hoặc chia tay trong tiếng Anh như hello, good morning, sorry, congratulations, thank you, bye cũng rất được chúng ta chiếu cố và sẵn sàng chêm vào tiếng nói chúng ta một cách tự nhiên.

 

  • Code-switching là một cách ngăn chặn không cho người khác “nghe lóm” chuyện riêng tư của mình. Chẳng hạn, hai người Việt đang tâm sự với nhau bằng tiếng Anh trong thang máy mà chợt thấy một người Mỹ đứng bên cạnh có vẻ tò mò lắng nghe. Họ bèn chuyển câu chuyện buồn ấy sang tiếng Việt để được “yên tâm” hơn: “My wife has asked for a divorce since I lost my job last year, you know … Đã mất việc rồi lại sắp mất cả vợ nữa, tôi chẳng còn thiết sống, anh ạ.”

 

  • Yếu tố Anh chêm trong tiếng Việt là một cách gián tiếp nói lên một mối liên kết giữa những người “đồng hội đồng thuyền” với nhau. Người viết biết chắc nhiều Việt kiều áo gấm về làng khi gặp nhau tại quê cũ thế nào cũng “pha” ê hề tiếng Anh vào tiếng Việt của họ, như thể để nhắc nhở mọi người mọi giới rằng họ là những “người Mỹ gốc Việt” chính cống sáng giá lắm đấy, chứ không phải là đồ bỏ đâu: “Hey guys, are you from Little Saigon, too? Sẽ stay tại Huế bao lâu?”

 

Các người Mỹ gốc Việt tranh cử vào các chức vụ công quyền mà không chêm tiếng Việt vào tiếng Anh khi tiếp xúc với cử tri đồng hương thì khó mà lấy được phiếu bầu của họ: “When I get elected as mayor of this city, kính thưa bà con cô bác, I will do my best to serve the needs of elderly folks in our dear cộng đồng…”

 

  • Yếu tố Anh trong tiếng Việt cũng cho thấy người nói sắp chuyển sang một thái độ mới, như để cảnh giác người nghe. Này nhé, khi thấy sắp đến giờ đi học mà đứa nhỏ còn nằm dài trên giường, người mẹ song ngữ Việt-Anh có thể phát ngôn: “Này cu Tý, gần bảy giờ sáng rồi đấy nhá. Ngủ nhiều rồi mà. Now get up!” Nghe bà mẹ hiền đang nói tiếng Việt rồi bà bất chợt chuyển sang tiếng Anh ở câu cuối cùng thì cu Tý, dù có lì lợm đến mấy, chắc cũng phải nhảy ra khỏi giường tức khắc!

 

CHÊM TIẾNG ANH VÀO CHỖ NÀO TRONG CÂU?

 

 

 

  • Các danh từ, động từ, tĩnh từ Anh có thể được chêm vào chỗ phù hợp trong câu: “Chị ơi, em đang depressed quá vì em và boyfriend vừa split rồi!”

 

  • Các số từ, giới từ, liên từ Anh hầu như không thể được chêm vào câu Việt. Người viết chưa nghe ai nói: “Tôi nghĩ fifteen ngày nữa việc này mới xong.” || “Làm ơn dẫn con chó ấy across con đường dùm tôi!” || “Although Lan nghèo, cô ta rất hạnh phúc.”

 

  • Các từ ngữ thông dụng tiếng Anh thường được chêm vào đầu hay cuối câu: “As a matter of fact, nó vừa đến thăm tôi hôm qua mà.” || “Tay ấy thì xạo hết chỗ nói rồi, you know.”

 

  • Trong một câu kép (compound sentence) hoặc một phức hợp (complex sentence), tiếng Anh có thể chiếm nguyên một mệnh đề trong đó: “You can drink coffee, nhưng tôi sẽ uống nước trà.” || “Nếu mà anh mệt, please stay home tomorrow!”

 

Người viết mạn phép “chêm” tiếng Anh vào trong phần kết luận dưới đây. Rất mong quý bạn đọc không nghĩ là người viết ôm đồm nhiều ngoại ngữ quá cho nên đã bị “tẩu hỏa nhập ma” rồi:

 

Code-switching giữa hai ngôn ngữ Việt và Anh là một natural phenomenon, cho nên chúng ta chẳng phải worry gì cả về issue này, OK? Vả lại, cái habit chêm tiếng Anh vào tiếng Việt này nó khó quit lắm! Quý bạn cứ try your best nói tiếng Việt “tinh tuyền” về politics hoặc jobs trong một bữa cơm gia đình mà coi. It will be a pain, tin tôi đi!”

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI: NGỮ-VỰNG TIẾNG VIỆT, GIÁO SƯ TRẦN NGỌC NINH

GIÁO SƯ ĐÀM TRUNG PHÁP

 

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

 

 

 

NGỮ-VỰNG TIẾNG VIỆT

GIÁO SƯ TRẦN NGỌC NINH

2017 / 688 trang / $40.00

Cơ Sở Xuất Bản Viện Việt Học

Điện thoại liên lạc: 714-775-2050

 

 

Hai lãnh vực cơ bản trong tiến trình thủ đắc một ngoại ngữ là ngữ phápngữ vựng. Nhưng nếu được hỏi lãnh vực nào hữu dụng hơn khi phải dùng một ngôn ngữ chưa thông thạo để giao dịch với người bản xứ thì có lẽ chẳng ai chọn ngữ pháp làm câu trả lời. Đã đành các luật lệ ngữ pháp là cần thiết để viết hay nói thứ tiếng đó cho chỉnh và làm người bản xứ hiểu ta rõ hơn, nhưng nếu chỉ thuộc lòng các quy luật ngữ pháp mà lại yếu kém về ngữ vựng thì nỗ lực giao dịch ấy khó lòng thành tựu được.

 

Thật vậy, câu nói “Vì tiếng Anh không khá, bạn tôi đã ba lần rớt bài thi vào quốc tịch Mỹ rồi” trong tiếng Anh (đúng ngữ pháp) là “Because his English is poor, my friend has failed the American citizenship test three times already”, nhưng câu (sai bét ngữ pháp và chính tả, với mức ngữ vựng tàm tạm – một thứ “broken English”) “He english no gut, my frend he no pass already three time test for become citizen of american” cũng có thể làm người dân Mỹ bản xứ cố gắng hiểu được, mặc dù họ thấy nó ngộ nghĩnh lạ thường.  Lại cũng có lúc người ta chỉ cần phát ngôn một hai chữ “đắc địa” cho hoàn cảnh cũng đủ làm cho người bản xứ hiểu mình. Nhớ lại trong dịp thăm viếng Tây Đức năm 1973, vì mải miết mua quà cho gia đình vào ngày chót chuyến đi nên tôi quên cả giờ giấc, suýt nữa thì lỡ chuyến bay về Saigon! Vội vàng leo lên một taxi, tôi quen miệng nói tiếng Anh với người tài xế yêu cầu ông đưa tôi ra phi trường, nhưng ông ta có vẻ không hiểu.  Mừng thay, khi tôi chỉ nói lên hai chữ tiếng Đức rất phổ thông cho “phi trường” và “làm ơn” là “Flughafen, bitte!” thì ông ta hiểu liền!

 

“Nhập tâm” ngữ vựng một ngoại ngữ là một thử thách lớn đòi hỏi học trò nhiều cố gắng kiên cường. Nhưng đền bù lại, khả năng đọc và viết sẽ thăng tiến theo tỷ lệ thuận với số lượng từ ngữ mà họ làm chủ được. Quan yếu như thế mà từ biết bao đời nay ngữ vựng thường được “dạy” bằng một lề lối cũ kỹ vừa làm học trò chán nản vừa chẳng mấy thành công. Lề lối lỗi thời ấy khuyến cáo học trò phải cố gắng học thuộc lòng nghĩa (meanings) cũng như chính tả (spellings) các chữ mới, nhưng không đả động gì tới thể loại (lexical categories), chức vụ ngữ pháp (syntactical functions), ngữ cảnh (contexts), cũng như kết hợp từ (collocations) là những đặc thù tối quan trọng của chúng. Những yếu tố này đáng lý ra thì phải được gây chú ý trong các thí dụ, các lời giải thích, các định nghĩa cho những chữ mới.

 

Công trình giáo khoa đồ sộ tựa đề NGỮ-VỰNG TIẾNG VIỆT (NVTV) của Giáo Sư Trần Ngọc Ninh vừa được Viện Việt Học xuất bản năm nay (2017) đã mang đến cho tôi một ngạc nhiên sảng khoái. Triết lý giảng huấn căn cứ trên phát kiến của khoa ngôn ngữ học đương đại và nội dung phong phú vui tươi được trình bầy một cách tân kỳ của tác phẩm đã lấy được thiện cảm của tôi ngay từ những  trang đầu tiên của nó.  Thực vậy, trong ngót nửa thế kỷ chuyên nghiên cứu và giảng dạy educational linguistics (môn ngữ học dành cho các chương trình đào tạo giáo chức ngôn ngữ) tại Đại học Saigon và một số Đại học tại Texas, tôi chưa thấy một tài liệu giáo khoa giảng dạy ngữ vựng tiếng Việt (hay ngữ vựng một ngôn ngữ nào khác) được soạn thảo và trình bầy một cách khoa học, nhất quán, vui tươi, và thấm nhuần văn hóa dân tộc như tác phẩm giáo khoa NVTV của Giáo Sư Trần Ngọc Ninh.

 

Nhận định đầu tiên của tôi về công trình giáo khoa này là thấy tác giả rất uyên bác của nó đã dựa vào những phát kiến của ngữ học và tâm lý học hiện đại hữu ích cho lãnh vực giáo dục ngôn ngữ. Quan trọng nhất là phát kiến về sự hiện hữu tiên thiên (innate existence) của cơ quan ngôn ngữ (language organ) và ngữ pháp hoàn vũ (universal grammar) trong não bộ loài người, do Noam Chomsky đề xướng vào năm 1965. Cái phát kiến làm sửng sốt học giới một thời của Chomsky đã được Stephen Krashen khai triển kỹ lưỡng, khoảng hai thập niên sau đó, để thành cốt lõi cho phương hướng tự nhiên (the natural approach) để giảng dạy ngôn ngữ. Nhấn mạnh sự khác biệt đáng kể giữa thủ đắc ngôn ngữ (language acquisition) và học tập ngôn ngữ (language learning) cùng với những đề nghị thực tiễn vui tươi cần thiết cho mục tiêu “thủ đắc”,  công trình của Krashen đã được tán thưởng và áp dụng từ đó đến nay. Phát kiến ấy của Chomsky cũng được Ken Goodman dùng làm kim chỉ nam cho phương hướng ngôn-ngữ-vẹn-toàn (the whole-language approach) mang lại thành công hàn lâm đáng kể cho Goodman, vào cùng thời gian với thành tựu của Krashen.

 

NVTV là một tin mừng cho các thầy cô và các em học sinh các lớp Việt ngữ đủ trình độ, trong hạn tuổi từ 5 đến 15. Công trình giáo khoa giảng dạy ngữ vựng Việt Nam quý vị đang có trong tay vừa được hoàn tất sau khá nhiều năm khổ công do lòng nhân ái thúc đẩy – labor of love trong Anh ngữ – của tác giả là một luồng sinh khí mới đầy hứa hẹn cho nỗ lực giảng dạy tiếng Việt ở hải ngoại, đặc biệt là tại các quốc gia sử dụng Anh ngữ.

 

Mặc dù tác giả đã khiêm tốn xác định công trình tâm huyết của ông “chỉ là một cái kho nhặt nhạnh, tồn trữ và sắp xếp, chứ không điển chế  ngôn ngữ hay văn tự” (trang 2), công trình này đã hiến cho giáo giới chúng ta một kho tài liệu khổng lồ để giúp phần thăng hoa cách giảng dạy ngữ vựng tiếng Việt cho tuổi trẻ thành một phương pháp nhân bản hấp dẫn với nhiều tiềm năng thành công rực rỡ.

 

Triết lý giáo dục ngày nay tại Hoa Kỳ nhắc nhở giáo giới rằng vai trò lý tưởng cho người đi học là vai trò của những nhà thám hiểm.  Vì vậy các nhà giáo cũng như các tài liệu giảng huấn phải cung cấp những phương tiện, những cơ hội tối ưu để thúc đẩy các nhà thám hiểm trẻ tuổi tự khám phá thêm ra những điều mới lạ trong cuộc hành trình học hỏi với nhiều lý thú và hưng phấn. Kinh nghiệm dạy học của bao thế hệ cũng xác nhận rằng tài liệu giáo huấn chỉ trở thành tuyệt hảo khi nó tổng hợp được tri thức của các bộ môn khác nhau nhưng cùng chuyên tâm vào một chủ đề (theme), vì sự hiểu biết phát triển mạnh nhất là khi nó được tiếp cận các kết nối tri thức (cognitive connections). Vì những lý do vừa kể, một bài học hữu hiệu mang lại lý thú cho học sinh phải là một đơn vị có chủ đề (thematic unit) được khai phá từ nhiều khía cạnh như văn học, toán học, khoa học, xã hội học, chính trị học, nếp sống đa văn hóa trong xã hội ngày nay, vân vân.

 

“Những tâm trí vĩ đại gặp nhau chăng,” tôi tự hỏi, vì những ưu điểm nêu trên hiện hữu đều đặn trong công trình của tác giả NVTV. Rất nhiều mục từ (mà tác giả gọi là “từ khóa” hay “key words”) sắp xếp theo thứ tự a/b/c trong sách là những đơn vị có chủ đề, trong đó các yếu tố văn cảnh, kết hợp từ, từ đồng nghĩa, các câu giải thích chủ đề qua các lãnh vực tri thức khác nhau, các ca dao tục ngữ, các câu trích dẫn từ đệ nhất thi phẩm Truyện Kiều và từ các tác phẩm văn chương Việt khác đã biến các mục từ ấy thành những bài học nho nhỏ với chủ đề hấp dẫn, giảng giải qua thứ tiếng Việt tự nhiên (natural, authentic Vietnamese). Những bài học nho nhỏ đó có mục tiêu gia tăng tri thức học trò qua môi giới “thủ đắc” (acquisition) tự nhiên và lý thú hơn là qua môi giới “học tập” (learning) buồn nản của lề lối cũ.

 

Văn cảnh (contexts, mà tác giả gọi là “đồng văn” trong sách) là những cơ hội thuận tiện cho “ngữ vựng chưa biết” xuất hiện trong các câu mà học sinh đã hiểu được gần hết ý nghĩa; trong những hoàn cảnh ngôn ngữ này, các cháu có thể suy đoán ra ý nghĩa đích thực của ngữ vựng chưa biết ấy. Chẳng hạn, trang 29 có liệt kê từ khóa ăn ảnh mà ý nghĩa có thể suy đoán dễ dàng (và lại được xác nhận bởi từ Anh ngữ tương đương viết kế bên là “photogenic”) qua câu thí dụ “Chị Lan ăn ảnh lắm: ở ngoài, chị cũng đẹp mà chụp ảnh thì hết xẩy.”  Trang 306 có liệt kê từ khóa kêu (to shout, scream, cry out) được dùng trong bốn ngữ cảnh khác nhau để giúp học sinh hiểu nghĩa dễ dàng; một trong bốn ngữ cảnh ấy là câu giải thích gọn gàng “Người ta kêu to tiếng là để cho người khác biết và để ý đến.”

 

Kết hợp từ (collocations) là những nhóm chữ thường đi với nhau theo một thứ tự nhất định, như “trời ơi / lớn như thổi / nước đổ lá khoai / chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng.” Dùng kết hợp từ thông thạo sẽ giúp chúng ta nói và viết ngôn ngữ đang học giống như người bản xứ. Vì thế chúng ta cần thuộc chúng để sử dụng trong những ngữ cảnh phù hợp. Hồi còn là một học sinh trung học, tôi đã bỏ nhiều thì giờ để nhập tâm những kết hợp của những động từ và tĩnh từ “đi với” các giới từ trong tiếng Anh như look up to / look down on  / proud of / angry with, và trong tiếng Pháp như commencer à / dépendre de / fier de / prêt à.

 

Tôi mở cuốn sách ra và lựa “cầu may” được từ khóa khang kiện / healthysự khang kiện / health (trang 316-317) để làm sáng tỏ thêm những nhận định của tôi ở trên về nó. Từ khóa này là một trong vô số “đơn vị có chủ đề” trong sách. Nó chứa đựng kiến thức của các lãnh vực khác nhau để có thể trở thành một bài học súc tích về sức khỏe rất bổ ích và thích thú, giúp cho những “nhà thám hiểm” trẻ tuổi gốc Việt gia tăng  kiến thức tổng quát đồng thời thăng hoa khả năng tiếng mẹ đẻ. Từ lãnh vực y học và sinh lý học là văn cảnh “Người bình thường, khỏe mạnh được coi là khang kiệnvà văn cảnh Sự khang kiện là trạng thái (state) dễ chịu (well being) bình thường về mặt tinh thần và sinh lý của một cá nhân.” Từ lãnh vực văn hóa là văn cảnh “Cha bảo từ xưa đến nay, khi ta chúc nhau thì hay nói chúng tôi xin chúc anh chị (ông bà / hai bác) khang kiện (mạnh khỏe / bình an khang cát)” và văn cảnh “Trong nền văn hóa của ta, đó là những ước mong chân thành có ý nghĩa nhất.” Và từ lãnh vực khoa học xã hội (social studies) là văn cảnh “Danh từ sự khang kiện được đề nghị để dịch chữ health, và cơ quan WHO (World Health Organization) được dịch là Tổ Chức Thế Giới về Sự Khang Kiện.  Sau cùng, cũng đáng kể là các kết hợp từ  phổ thông “từ trước đến nay / xin kính chúc / được đề nghị / được coi là” đã được dùng trong các ngữ cảnh phù hợp nhất.

 

Tuy chủ đích là để dạy ngữ vựng, cuốn sách không quên nhấn mạnh mối liên hệ giữa ngữ vựng và ngữ pháp, khiến tôi nhớ lại phương hướng ngôn-ngữ-vẹn-toàn (whole-language approach) do Ken Goodman khởi xướng với thành quả thuận lợi, để giúp học trò tiến bộ, trong cùng  một bài học, bốn khả năng có liên hệ mật thiết là (1) nghe hiểu (listening comprehension), (2) nói (speaking), (3) đọc (reading), và (4) viết (writing). Rất nhiều từ khóa trong sách chứa đựng đủ tài liệu để các thầy cô sẵn sàng dạy học trò cùng một lúc bốn khả năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt, như khuyến cáo sư phạm hữu hiệu (đã được thời gian chứng tỏ) của Goodman.

 

Sau hết, tôi xin ghi nhận thêm rằng ngữ pháp Việt truyền bá trong công trình này cũng tuyệt đối từ bỏ lối dạy quá lạc hậu là lấy cấu trúc tiếng Pháp làm khuôn mẫu để “ép” cấu trúc tiếng Việt vào trong đó một cách tức tưởi. Trong thời Pháp thuộc, một vài cá nhân quá ái mộ văn học Pháp đứng ra làm công việc phi lý này hẳn đã quên mất rằng trong khi tiếng Pháp thuộc ngữ hệ Ấn-Âu (Indo-European) và là một ngôn ngữ tổng hợp (synthetic) thì tiếng Việt thuộc ngữ hệ Nam-Á (Austro-Asiatic) và là một ngôn ngữ phân tích (analytic). Ngữ pháp Việt trong sách NVTV được giảng dạy qua khuôn khổ ngữ pháp hoàn vũ (universal grammar) đang được áp dụng trong nền giáo dục các nước tiền tiến nhất trên thế giới. Ngữ pháp hoàn vũ là cái lõi chung (common core) cho tất cả tiếng nói loài người, dựa vào các nguyên lý (principles) và bàng kế (parameters). Các nguyên lý chung (thí dụ như “Câu nào cũng phải có chủ từ”) thường được thể hiện qua các hình thức khác nhau gọi là bàng kế (thí dụ như bàng kế “tiếng Pháp bắt buộc câu nào cũng phải có chủ từ rõ rệt” so với bàng kế “tiếng Việt thường cho phép chủ từ vắng mặt hoặc hiểu ngầm”). Do đó, người nào thông thạo một ngoại ngữ tất nhiên phải hiểu thấu sự khác biệt giữa bàng kế tiếng mẹ đẻ và bàng kế ngoại ngữ đó. Giáo Sư Trần Ngọc Ninh đã phát hiện ra nhiều bàng kế đặc trưng (nhưng đôi khi cũng khá rắc rối) của ngôn ngữ chúng ta. Và ông đã rộng lượng chia xẻ những kiến thức khả tín mới nhất, nhờ vào đó mà chúng ta sẽ có ngày theo kịp những bước nhảy vọt ngoạn mục trong nỗ lực tìm hiểu những bàng kế đặc thù của mọi ngôn ngữ thế giới, qua khuôn khổ đáng tin cậy nhất của ngữ pháp hoàn vũ đương đại.

 

Tôi vô cùng hân hạnh và cảm kích được giới thiệu một công trình giáo dục ngôn ngữ thượng đẳng của Giáo Sư Trần Ngọc Ninh, một học giả kiệt xuất mà tôi đã ngưỡng mộ từ lâu.

 

TS Đàm Trung Pháp,

Professor of Linguistics Emeritus,

Texas Woman’s University.

 

“PHONG BA BÃO TÁP KHÔNG BẰNG NGỮ PHÁP VIỆT NAM”: ĐÚNG HAY SAI?

Lời nói đầu:

11 năm trước, khi tôi dậy kèm các cháu học sinh tiểu học, tôi nhận thấy mặc dù theo chương trình Anh Văn do Bộ Giáo Dục Tỉnh Bang Ontario, Canada đặt ra, các học sinh Canada phải được dạy để viết thế nào là “Subject”, “predicate”,  “phrase”, “clause”, “sentence” …. Nhưng trên thực tế, khá ít các học sinh, sinh viên đang đi học hay đã ra trường hiểu/biết rõ về ngữ pháp của tiếng Anh.

Hôm nay khi đọc bài viết này của GS Đàm Trung Pháp (anh ruột của Đàm Trung Phán), Giáo Già Phán ngồi mỉm cười thích thú: tiếng Việt nhà ta rất là phong phú, có phần mới đọc thì thấy nó ỡm ờ như trong cơn mơ ngủ nhưng nếu người đọc được ngủ đủ và đầu óc tinh tường để hiểu rõ ý nghĩa của câu văn thì mới thấy cái phần “ỡm ờ” nó “nên thơ làm sao ấy”. Đã tưởng câu văn, lời thơ viết ra không đúng theo quy luật ngữ pháp lúc ban đầu nhưng đến khi hiểu ra ý nghĩa của câu thơ, lời văn thì giống như lúc độc giả chúng ta đang ăn…sầu riêng vậy! (Trừ khi người đọc chưa dám ăn sầu riêng mà thôi !)

Tôi mỉm cười vu vơ khi đọc:

“MÌNH có biết MÌNH  nghĩ đến MÌNH chứ, vì MÌNH nhảy mũi hoài à! Bao giờ MÌNH lại được gặp MÌNH đây?”

Ôi chao là phong phú nhưng chỉ tội nghiệp cho các dịch giả làm sao mà dịch cho thoát được cái ý tưởng lãng mạn và nhất là cái sợi tơ trời gắn bó giữa hai nhân vật “Mình” trong câu này mà thôi!

“Dr. Google Search” dịch như sau:

“Do I know that I have been thinking about me, since I snee drop! When will you ever see me again?”

Tội nghiệp thay cho người ngoại quốc đã/đang học tiếng Việt!

Xin mời Quý Vị đọc bài viết của

GS ĐÀM TRUNG PHÁP

Theo thiển ý, người nước ngoài  học tiếng Việt chỉ than phiền “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam” khi họ đối đầu với những đặc trưng ngữ pháp của tiếng Việt  quá khác biệt với tiếng mẹ đẻ của họ khiến họ cảm thấy như đang bị vùi dập tả tơi trong cơn bão táp. Ngược lại, họ chẳng có vấn đề gì với những đặc trưng ngữ pháp tiếng Việt giản dị hơn hoặc tương tự như ngữ pháp mẹ đẻ của họ.

Do đó, câu trả lời “nửa chừng xuân” của tôi cho lời than phiền nêu trên của người nước ngoài về ngữ pháp Việt Nam là nó “vừa đúng vừa sai.” Trong bài viết này, tôi sẽ làm sáng tỏ câu trả lời của tôi qua lăng kính Ngữ Pháp Hoàn Vũ (Universal Grammar), và giả dụ tiếng Anh là ngôn ngữ mẹ đẻ của những người nước ngoài đang học tiếng Việt. Vì vậy đại đa số các thí dụ sẽ bằng tiếng Việt và tiếng Anh bên cạnh nhau để làm sáng tỏ những điều tôi giải thích.

Ngữ Pháp Hoàn Vũ (NPHV) là một lý thuyết do Noam Chomsky đề xướng mà hơn nửa thế kỷ nay vẫn chưa bị đạp đổ. Lý thuyết này cho rằng mỗi cá nhân đều biết một số nguyên lý (principles) áp dụng cho tất cả ngôn ngữ nhân loại và một số thông số (parameters) có thể khác biệt từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia cho mỗi nguyên lý hoàn vũ.

Để chứng minh cho sự đáng tin cậy của NPHV, Chomsky đã cùng các cộng sự viên  (nhất là Howard Lasnik) phân tích tận tường khoảng 30 ngôn ngữ đại diện các vùng, các ngữ hệ, các sắc tộc trên thế giới. Nỗ lực “mổ xẻ” nghiêm cẩn nêu trên đã khám phá ra vào khoảng 45 nguyên lý hiện diện trong tất cả những ngôn ngữ đó, với mỗi nguyên lý được biểu hiện qua một số  phương thức đặc thù gọi là thông số.

Thí dụ căn bản nhất về nguyên lý của NPHV là một câu (sentence = S) trong ngôn ngữ nào cũng gồm hai phần chính yếu là phần câu danh (noun phrase =NP) và phần câu động (verb phrase = VP), theo công thức:

[S ➔  NP + VP]

trong đó ký hiệu “ ” (mũi tên) đọc là “gồm có,” yếu tố NP đóng vai chủ ngữ (subject) và yếu tố VP đóng vai vị ngữ (predicate) trong câu. Mối liên hệ giữa NP và VP giúp ta hiểu được ý nghĩa của một câu nói.

Hai yếu tố NP và VP trong câu có thể giản dị, như:

[(NP) Noam Chomsky] + [(VP) dạy ở MIT ]

[(NP) Noam Chomsky] + [(VP) teaches at MIT]

hoặc có thể phức tạp hơn, như:

[(NP) Giáo sư Chomsky tại MIT] + [(VP) đã đề xướng ngữ pháp hoàn vũ]

[(NP) Professor Chomsky at MIT] + [(VP) promoted universal grammar]

Một thí dụ về thông số của NPHV là thông số bỏ rơi đại từ chủ ngữ (the pro-drop parameter).  Thông số này đưa ra 2 lựa chọn: (1) bỏ rơi [pro-drop] hoặc (2) không bỏ rơi [non-pro-drop].

Thông số không bỏ rơi đại từ chủ ngữ phổ cập hơn và hiện diện trong nhiều ngôn ngữ đông người sử dụng như Anh ngữ và Đức ngữ. Hãy quan sát các chủ ngữ không thể bỏ rơi viết bằng chữ lớn (HE, ER) cho 2 thí dụ bằng Anh ngữ và Đức ngữ dưới đây: [1]

John is from England. HE speaks English.

Hans kommt aus Deutschland. ER spricht Deutsch.

[1] Trong ngữ cảnh tương tự, ngữ pháp Tây ban nha thường bỏ rơi chủ từ ÉL của động từ habla: Roberto es de México. Habla español.

 

Thông số bỏ rơi đại từ chủ ngữ là sự lựa chọn của ngữ pháp tiếng Việt và một số tiếng khác có đông người sử dụng như Hoa ngữ chẳng hạn. Hãy quan sát 2 thí dụ dưới đây, trong đó các ký hiệu [ai?]  và [谁(thùy)?]  đánh dấu chỗ đại từ chủ ngữ bị bỏ rơi:

[ai?] Thức khuya mới biết đêm dài

[ai?] Ở lâu mới biết lòng người có nhân

[谁?] 不  到  長  城 [谁?]   非  好 漢

[thùy?] Bất đáo Trường Thành [thùy?] phi hảo hán [2]

[2] [ai?] Chưa đến Trường Thành [ai?] không thể là hảo hán

Dựa vào lý thuyết của NPHV, ta có thể suy luận ra rằng: Muốn thủ đắc một ngôn ngữ mới, học viên phải hiểu rõ và có khả năng phân biệt chính xác được những nét đặc trưng của mỗi thông số giữa ngữ pháp ngôn ngữ mới và ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Từ sự suy luận này, ta sẽ đi tới hai nhận xét dưới đây cho những học viên nước  ngoài (có Anh ngữ là tiếng mẹ đẻ) đang trau giồi tiếng Việt:

  1. “Khả năng phân biệt chính xác” ấy sẽ dễ dàng thực hiện khi (a) sự khác biệt giữa thông số Việtthông số Anh cho cùng một nguyên lý không đáng kể, hoặc (b) khi thông số Việt giản dị gấp bội thông số Anh cho cùng một nguyên lý. Thí dụ cho trường hợp (a) là thứ tự xuất hiện (word order) của chủ từ (subject = S), động từ (verb = V), và túc từ (object = O) trong một câu Anh ngữ cũng như Việt ngữ đều là [S+V+O]: [3]

[ (S) She + (V) likes + (O) him]                                                                     [(S) Nàng  + (V) thích + (O) hắn]

[3] So với thứ tự xuất hiện trong câu tiếng Nhật là [S+O+V]

 

Thí dụ cho trường hợp (b) là các động từ tiếng Việt không phải “chia” (conjugated) phiền toái như tiếng Anh trong các “thời” (tenses), các “thể” (moods). Một cách khái quát, nếu cần thì ba “từ chức năng” (function words) ĐANG, ĐÃ, SẼ (đặt trước động từ) có thể dùng để đánh dấu các thời hiện tại, quá khứ, tương lai. Vì vậy, một thời như future perfect progressive tense chẳng hạn trong câu “By this time next week we will have been learning Vietnamese for three months” rất khó cắt nghĩa cho học trò Việt, vì nó cầu kỳ quá. Quả thực, kinh nghiệm dạy tiếng Anh 10 năm của tôi tại Đại học Saigon cho tôi thấy rõ lãnh vực sử dụng động từ tiếng Anh trong quá nhiều các thời, các thể là một thử thách lớn lao gây ra nhiều lỗi văn phạm nhất cho sinh viên của tôi.

Nếu như chỉ căn cứ vào hai trường hợp nêu trên, ta có quyền khoe“Trời yên biển lặng chẳng bằng ngữ pháp Việt Nam” một cách an toàn!

  1. Nhưng “khả năng phân biệt chính xác” tiên quyết nêu trên sẽ là một thử thách khủng khiếp khi mà nét đặc trưng của một thông số giữa ngữ pháp Việt và ngữ pháp Anh khác nhau một trời một vực. Đây chính là lúc người nước ngoài nói tiếng Anh đang cố gắng hết sức bình sinh để chinh phục một thông số ngữ pháp tiếng Việt nào đó quá kỳ lạ nhưng chưa biết bao giờ mới thành công, như giải thích dưới đây:

Số là họ đang vật lộn với những “kỳ hoa dị thảo” trong thông số mà ngữ pháp Việt Nam dùng để áp dụng nguyên lý hoàn vũ về vai trò đại từ nhân xưng. Họ thấy cách dùng đại từ nhân xưng trong tiếng Việt thực vô cùng phức tạp so với tiếng Anh của họ.

Thật vậy, tiếng Anh chỉ có những đại từ xưng hô căn bản dưới đây, quá dễ sử dụng:

 

Ngôi thứ nhất số ít: I

Ngôi thứ nhất số nhiều: WE

Ngôi thứ hai số ít: YOU

Ngôi thứ hai số nhiều: YOU [4]

[4] Vài phương ngữ ở Mỹ cùng dùng: Y’ALL, YOU GUYS, YOUS, YOUSE!

Trong khi đó, có lẽ không một ngôn ngữ nào khác có thể so với Việt ngữ về   bản chất đa dạng, đa năng của đại từ xưng hô ngôi thứ nhất số ít. Trong khi đa số ngôn ngữ chỉ sử dụng một dạng cho ngôi này, như JE trong Pháp ngữ, I trong Anh ngữ, ICH trong Đức ngữ, và WO (我) trong Hoa ngữ quan thoại, Việt ngữ có cả một kho tàng xưng hô cho ngôi thứ nhất số ít ngoài đại từ TÔI thông thường.

Mỗi dạng khác nhau của đại từ TÔI nói lên được mối liên hệ đặc biệt giữa người nói và người nghe. Con cái chẳng bao giờ dám xưng TÔI với cha mẹ, cũng như học trò chẳng hề xưng TÔI với thầy và cô giáo. TAO và TỚ chỉ có thể thay thế cho TÔI  giữa các bạn bè thân nhất; đại từ TAO cũng xuất hiện đều đều  trong các cuộc chửi bới. Các đại từ xưng hô TÔI, TAO, TỚ có hình dạng số nhiều là CHÚNG TÔI, CHÚNG TAO, CHÚNG TỚ.

Tất cả các danh từ diễn tả mối liên hệ họ hàng như BỐ, MẸ, CHÚ, BÁC, CÔ, CẬU, ÔNG NỘI, BÀ NGOẠI … đều có thể được dùng làm đại từ xưng hô ngôi thứ nhất. Và một nét rất đặc thù của tiếng Việt là tên người đang nói có thể được dùng làm đại từ xưng hô thay cho TÔI  như trong câu nói nũng nịu của một cô Lan xinh đẹp nào đó với người bạn trai tốt số mới được quen nàng: “LAN muốn rủ anh đi Vũng Tàu tắm biển với LAN cuối tuần này, anh chịu không? Có người mới cho LAN một bộ bikini ngộ lắm, anh ơi!”

Ngày xưa, các hoàng đế tự xưng mình là TRẪM khi tiếp xúc với thần dân, và thần dân cung kính gọi họ là BỆ HẠ. Ngày nay một số người Việt “tồn cổ” đôi khi cũng khiêm tốn xưng mình là TẠI HẠ hoặc BỈ NHÂN, đặc biệt là trong văn viết.

Cũng giống như trường hợp ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai của đại từ xưng hô trong tiếng Việt đa diện, đa năng hơn hẳn nhiều ngôn ngữ khác. Mỗi dạng của ngôi này nói lên được mối liên hệ đặc biệt giữa người nói và người nghe. MÀY/CHÚNG MÀY chỉ dùng giữa bạn bè hoặc trong các cuộc chửi lộn. Ngoài những đại từ xưng hô thông thường như ANH/CÁC ANH, EM/CÁC EM, ÔNG/CÁC ÔNG, BÀ/CÁC BÀ, CỤ/CÁC CỤ, những danh từ diễn tả mối liên hệ họ hàng (BÁC, CHÚ), những tước vị (BÁC SĨ, THIẾU ÚY), cũng như tên người (LAN, TUẤN) đều có thể dùng làm đại từ xưng hô ngôi hai.

Thưa chưa hết đâu! Chức năng tuyệt diệu “độc nhất vô nhị” của đại từ xưng hô MÌNH, cho cả ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai số ít, có lẽ đã từng làm không ít người nước ngoài giật mình và thú vị.  Nó vừa ỡm ờ vừa tình tứ hết cỡ, như trong câu hỏi: “MÌNH ơi, MÌNH có biết là MÌNH nghĩ đến MÌNH cả ngày hôm nay không, hả MÌNH?” và câu trả lời: “MÌNH có biết MÌNH  nghĩ đến MÌNH chứ, vì MÌNH nhảy mũi hoài à! Bao giờ MÌNH lại được gặp MÌNH đây?”

 

Vậy thì khi người nước ngoài “tuyệt vọng” với thông số quá phức tạp về đại từ xưng hô trong tiếng Việt rồi than thở “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam” ta rất nên thông cảm với lý do chính đáng của họ.

 

 

ĐÀM TRUNG PHÁP

Professor of Linguistics Emeritus

Texas Woman’s University

QUỐC HẬN 30/4 TẠI TORONTO VÀ THỦ ĐÔ OTTAWA, CANADA – 2017

LỄ CHÀO CỜ TƯỞNG NIỆM 42 NĂM QUỐC HẬN NĂM 2017 CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỰ DO TẠI VÙNG ĐẠI ĐÔ THỊ TORONTO ĐÃ ĐƯỢC TỔ CHỨC

TRONG 3 NGÀY VÀ 3 NƠI KHÁC NHAU:

  1. NGÀY 29/04/2017: LỄ THƯỢNG KỲ CỜ VÀNG VNCH TRƯỚC QUỐC HỘI TỈNH BANG ONTARIO TẠI QUEEN’S PARK , TORONTO

 

https://www.flickr.com/photos/75610639@N07/sets/72157683136813276/

(The Journey to Freedom Day 30-4-2017, Queen’s Park, Ontario Canada

Lần đầu tiên, trong 42 năm qua, Lễ Tưỏng Niệm 30-4 tại thành phố Toronto được tổ chức tại Queen’s Park tòa nhà Quốc Hội của tỉnh bang Ontario, CANADA.)

NGHIA DO

***

https://photos.google.com/share/AF1QipMzVQGOaBvFiqtm1SHLX1HA-g3DynRat_Rfg8fJn-WYqxk1r-4ZKKKnvA0mxkDXSw?key=dVg4WHZIdUxvTjE2M25FdlZta0ZPSXM5cDhtUU53

(Tưởng niệm Quốc Hận 30 tháng Tư: Lễ Thượng Kỳ VNCH lần đầu tiên năm 2017 tại Viện Lập Pháp tỉnh bang Ontario, Canada.)

TRẦN CAO MINH

***

https://get.google.com/albumarchive/110033572606660377857/album/AF1QipOV87O0mmw1e2xmOQ2TsLvYEdAUWomLtcXl5qzM?source=pwa

(VIETNAMESE CANADIAN FLAG RAISING AT QUEEN’S PARK, ONTARIO, CANADA – APRIL 29, 2017)

ĐÀM TRUNG PHÁN

***

http://thuduc-ontario.ca/Folder/thuongky-queenspark/index.html

(Lễ Thượng Kỳ VNCH Trước Tiền Đình Quốc Hội Tỉnh Bang Ontario, Ngày 29/04/2017.)

ĐẶNG HOÀNG SƠN

 ***

https://www.youtube.com/watch?v=hbEnlmp765k

(Quốc Hận 30 4 2017 tại Queen’s Park)

VS Le

***

https://www.youtube.com/watch?v=kmuZJ1ek4sk&feature=youtu.be

Phóng sự đặc biệt Lễ Thượng Kỳ VNCH tại Quốc Hội Tỉnh Bang Ontario

vbstvcanada

================================

  1. NGÀY 30/04/2017:

 

LỄ CHÀO CỜ TƯỞNG NIỆM 42 NĂM QUỐC HẬN TẠI MEL LASTMAN SQUARE, TORONTO

 


https://get.google.com/albumarchive/110033572606660377857/album/AF1QipOACJ1ed1H3CBXHFeuWDgjzO4iaUHoZ91bHWGwt?source=pwa

(TƯỞNG NIỆM 42 NĂM NGÀY QUỐC HẬN 30 THÁNG 4, 1975 TẠI MEL LASTMAN SQUARE, TORONTO)

 

ĐÀM TRUNG PHÁN

***

http://thuduc-ontario.ca/Folder/chaoco-northyork/index.html

LỄ CHÀO CỜ TƯỞNG NIỆM
42 NĂM QUỐC HẬN
TẠI MEL LASTMAN SQUARE,
Ngày 30/04/2017.

ĐẶNG HOÀNG SƠN

***

 

https://www.youtube.com/watch?v=h5dOILKZJPo

( Quốc Hận tại Mel Lastman)

 

Vo Media

 

 =================

  1. NGÀY 01/05/2017: LỄ THƯỢNG KỲ VNCH TRƯỚC QUỐC HỘI LIÊN BANG CANADA TẠI THỦ ĐÔ OTTAWA, CANADA

 

http://thuduc-ontario.ca/Folder/thuongky-ottawa/index.html

(Thượng Kỳ tại thủ đô Ottawa, Canada )

 

ĐẶNG HOÀNG SƠN

 

***

 

https://www.youtube.com/watch?v=4DhHNwDfmpE&feature=youtu.be

(Lễ Thượng Kỳ VNCH ttrước Quốc Hội Liên Bang, Ottawa, Canada)

 

vbstvcanada

 

***

https://photos.google.com/share/AF1QipPca5VroGTlKHtdzFXQ1TzghzbGoeLmZ92VEnHY0lCaJhEDkMqftRLbpN0PKitbMA?key=VHhYWW9ZOTRpeW9WUkJpRTJIaFdDazRXcXk1b1dB

(Lễ Thượng kỳ VNCH tại tiền đình Quốc Hội Canada ngày 1 tháng 5 năm 2017 –

Phần 1)

TRẦN THÁI LỰC

***

https://photos.google.com/share/AF1QipOzD736h5Hu6pnh6C-xwcUuyLLVEGaxQwfCEFIiQ2WwGrvGR-IfdD1Jl-OMR60r5A?key=U19kdWZ2MHFIcm44T2RIM3RUTkxjdlk0OTlaNGhR

(Lễ Thượng kỳ VNCH tại tiền đình Quốc Hội Canada ngày 1 tháng 5 năm 2017-

Phần  2)

TRẦN THÁI LỰC

 

***

https://drive.google.com/drive/folders/0BxkCX9AjyMaQSzJXeE0tWElYSDQ

Lễ thượng kỳ VNCH tại Ottawa ngày Một tháng Năm 2017

 

Khách Qua Đường

***

VIDEO TÀI LIỆU:

https://www.youtube.com/watch?v=gSsEzofOYuw

(Phim Tài Liệu 30.4.1975-42 Năm Không Thể Quên Ngày Quốc Hận)

LIKE CHO VIỆT NAM

 

NHỮNG THÁNG NGÀY ĐÔN ĐÁO LÀM “GIÁO DỤC TỴ NẠN”

SAN ANTONIO CHỚM XUÂN 1980

 

Một thiện duyên đến với tôi năm 1980, khi trời vừa vào xuân tại San Antonio, Texas. Lúc ấy thành phố này đang đón nhận khá nhiều dân tỵ nạn Việt, Miên, Lào – gọi chung là “dân tỵ nạn Đông Dương” – qua trung gian của văn phòng USCC là cơ quan định cư lớn nhất cho người tỵ nạn nói chung. Để giúp những gia đình bảo trợ, các giới chức học chánh, cũng như giới chức xã hội địa phương hiểu biết thêm về nếp sống của người tỵ nạn Đông Dương, USCC và Our Lady of the Lake University cùng đứng ra tổ chức một buổi hội thảo về văn hóa Đông Dương vào giữa tháng 3 năm 1980 trong khuôn viên của trường. Tôi là một trong số diễn giả được mời, và trong thành phần tham dự viên có một vị đại diện cho một tổ chức nghiên cứu giáo dục đa văn hóa tại San Antonio mang tên “Intercultural Development Research Association” (IDRA). Sau khi tôi thuyết trình xong về những nét chính yếu của văn hóa và ngôn ngữ Đông Dương và trả lời một số câu hỏi từ các tham dự viên, vị đại diện IDRA đến bắt tay tôi và chúc mừng tôi đã đóng góp một bài nói chuyện hữu ích. Gốc Mỹ Châu La-Tinh với nước da bánh mật, cô Esmeralda rất thân thiện và dễ mến. Cô xin số điện thoại của tôi, và khi chia tay cô tươi cười nói với tôi một câu như nửa đùa nửa thật, “Ông ‘boss’ của tôi mong được gặp ông lắm đấy!”

 

Cô Esmeralda không đùa, vì chỉ hai ngày sau buổi hội thảo cô đã gọi điện thoại cho tôi và cho biết ông “boss” của cô gửi lời mời tôi đến gặp ông tại IDRA càng sớm càng tốt. Chúng tôi thỏa thuận ngày giờ cho buổi gặp gỡ với ông ấy, và tôi cảm ơn cô rất nhiều khi chào tạm biệt. Mấy câu điện đàm vắn tắt ấy cho tôi cái linh cảm rằng một chân trời mới sắp mở ra cho nghề nghiệp của tôi.

 

INTERCULTURAL DEVELOPMENT RESEARCH ASSOCIATION (IDRA)

 

Trụ sở của IDRA khang trang, chiếm trọn tầng nhất một cao ốc đồ sộ trên đường Callaghan, thành phố San Antonio. Khi bước vào phòng tiếp khách tôi được cô thư ký cho biết TS José Cárdenas, giám đốc điều hành IDRA, sẵn sàng tiếp tôi và cô hướng dẫn tôi vào văn phòng làm việc của ông. Ông là người gốc Mễ Tây Cơ, khoảng ngũ tuần, vóc giáng bệ vệ, cung cách cư xử trang nghiêm. Sau vài câu xã giao, chúng tôi chia xẻ với nhau về quá trình nghề nghiệp. Ông từng dạy ở Đại Học Texas tại Austin và làm trưởng khoa giáo dục cho Đại Học St Mary tại San Antonio. Tôi cho ông biết tôi chuyên về ngôn ngữ học và phương pháp giảng dạy ESL (English as a second language) tại Đại Học Georgetown và đã dạy tiếng Anh nhiều năm tại Saigon. Ông hân hoan ra mặt khi tôi bất chợt chuyển từ tiếng Anh sang tiếng Tây Ban Nha là tiếng mẹ đẻ của ông.

 

Sau mấy phút làm quen đó, TS Cárdenas cởi mở hơn nhiều. Ông cho biết IDRA vừa được Bộ Giáo Dục liên bang cấp thêm một ngân khoản lớn để giúp đỡ các khu học chánh trong Vùng VI của Bộ Giáo Dục (bao gồm các tiểu bang Texas, Louisiana, Arkansas, New Mexico, và Oklahoma) cải thiện việc dạy dỗ các học sinh chưa thông thạo tiếng Anh, mà đại đa số thuộc sắc tộc Mỹ Châu La-Tinh. Vì nay có thêm cả hàng chục ngàn học sinh tỵ nạn gốc Đông Dương trong các tiểu bang vừa kể, từ mấy tháng qua ông và các cộng sự viên vẫn ráng sức tìm kiếm một “chuyên viên giáo dục gốc Đông Dương” để mời hợp tác. Ông nói cô Esmeralda nghĩ rằng tôi có khả năng và kinh nghiệm để làm việc với IDRA, căn cứ vào những điều cô đã tai nghe mắt thấy trong buổi thuyết trình của tôi hai hôm về trước! Tôi cảm ơn ông đã có nhã ý mời tôi đến gặp ông, và cho ông biết tôi sẽ có quyết định sau khi tìm hiểu trách nhiệm của công việc mà tôi cho là tối cần thiết cho các học sinh tỵ nạn gốc Việt, Miên, Lào này.

Ông cho biết công việc của một “chuyên viên giáo dục” (education specialist) tại IDRA đòi hỏi mỗi tuần phải bay đến ít nhất là một thành phố trong năm tiểu bang của Vùng VI để trực tiếp giúp đỡ các bộ giáo dục tiểu bang, các khu học chánh trong các lãnh vực huấn luyện giáo chức về phương pháp giảng dậy song ngữ (bilingual) hoặc ESL, lựa chọn tài liệu giảng huấn cho các trường học, và cố vấn cho họ về nếp đa dạng văn hóa (cultural diversity) trong học đường Mỹ. Các chuyên viên cũng có cơ hội giúp những đại học trong vùng cải tiến chương trình đào tạo giáo chức song ngữ và ESL. Ngừng một lát, ông hỏi tôi nghĩ sao về những trách nhiệm này. Tôi nói công việc này “thú vị” lắm, nhưng tôi sẽ phải ráng làm quen với lối sống xa nhà mỗi tuần!

 

Sau khi thỏa thuận về trách nhiệm và lợi nhuận, tôi xin ông hai tuần để lo xong công việc dở dang tại hãng Northrop. Cuộc “job interview” ngắn ngủi đã xong, ông  dẫn tôi đi thăm các phòng sở, giới thiệu tôi với các đồng nghiệp mới của tôi. IDRA là một tổ chức khá lớn, với trên 30 chuyên viên giáo dục. Vì IDRA được thành lập với sứ mệnh bảo đảm một nền giáo dục hữu hiệu cho các học trò gốc Mỹ Châu La-Tinh, đại đa số các chuyên viên đều thuộc sắc tộc này. Thiểu số còn lại là 2 người da trắng, 2 người da đen, và tôi là người da vàng duy nhất. Người nào tôi gặp cũng thân thiện và cởi mở với tôi. Sáng hôm ấy tôi không gặp được tất cả mọi người, vì nhiều người phải đi công tác xa, kể cả cô Esmeralda là người tôi rất muốn gặp lại để cảm ơn cô đã nói tốt về tôi. Vị giám đốc chương trình của tôi là TS Gloria Zamora, một phụ nữ nhỏ nhắn với nụ cười hiền hậu và giọng nói ngọt ngào. Bà lúc ấy đã ngoại tứ tuần, từng dạy đại học nhiều năm và nay là cánh tay phải của TS Cárdenas. Tôi cũng được biết từ năm 1973 là lúc TS Cárdenas sáng lập IDRA, ông đã biến tổ chức này thành một “think tank” chuyên về giáo dục song ngữ (bilingual education) được các khu học chánh và các đại học Mỹ trong vùng trọng vọng. Vì IDRA là một cơ sở nghiên cứu giáo dục, TS Zamora mong đợi tôi sẽ đóng góp vào nỗ lực nghiên cứu trong những ngày tháng sắp tới. Tôi hứa hẹn sẽ đóng góp trong khả năng chuyên môn của tôi.

 

THỜI CỰC THỊNH CHO GIÁO DỤC SONG NGỮ

 

Thời điểm ấy nằm trong giai đoạn cực thịnh của nền giáo dục song ngữ cho các học trò gốc Mỹ Châu La-Tinh không hoặc chưa thông thạo tiếng Anh (gọi tập thể là “limited-English-proficient students”). Và “giáo dục song ngữ” thường được hiểu là phương thức sư phạm dùng cả tiếng Tây Ban Nha lẫn tiếng Anh để dạy các em trong các trường tiểu học, từ mẫu giáo đến lớp 6. Trong ba năm đầu tiểu học, các em đó được dạy hầu hết mọi môn bằng tiếng Tây Ban Nha, rồi dần dần tiếng Anh được đưa vào học trình càng lúc càng nhiều trong những năm cuối tiểu học, để khi lên các lớp 7 và lớp 8 (middle school) các em sẽ có thể hoàn toàn theo học bằng tiếng Anh.

 

Điều đáng ngạc nhiên là thời kỳ cực thịnh này cho các học trò gốc Mỹ Châu La-Tinh là do hậu quả của một vụ kiện Khu Học Chánh San Francisco lên đến tận Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ vào năm 1974 bởi một gia đình Mỹ gốc … Quảng Đông! Lý do để kiện: Các trẻ em gốc Quảng Đông đã không học hành được gì cả “vì chúng không biết tiếng Anh.” Khu Học Chánh San Francisco đã không có một trợ giúp nào đặc biệt cho chúng, như Đạo Luật Dân Quyền 1964 (Civil Rights Act of 1964) đòi hỏi. Tối Cao Pháp Viện phán quyết Khu Học Chánh San Francisco đã “phạm lỗi kỳ thị” đối với các trẻ em ấy và phải chấn chỉnh lại ngay lề lối làm việc vô trách nhiệm. Vụ kiện ấy (mang tên “Lau v. Nichols”) là một khúc quanh quan trọng trong lịch sử giáo dục nước Mỹ. Chính phủ liên bang sau đó đã bỏ ra những ngân khoản lớn lao để giúp các cơ sở giáo dục thăng tiến việc giảng dạy các học trò chưa thạo tiếng Anh càng ngày càng gia tăng trong học đường Mỹ. Cũng nhờ đó mà các chương trình cử nhân và hậu cử nhân đào tạo giáo chức song ngữ tưng bừng khai trương tại các đại học Mỹ.  Sinh viên trong các chương trình này được cấp học bổng trong suốt thời gian theo học.

 

Hôm nhận việc tại IDRA, tôi ghé văn phòng TS Zamora trước tiên. Bà vui lắm và tiếp tôi như một người bạn đã quen từ lâu. Bà nói về tổ chức nội bộ, giải thích kỹ càng mọi nhiệm vụ tôi sẽ phải làm, và chia xẻ với tôi những kinh nghiệm của bà đã làm việc nhiều năm với các bộ giáo dục tiểu bang, các khu học chánh. Về lối làm việc, IDRA giống như một đại gia đình, trong đó “teamwork” là tôn chỉ tuyệt đối. Về khả năng chuyên môn, cơ sở này được coi là một “think tank” cho giáo dục song ngữ, với các chuyên viên có học vị cao, thành tích nghiên cứu đáng kể, và kinh nghiệm dạy học. Trên đường dẫn tôi đến văn phòng mà bà vừa thu xếp cho tôi, bà yêu cầu từ nay tôi gọi bà là “Gloria,” gọi TS Cárdenas là “José,” và họ sẽ gọi tôi là “Pháp” cho thân mật hơn “vì chúng ta là gia đình mà” – một lối nói thân thương của người Mỹ Châu La-Tinh, “porque somos familia.” Tôi rất cảm kích với câu nói ấm lòng ấy của Gloria.

 

Như diều gặp gió, tôi làm việc hăng say trong thời gian một năm rưỡi trời tại IDRA, với sự giúp đỡ, hướng dẫn, và khích lệ tận tình của Gloria và José. Tuần nào tôi cũng bay đi làm việc một hay hai ngày tại các thành phố lớn trong Vùng VI như Houston, Dallas, Austin, Oklahoma City, New Orleans, Baton Rouge, Little Rock, theo lời yêu cầu của các bộ giáo dục tiểu bang hoặc các khu học chánh sở tại.  Công việc chính trong các chuyến đi ấy là làm thuyết trình về các đề tài họ yêu cầu trước (thường thường là về văn hóa, phong tục, giáo dục, và ngôn ngữ Việt), hoặc huấn luyện giáo chức cho họ qua các buổi biểu diễn các “chiến lược hữu hiệu” (effective strategies) để dạy tiếng Anh cho các học trò ngoại quốc chưa thạo tiếng Anh. Con số tham dự viên biến thiên từ hàng chục đến hàng trăm người. Nơi thuyết trình có thể là một auditorium của một trường trung học, một phòng họp của bộ giáo dục tiểu bang, hoặc một conference room ở một khách sạn nào đó. Tôi mau chóng trở thành một trong các chuyên viên giáo dục “đắt khách” của IDRA. José và Gloria đều hân hoan chia xẻ với tôi mỗi khi các bộ giáo dục tiểu bang hoặc các khu học chánh gọi điện thoại cảm ơn IDRA và mời tôi trở lại giúp họ thêm.

 

Những ngày không đi công tác, tôi vào văn phòng để chuẩn bị hoặc duyệt lại các tài liệu chuyên môn. Đó cũng là lúc tôi đóng góp cho bản tin hàng tháng của IDRA, mở đầu bằng bài tôi thuyết trình trong buổi hội thảo do USCC tổ chức tại Our Lady of the Lake University, được hiệu đính lại cẩn thận, mang tựa đề “The Indochinese Refugees’ Cultural Backgrounds.” Qua hệ thống phổ biến rộng rãi của IDRA, bài viết này đã được chia xẻ với nhiều cơ sở giáo dục toàn quốc.

 

HAI TÀI LIỆU SƯ PHẠM SOẠN CHO GIÁO CHỨC LOUISIA VÀ TEXAS 

 

Một hôm José cho tôi hay Bộ Giáo Dục Tiểu Bang Louisiana vừa yêu cầu IDRA soạn thảo một cuốn sách nói về những lỗi (errors) đặc thù thông thường nhất của học trò gốc Việt Nam khi học tiếng Anh. Mục đích của cuốn sách là để giúp các thầy cô dạy ESL tại Louisiana biết trước những loại lỗi này và do đó tìm ra cách giúp học trò Việt Nam tránh chúng một cách hữu hiệu hơn. Vui thay, đó là lời yêu cầu tôi sẵn sàng đáp ứng nhất mà chẳng cần sửa soạn thêm gì nhiều, vì tôi đã bỏ ra nhiều thì giờ tìm hiểu về lãnh vực này trong những năm dạy tiếng Anh ở quê nhà. Tôi từng để ý nhận ra, ghi xuống, và xếp loại được khá nhiều lỗi về phát âm và ngữ pháp tiếng Anh mà các học trò của tôi thường vấp phải. Chẳng hạn như về phát âm thì các em có khuynh hướng thay thế âm “th” trong tiếng Anh (như trong chữ “thin”) bằng âm “th” trong tiếng Việt (như trong chữ “thìn”). Và khi viết một câu phức tạp (complex sentence) tiếng Anh mở đầu với mệnh đề phụ (subordinate clause) bắt đầu bằng liên từ “although” (Although he is very smart,), các em có khuynh hướng dùng thừa liên từ “but” trong mệnh đề chính theo sau (Although he is very smart, but he is not arrogant), như thể các em đã dùng cú pháp Việt để viết tiếng Anh vậy (Mặc dù anh ta rất thông minh, nhưng anh ta không kiêu căng). Tôi cũng tìm cách lý giải những lỗi ấy qua lăng kính “phân tích tương phản” (để vạch ra sự khác biệt giữa cấu trúc tiếng Việt và cấu trúc tiếng Anh và tiên đoán những lỗi có thể xảy ra vì sự khác biệt cấu trúc) và lăng kính “phân tích lỗi” (để xem những lỗi mà học trò thực sự đã phạm là do sự khác biệt nói trên hay một lý do nào khác chăng). Hai lối phân tích thú vị này, gọi là “contrastive analysis” và “error analysis” trong danh từ chuyên môn, thuộc phạm trù môn “ngữ học áp dụng” (applied linguistics) không xa lạ gì với tôi.

 

Vì đã quá quen thuộc với các lỗi về phát âm và cú pháp tiếng Anh của học trò Việt, tôi mau chóng hoàn tất bản thảo cuốn sách được yêu cầu, trong đó tôi xếp loại các lỗi và đề nghị cách giúp học trò Việt vượt qua những loại lỗi tiếng Anh đó. José và Gloria đề nghị tôi nới rộng nội dung bản thảo ấy ra để bao gồm luôn hai ngôn ngữ Đông Dương khác nữa là tiếng Miên và tiếng Lào để cuốn sách tăng phần hữu dụng.  Họ cũng chấp thuận một ngân khoản để trả thù lao cho hai nhà giáo tỵ nạn gốc Miên và Lào đóng vai “informants” cung cấp cho tôi những dữ kiện cần thiết. Tôi rất ngạc nhiên khi được hai vị này cho biết là chính họ cũng mắc phải đại đa số những lỗi tiếng Anh mà người Việt mắc phải! Sự hợp tác sốt sắng của họ rất đáng quý và đã cung cấp cho tôi những điều tôi mong muốn được biết.

 

Cuốn sách “A Contrastive Approach for Teaching English as a Second Language to Indochinese Students” do tôi soạn thảo được IDRA xuất bản vào cuối mùa hè 1980 và được đón nhận nồng nhiệt. Đây là một niềm vui lớn cho tôi về cả hai phương diện tinh thần và vật chất, và tôi mang ơn José rất nhiều. Ông không những đã viết lời mở đầu trang trọng cho cuốn sách mà sau đó còn cho tôi hưởng trọn tiền lời cuốn sách, lớn hơn cả một tháng lương của tôi! Đó là một phần thưởng quá đặc biệt mà tôi chẳng hề mong đợi.

 

Đền đáp thịnh tình của José, đầu năm 1981 tôi soạn xong cẩm nang “A Manual for Teachers of Indochinese Students” để IDRA phát hành, với tất cả tiền lời tặng vào quỹ điều hành IDRA. Cuốn cẩm nang này được soạn thảo theo lời yêu cầu của Khu Học Chánh Houston, Texas.

 

Nhờ vào “hào quang” của IDRA, tôi được sự tín nhiệm của các đại học trong vùng đang cố gắng cải tiến chương trình đào tạo giáo chức song ngữ và ESL. Vì vậy, dù bận rộn với công việc chính, tôi cũng đã thu xếp thì giờ để phụ trách lớp “ngữ học giáo dục” và lớp “giáo dục đa văn hóa” theo lời mời lần lượt của Đại Học Our Lady of the Lake tại San Antonio và Đại Học Texas tại Austin trong niên học 1980-1981.

 

KEYNOTE SPEAKER TẠI DISD

 

Giữa tháng sáu 1981, Dallas Independent School District (DISD) yêu cầu IDRA gửi tôi đến làm “diễn giả chủ đề” (keynote speaker) khai mạc một khóa tu nghiệp cho toàn thể giáo chức ESL trong khu học chánh. Vị đại diện DISD nồng nhiệt giới thiệu tôi với khoảng 500 nhà giáo ngồi kín một hội trường. Mục đích bài nói chuyện là để kể lại kinh nghiệm học tiếng Anh theo “phương pháp văn phạm và phiên dịch” (grammar-translation method) của tôi hồi trung học ở Saigon, tức là một phương pháp không chú trọng đến đàm thoại chút nào. Cử tọa chăm chú nghe tôi nói về những khó khăn, những hiểu lầm khá bối rối của tôi khi phải vật lộn với “Anh ngữ đàm thoại” (spoken English) cũng như với “Anh ngữ hàn lâm” (academic English) lúc mới qua Mỹ du học. Họ vỗ tay nhiệt liệt khi tôi đề nghị những điều thiết thực cần phải chú trọng khi dạy ESL để các học trò ở DISD ngày nay sẽ không phải “khổ” như tôi thời ấy.

 

GIÃ BIỆT IDRA CUỐI HÈ 1981

 

Có ngờ đâu bài nói chuyện chủ đề thành công sáng hôm đó tại Dallas cũng đánh dấu một khúc quanh nữa trong đời nghề nghiệp của tôi. Chỉ ba ngày sau đó tôi được ông giám đốc nhân viên – thay mặt ông General Superintendent của DISD – gọi điện thoại mời tôi làm “administrator” cho chương trình ESL đang bành trướng mạnh. Bối rối với cái “job offer” quá bất ngờ và quá nhanh từ Dallas, tôi vội cảm ơn và hứa sẽ gọi lại ông, sau khi thảo luận việc này với gia đình.

 

Đó là một quyết định khó khăn cho một người giàu tình cảm và trọng ân nghĩa như tôi. Thực vậy, IDRA đã thăng hoa danh tiếng nghề nghiệp cho tôi, qua sự hướng dẫn và cổ võ tận tình của José và Gloria là hai nhà giáo khả kính đã tận tụy suốt đời với lý tưởng bênh vực quyền lợi giáo dục cho hàng trăm ngàn học trò gốc Mỹ Châu La-Tinh tại Texas và các tiểu bang lân cận. Nhưng đã tới lúc tôi phải chia tay với IDRA, vì tôi đã thấm mệt và ngán ngẩm khi nghĩ đến những phi trường, những khách sạn, những ngày xa gia đình, sau 18 tháng trời bay nhảy phục vụ giáo dục tỵ nạn Đông Dương.

 

Khi viết những dòng chữ này tôi còn nhớ như in nét mặt đầy thất vọng của Tiến sĩ José Cárdenas – một ân nhân của tôi nay không còn nữa – khi tôi ghé văn phòng ông để nói lời giã biệt, đúng 37 năm về trước.

 

ĐÀM TRUNG PHÁP

Chớm xuân 2017

California     

TIẾC THƯƠNG KHUNG TRỜI ĐẠI HỌC SAIGON

HÈ 1976 TẠI SAN ANTONIO, TEXAS

Sau gần một năm trời như kẻ mất hồn –vì quá tiếc thương những tháng ngày hạnh phúc cũ– mà vẫn cố tìm cho ra một công việc làm văn phòng thì vào đầu hè 1976 tôi được tuyển làm chủ biên tài liệu huấn luyện (training modules editor) cho một công ty mới trúng thầu được khế ước dài hạn với Defense Language Institute của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Gia đình tôi gấp rút chuyển cư từ Georgia đến San Antonio, Texas để tôi nhận việc.

Công việc làm văn phòng nhẹ nhàng và phù hợp khả năng –với trách nhiệm “hiệu đính” (editing) và “đọc kỹ lần chót” (proofing) các tài liệu huấn luyện trước khi nộp cho nhà in –mà lợi tức cũng đủ mưu sinh cho gia đình. Đáng lý phải vui mừng chứ, vậy mà sao tôi vẫn xót xa tiếc thương khung trời đại học Saigon thân yêu của tôi đã bị bức tử vì quốc nạn 1975!

Nỗi luyến tiếc day dứt ấy đã thúc đẩy tôi tìm cách “trở lại nghề cũ” bằng mọi giá, mặc dù tôi biết rõ công việc dạy đại học toàn thời gian với hy vọng đạt được “tenure” (tựa như “vào chánh ngạch” để khó bị sa thải) thì rất khó kiếm. Tìm việc dạy đại học ở Mỹ là một cuộc tranh tài gắt gao giữa nhiều ứng viên, đúng như cảnh “một con cá nhảy bao người buông câu” ít hứa hẹn. Thôi thì đành nhẫn nại mà kiếm, khởi đầu bằng cách xin làm giảng viên (part-time lecturer) rất khiêm tốn ở một community college để lấy kinh nghiệm “dạy học tại Mỹ” mỗi khi phải chứng minh điều kiện ấy.

SAN ANTONIO COLLEGE

San Antonio College là trường đại học cộng đồng lớn nhất tiểu bang Texas có một campus rộng mênh mông trong trung tâm thành phố San Antonio, trên đại lộ huyết mạch San Pedro Avenue. Dân chúng ở đây gọi tắt tên trường này là “SAC” (phát âm như chữ “sack”). Để thực hiện bước đầu của giấc mơ “trở lại nghề cũ” tôi nhất quyết trở thành một “lecturer” khiêm tốn trong English department của San Antonio College gần  nhà.

HẠNH NGỘ ĐANG CHỜ

Tôi liên lạc bằng điện thoại vào văn phòng ban Anh văn của San Antonio College và được nói chuyện với vị trưởng ban. Tiến sĩ Roger Smith nhã nhặn lắm, và sau khi biết tôi từng du học tại Mỹ và dạy Anh văn ở Đại học Saigon, ông mời tôi đến gặp ông tại campus. Tôi như “mở cờ trong bụng” khi ông cho biết lục cá nguyệt mùa thu 1976 sắp tới ban Anh văn cần tuyển thêm một giảng viên (lecturer) buổi chiều để dạy lớp “English composition” cho các sinh viên năm thứ nhất. Ông còn căn dặn tôi nhớ mang theo “vita” và “transcripts” của các đại học Mỹ đã cấp phát văn bằng, khi tôi đến gặp ông và vị giám đốc các lớp buổi chiều (director of the evening division) vào chiều ngày hôm sau.

TỔ CHỨC VÀ MỤC TIÊU CỦA SAC   

Ngạc nhiên vì sao lại có cả một “evening division” tại SAC, tôi tìm hiểu qua cuốn niên giám của trường thì được biết số sinh viên đi học buổi chiều rất đông. Đại đa số các sinh viên buổi chiều là những người đã có công ăn việc làm ban ngày và do đó chỉ có thể đi học sau khi tan sở. Họ không còn trẻ trung như các cô cậu sinh viên vừa xong trung học là những người theo học các lớp ban ngày.

Sơ đồ tổ chức của trường đại học hai năm cấp phát văn bằng “associate” này khá chặt chẽ. Đứng đầu là vị viện trưởng (president). Viện trưởng được sự trợ tá của hai vị phó viện trưởng (vice presidents) phụ trách học vụ (academic affairs), sinh viên vụ (student affairs), cũng như của vị giám đốc thâu nhận sinh viên (director of admissions).  Dưới quyền vị phó viện trưởng học vụ là các khoa trưởng (deans) của các khoa nhân văn và khoa học (arts and sciences), giáo dục tiếp nối (continuing education), vân vân. Và phối trí việc giảng dạy các lớp học là nhiệm vụ chính của các trưởng ban (chairs) các bộ môn (departments).

Nhân viên giảng huấn toàn thời gian mang các tước vị từ thấp lên cao là assistant professor, associate professor, professor. Còn các nhân viên giảng huấn khác (đa số chỉ dạy một hay hai lớp mỗi khóa học buổi chiều) được gọi là lecturers. Tất cả đều phải có học vị master trở lên. Các lecturers chỉ được nhà trường trả tiền theo số lớp học phụ trách, không được bảo hiểm sức khỏe, không có văn phòng riêng, và trước mỗi khóa học mới phải ký lại hợp đồng dạy học (teaching contract) nếu nhà trường có nhu cầu dùng họ. Đó là cách để các đại học cộng đồng tiết kiệm ngân quỹ, cho nên trường nào cũng  sử dụng nhiều lecturers hơn là các giáo sư toàn thời gian.

THIỆN DUYÊN CÓ THẬT VÀ GẮN BÓ

Buổi chiều ngày hôm sau, Tiến sĩ Roger Smith dẫn tôi đi giới thiệu với Tiến sĩ William Brown (giám đốc các lớp buổi chiều) tại văn phòng của ông Brown. Cả hai người đều rất lịch sự và hòa nhã trong buổi “job interview” cấp kỳ ấy, một điều tôi ghi nhớ mãi đến tận ngày nay. Họ xem xét vita và transcripts của tôi từ hai Đại học Miami và Georgetown, và hỏi tôi về kinh nghiệm dạy học. Rồi sau khi tôi ký tên vào đơn xin việc để hoàn tất thủ tục tuyển dụng làm lecturer, họ đứng lên bắt tay cảm ơn tôi đã hợp tác với SAC, và cho biết trong khoảng một tuần nữa tôi sẽ nhận được hợp đồng dạy học (teaching contract) gửi về nơi tôi cư ngụ. Tiến sĩ Smith cũng không quên tặng tôi cuốn textbook để soạn học trình (syllabus) cho lớp.

Hạnh ngộ nói trên là khởi điểm của một “thiện duyên” đã gắn bó cuộc đời tỵ nạn của tôi với nền giáo dục đại học Texas. Gắn bó đó lần lượt dẫn tôi vào ban giảng huấn của San Antonio College (1976-1980), Texas Woman’s University (1981- 1992), University of Texas at Dallas (1993-1997), rồi cuối cùng trở lại ngôi trường yêu mến nhất của tôi là Texas Woman’s University để dạy học cho đến khi về hưu với tước vị danh dự “Professor of linguistics emeritus” (1998-2012).

LỚP ENGLISH COMPOSITION RA QUÂN

 

Tờ hợp đồng dạy học đầu tiên của tôi được gửi tới nhà y như lời họ hứa. Tôi không ngờ mức lương họ trả cho một lecturer lại khá như vậy. Mỗi lớp chỉ học một buổi chiều mỗi tuần trong lục cá nguyệt, tức là tôi phải dạy 15 buổi, mỗi buổi 3 tiếng đồng hồ. Chỉ làm việc 45 tiếng đồng hồ mà tôi được trả 875 Mỹ kim cho lớp ấy, tính ra là gần 20 Mỹ kim mỗi giờ. Thêm một ngạc nhiên thú vị, vì lúc ấy (1976) đồng Mỹ kim chưa bị “mất giá” như bây giờ (2017).

Lục cá nguyệt mùa thu 1976 khai giảng cuối tháng 8, và sinh viên học với tôi vào các ngày thứ ba mỗi tuần, bắt đầu từ 6 giờ chiều. Tôi đã soạn một học trình kỹ lưỡng cho lớp này, nắm vững nội dung cuốn textbook, và sẵn sàng “ra quân”! Buổi học đầu tiên cho tôi thấy San Antonio là một thành phố đa chủng tộc. Trong khoảng 25 sinh viên hiện diện thì hơn nửa thuộc sắc tộc Mễ tây cơ, số còn lại là người da trắng và đôi ba người da đen. Tôi tự giới thiệu qua loa và gửi lời chào mừng họ, trước bằng tiếng Anh và sau bằng tiếng Tây ban nha. Các sinh viên gốc Mễ tây cơ rất đỗi ngạc nhiên và lộ rõ niềm hân hoan vì tôi biết tiếng nói của họ!

Sau khi giải thích cho họ rõ mục tiêu của lớp và những trách nhiệm của họ trong khóa học, tôi chia xẻ với họ về quá trình dạy học của tôi tại Việt Nam cũng như công việc tôi đang làm ban ngày tại San Antonio. Phần thời giờ còn lại, tôi yêu cầu mọi người viết cho tôi một trang về cuộc đời của họ, để giúp tôi “làm quen” với họ. Tiện thể, đấy cũng là phương cách thực tế nhất để tôi lượng giá khả năng viết tiếng Anh của họ. Trước khi cho lớp ra về, tôi còn nhắc nhở họ chịu khó đi học đều đặn và đọc kỹ các chương trong textbook như đã ghi trong học trình. Buổi học đầu tiên thuận buồm xuôi gió. Khi đọc các trang sinh viên viết về cuộc đời họ thì tôi thấy khả năng viết tiếng Anh của họ không đồng đều chút nào. Vài ba người viết toàn hảo, đa số viết tạm được, và số còn lại viết dở lắm. Tôi biết là tôi sẽ phải để ý đến nhóm sau cùng này rất nhiều vì họ chưa nắm vững cú pháp và còn phạm nhiều lỗi chính tả. Qua những trang họ viết, tôi được biết họ làm nhiều công việc khác nhau để mưu sinh. Họ đều hy vọng khi tốt nghiệp SAC thì nghề nghiệp họ sẽ có cơ hội thăng tiến.

Kinh nghiệm một thập niên dạy Anh văn của tôi tại Đại Học Saigon đáng giá ngàn vàng! Bao nhiêu “tuyệt chiêu” tôi đều mang ra sử dụng để giúp sinh viên SAC tránh được những lỗi lầm tối kỵ trong khi viết luận văn, như dàn bài lỏng lẻo dẫn đến sự thiếu mạch lạc (lack of cohesion), các câu văn tràng giang không chịu ngừng nghỉ (run-on sentences) vì người viết chưa thạo cách chấm câu (punctuation), các câu cụt ngủn vì thiếu chủ từ hoặc động từ (fragments), lỗi cú pháp và chính tả (syntactical and spelling errors) gây ra vì cẩu thả, vân vân.

Quả thực, tôi đã dùng khá nhiều mực đỏ để chấm bài của họ. Sau khi trả lại các bài luận văn mà tôi đã chấm và sửa lỗi cho họ, tôi đều có phần tóm lược các lỗi chính và nhắc nhở họ cách tránh những “cạm bẫy” (pitfalls) ấy. Cuối khóa, tôi rất hài lòng với sự tiến bộ của học trò, và hãnh diện là không một người nào bị điểm “D” hay “F” trong lớp ra quân này của tôi.

NGƯỜI CỰU CHIẾN BINH MỸ

Sau khi nộp bài thi cuối khóa cho tôi thì đa số sinh viên lặng lẽ ra về. Một vài người nói lời cảm ơn và khen ngợi lối dạy học vui tươi của tôi. Người cuối cùng lên nộp bài là một sinh viên Mỹ trắng đứng tuổi có khuôn mặt phong sương, luôn luôn ngồi ở một góc cuối lớp và chẳng bao giờ lên tiếng cả.

Một cách chậm chạp, ông ta nói với tôi: “Tiến sĩ Đàm ơi, trước khi chúng ta chia tay, tôi xin ông nhận lời tạ lỗi muộn màng của tôi. Thú thực, tôi không có cảm tình với ông chút nào lúc khóa học bắt đầu vì ông là người Việt. Tôi là một cựu chiến binh Mỹ phục vụ tại Việt Nam, có bạn bè và thân nhân chết trận bên ấy. Tôi cũng lầm to khi cho rằng một người ngoại quốc như ông thì không thể nào dạy người Mỹ chúng tôi viết luận văn bằng tiếng mẹ đẻ của chúng tôi được.”

Quá ngỡ ngàng và xúc động, tôi vội đáp lời: “Ông Jones, ông không cần phải tạ lỗi gì với tôi đâu, tất cả chỉ là sự hiểu lầm mà thôi. Tuy nhiên, tôi rất xúc động vì những lời nói thành thực và tử tế của ông.” Chúng tôi bắt tay và chúc lành cho nhau khi giã từ. Trên đường đi bộ ra bãi đậu xe, tôi còn nghe văng vẳng bên tai những lời nói bộc trực ấy của ông Jones. Mắt tôi đã nhòa lệ lúc nào chẳng hay.

 

ĐÀM TRUNG PHÁP

Sơ thảo 2010 Texas

Cập nhật 2017 California

VIETNAMESE BOAT PEOPLE MEMORIAL ASSOCIATION (VBPMA) – We Remember / ĐỜI ĐỜI ĐỂ NHỚ / Boat People SCULPTURE COMPETITION

On behalf of the Vietnamese Canadian Community across the Greater Toronto – Mississauga Area and southern Ontario, VBPMA hereby invites contestants from East to West throughout the Free World to enter the sculpture competition “We Remember / Đời Đời Để Nhớ “, leading ultimately to the construction of the Vietnamese Boat People Memorial monument, to be permanently erected and maintained at 3650 Dixie Road (South West corner of Dixie and Burnhamthorpe), Mississauga, Ontario, Canada.

For further information, please contact us at vbpmCanada@gmail.com or ngthnguyen@gmail.com

  1. General information

1.1 Purposes:

To construct the Vietnamese Boat People Memorial monument to commemorate and remind all Canadians of the historical plight of the Vietnamese boat people: an approximated half a million lives in dinky boats tragically lost to the terrifying high seas,  forever silenced but never forgotten. Their journeys to freedom, to escape from the tyranny and injustice of the communist regime of Vietnam, will forever light the beacon of Democracy and Freedom throughout the globe.

The most profoundly artistic, and symbolic art piece will be carefully examined and selected by our judges in the Selection Committee so that the actual sculpture will blend in harmoniously with the monument environment.

1.2 Theme:

* To thank Canada and the Free World for extending the life-saving touch of humanity and compassion  toward thousands and thousands of Vietnamese boat people and refugees during their darkest hours of despair.

* To commemorate those Vietnamese Boat People who tragically lost their lives in their Journeys to Freedom.

* To remind future generations of Canadians, of Vietnamese and non-Vietnamese origins, of the Vietnamese-Canadian historical spirit of Democracy and Freedom.

* To participate in the dynamic history of Canada’s multiculturalism.

* To prevent such human tragedy from recurring in the future, with proactive discussion and involvement in the affairs of our global society.

1.3 Technical aspect:

The Vietnamese Boat People Memorial monument will be built in front of the Burnhamthorpe Library at 3650 Dixie Road, Mississauga, L4Y-3V9, ON, Canada.

* Monument designated area: 30 feet in diameter or equivalent.

* Dimensions of monument supporting base structure:

6 ft (L) x 6 ft ( W ) x 4 ft (H)

* Sculpture size: To be announced (Maximum height of full size sculpture = 6.5 ft)

* Max weight of sculpture: 6600 lbs (3000 kg)

* Material of installed sculpture: Bronze

1.4 Artistic aspects:

Artistic design should be profoundly symbolic, aesthetically pleasing, yet creative, cost effective, and complying with City of Mississauga’s rules and regulations in order to be in harmony with the monument environment.

2.0 Contest rules:

Contestants can be singular individuals, or groups of artists, sculptors, architects (hereafter known as contestants). Members of the Board of Directors, and of the Selection Committee are not eligible to enter this contest.

2.1 Contest time frame:

First round – Drawings / Photographs:  up to May 20, 2017.

Second round – Plaster Models: from May 22, 2017 to June 30, 2017

2.2 Contact information:

Please forward inquiries to vbpmCanada@gmail.com and/or thngnguyen@gmail.com, and

Submit documents and sculpture models to:

Vietnamese Boat People Memorial Association (VBPMA)

3356 Tudor Gate, Mississauga, Ontario, L5L-3C7, Canada

Telephone 1 905 820 2376 Email: ngthnguyen@gmail.com

2.3 Due to the City of Mississauga’s strict rules and regulations pertaining to the location and construction details of the Memorial monument project, the Organizing Committee reserves its rights to make changes without notice in the following areas: safety, size, shape, appearance, composition, material in the design of the model(s)

All contestants shall submit: original sketches / drawings / photographs and model(s)

2.4 Round 1: Drawings / Photographs of the sculpture model – to be submitted by midnight / Eastern time of May 20th, 2017.

Each contestant (individual or group of individuals) can submit from 1 to 3 art pieces which have to be presented / photographed at least in 3 different views / angles.

For drawings: please submit the plan view, front view, 2 side views and back view showing all actual dimensions .

Photographs of the sketches/drawings/models: please submit the photos of the front view, plan view, at least 2 side views, and back view of the proposed model.

Please be advised special effects (light, professional lenses, effects, filter…) will not be permitted.

Submission methods: via post office, courier, or digital scan through email.

2.5 Round 2: Plaster sculpture model – to be submitted by midnight / Eastern time of June 30th, 2017.

The judging Selection Committee will choose three (3) of the best/most suitable models   as submitted in Round 1.

The Organizing Committee will then invite these three (3) contestants to enter Round 2 which will span from May 20, 2017 to June 30, 2017.

The 3 contestants shall create and present their sculpture models, using plaster as their material.

2.6 Model dimensions: 12 inches to 18 inches (in Length, Width and Height).

Documents (contained in A4 format) should include theme, inspiration / explanation / ideas… and contestants should explain why the proposed models reflect the monument’s themes / purposes.

The Organizing Committee will choose the best / most suitable model as recommended by the judging Selection Committee, and only after proper consultations with the City of Mississauga in terms of rules and regulations. The successful contestant will have the time period from July 02, 2017 to March 30, 2018 to complete the full-size sculpture in plaster, using the 1:1 scale.

No personalized inscription of any kind will be permitted on the submitted sculpture model.

The Organizing Committee is not responsible for any damages or liabilities involving the submitted models / sculptures during their transportation to the Organizing Committee.

2.7 We will not accept:

* Documents / models that are not created according to the rules and regulations as specified in this announcement.

* Documents / models that have been previously submitted elsewhere.

2.8 All documents and models shall be governed by copyright laws

2.9 We will not return submitted documents and models.

3.0 Author’s rights and responsibilities

All contestants’ documents and models shall be governed by copyright laws and must NOT have been submitted in any other contest.

The 3 contestants whose art pieces chosen to enter Round 2 of the contest shall receive one thousand (1 000) Canadian dollars each to compensate for the material cost and creating effort spent on the models. The three (3) cheques of one thousand (1 000) Canadian dollars, will be sent by mail within 10 days after the Organizing Committee has received the models.

The contestant-winner shall receive a cheque of five thousand (5 000) Canadian dollars, sent by mail within 10 days after the announcement, to compensate for the cost of material (plaster) and creating effort of  the full-size sculpture based on the winning model. This author/group of artists may be invited to participate in the monument construction phase and installation process, subject to rules and regulations.

Upon the completion of installation of the full-size sculpture, the winning contestant (individual or group of artists) shall receive thirty thousand (30 000) Canadian dollars during the inauguration ceremony of the Vietnamese Boat People Memorial monument, anticipated to be on April 30, 2019. The other 2 authors of the 2 submitted models in round 3 will receive a Merit Award worth five thousand (5 000) Canadian dollars during the said inauguration ceremony.

The Organizing Committee shall reserve all the rights to own, use and have full control of the selected sculpture models and full-size sculpture.

The winner contestant (individual or group of artists) shall relinquish all their rights to their sculpture models and full-size sculpture to the Organizing Committee, and subsequently to the City of Mississauga once the project is finally completed.

4.0 The Organizing Committee members are: Mr. Nguyen Phan Pha, Mr. Nguyen Thanh Nguyen, Mr. Dam Trung Phan, Mr. Duong Thanh Loi, Ms. Nguyen Bich Thi, Mrs. Thai Quynh Truc, Mr. Vo Thanh Tan, Mr. Nguyen Ngoc Duy, Dr. Le Thuan Kien

5.0 The  Selection Committee: to be announced

The Organizing Committee

March 14, 201

***

MEDIA INFO:

  1. Youtubes:

https://www.youtube.com/watch?v=U0eZ7vMF5Og

MISTY MORNING AT VBPMA MONUMNET LAND SITE – FEB 22, 2017

  1. Photo Album of the VBPMA Land Site:

https://photos.google.com/share/AF1QipNvpoE4EXqbaI_J2gD7bvbURBz5ksvRqMCMe79s_QhAJs8nExpBmEKSqh-DVbwC9Q?key=SEt1X1FoS191cmQxOVFoOU1oTlppSkwxTVBYNzVn

***

Vietnamese Version of  this Announcement:

https://damtrungphan.wordpress.com/2017/02/14/ho%cc%a3i-tuo%cc%89ng-nie%cc%a3m-thuyen-nhan-vie%cc%a3t-nam-htntnvn-vbpma-vietnamese-boat-people-memorial-association/

LỄ TƯỚNG NIỆM HAI BÀ TRƯNG TẠI ĐẠI ĐÔ THỊ TORONTO – HỘI PHỤ NỮ VÀ CĐNV QUỐC GIA TỔ CHỨC – MARCH 25, 2017

 

LỄ TƯỞNG NIỆM HAI BÀ TRƯNG – MARCH 25, 2017

 

  • HÌNH ẢNH

https://get.google.com/albumarchive/110033572606660377857/album/AF1QipPL5fxZmoTHK3MsWkHmWpEuZOtzkYeQ-vXs8aho?source=pwa

 

(The Trung Sisters commemoration – Vietnamese Women’s Association & Vietnamese Community in the GTA – Toronto – 3/25/2017- Phan Dam)

 

Lễ Tưởng Niệm Hai Bà Trưng Tại Toronto Ngày 25/03/2017. – Đàm Trung Phán)

 

  • YOUTUBES

https://www.youtube.com/watch?v=PwDC2Mxzdx0

(Lễ Tưởng Niệm Hai Bà Trưng – Ngâm thơ: Quang Nguyễn – HPN Toronto -3/25/2017 – Phan Dam)

 

https://www.youtube.com/watch?v=Z5tZwOfUk60&t=14s

(BAN HỢP CA HPN TORONTO – March 25, 2017 – Phan Dam)

 

https://www.youtube.com/watch?v=ynqKzLnRYAo

(LỄ TƯỞNG NIỆM HAI BÀ TRƯNG – BIỂU DIỄN ĐÀN TRANH – March 25, 2017- Phan Dam)

 

https://youtu.be/MxqAx7fRu80

(VBSC-Lễ Tưởng Niệm Hai Bà Trưng tại Toronto )

 

(Đại lể Tưởng Niệm Hai Bà Trưng Hội Phụ Nử Toronto tổ chưc ngày 25, tháng 3, 2017

Sang Thái)

 

http://thuduc-ontario.ca/Folder/haibatrung/index.html

( Trang Hình Ảnh và Youtubes – Đặng Hoàng Sơn)

BIẾU TÌNH CHỐNG ĐÀM VĨNH HƯNG VÀ VĂN HÓA VẬN CSVN TẠI ĐẠI ĐÔ THỊ TORONTO , CANADA – MARCH 25, 2017

 

 

HÌNH ẢNH

 

https://get.google.com/albumarchive/110033572606660377857/album/AF1QipNOYvfhaiR5GELWPk261U3F9W8R77tJVQmtUFer?source=pwa

(BIG RALLY AGAINST VIETNAMESE COMMUNIST SINGER DAM VINH HUNG & VIETNAMESE COMMUNISTS’ PROPAGANDA – MISSISSAUGA – MARCH 25, 2017

Biểu Tình Chống Văn Hoá Vận CSVN 25/03/2017 Tại Mississauga, Ontario, Đàm Trung Phán)

 

YOUTUBES

(BIỂU TÌNH CHỐNG CA NÔ ĐÀM VĨNH HƯNG VÀ VĂN HÓA VẬN CỦA CSVN – PHAN DAM)


(Việt Cộng Đàm Vĩnh Hưng bị đồng bào Canada bao vây xua đuổi trong giận
dữ… Tổng biểu tình lần 4 – Quan Làm Báo TV )

 

 

https://www.youtube.com/watch?v=SNVlvZ2rBQk
(Biều Tình Ca Nô Đàm Vĩnh Hưng Tại CanaDa –Thông Tin Người Nổi Tiếng)

 


(Khung cảnh cuộc biểu tình phản đối ca nô Đàm Vĩnh Hưng – Đặng Hoàng Sơn)

 


(Cộng đồng NVTNCS Toronto và vùng Phụ cận chống vgcn – Sang Thai)

 

http://thuduc-ontario.ca/Folder/damvinhhung/index.html

(Trang Hình Ảnh và Youtubes – Đặng Hoàng Sơn)

CHINH PHỤ NGÂM DIỄN NÔM: MỘT DỊCH PHẨM THẦN KỲ

Đàm Trung Pháp

 

Chinh Phụ Ngâm (征婦吟) bằng Hán văn của tác giả Đặng Trần Côn (1705-1745) viết theo lối “trường đoản cú” đã được diễn nôm (dịch sang Việt văn) bằng thể thơ “song thất lục bát” một cách thần kỳ. Tuy nhiên cho đến nay, giữa hai danh tài Đoàn Thị Điểm (1705-1749) và Phan Huy Ích (1751-1822), ai là người đích thực đã hoàn tất công trình diễn nôm này vẫn chưa ngã ngũ.

 

ƯU THẾ CỦA DỊCH PHẨM

 

Tuy là dịch phẩm từ một nguyên tác bằng chữ Hán, ta có thể nói không ngoa rằng bản Chinh Phụ Ngâm diễn nôm (tự hậu viết tắt CPNdn) là một tuyệt tác văn chương Việt Nam. Được chuyển ngữ siêu việt với nhiều yếu tố sáng tác sang tiếng Việt qua lối viết chữ nôm, CPNdn đã làm lu mờ danh tiếng nguyên tác viết bằng chữ Hán của tác giả Đặng Trần Côn, cũng được coi là một thi khúc thượng đẳng mà chủ đề là những lời than vãn của một thiếu phụ có chồng đi chinh chiến lâu ngày chưa về.

 

Ưu thế của CPNdn thực dễ hiểu, vì người diễn nôm đã dùng tiếng Việt cho người Việt đọc, với tất cả tinh túy của tiếng Việt. Có lẽ chẳng mấy ai bất đồng ý kiến với nhận định rằng thi ca chỉ có thể thực sự được tận hưởng qua ngôn ngữ mẹ đẻ của người thưởng lãm. Ưu thế này lại được tăng thêm bởi thể thơ song thất lục bát “mang âm hưởng quen thuộc của ca dao dân tộc, dễ đi sâu vào tâm hồn, vào cảm quan thẩm mỹ của đại chúng” [1] cộng với “cái giọng buồn buồn đều đặn như khêu gợi mong nhớ xa xôi có thể xem là rất thích hợp để diễn tả tâm hồn chinh phụ.” [2]

 

Thật vậy, tuy chữ Hán khi phát âm kiểu Hán Việt có nhiều từ vựng quen biết, nó vẫn là một “ngoại ngữ”– chẳng khác gì Anh ngữ đối với ta. Để minh chứng điều đó, ta chỉ cần lần lượt đọc lên một đoạn nguyên tác bằng Hán ngữ (từ câu 136 tới câu 141) của tác giả Đặng Trần Côn, phần dịch của học giả Huỳnh Sanh Thông sang Anh ngữ,[3] và phần chuyển sang Việt ngữ trong CPNdn :

 

Hán ngữ (Đặng Trần Côn)

憶 昔 与 君 相 別 時      Ức tích dữ quân tương biệt thì,

柳 條 猶 未 囀  黄鸝      Liễu điều do vị chuyển hoàng ly.

問 君 何 日 归                Vấn quân : Hà nhật quy?

君 約 杜 鹃 啼                Quân ước : Đỗ quyên đề.

杜 鹃 已 逐 黄 鸝 老      Đỗ quyên dĩ trục hoàng ly lão,

青 柳 楼 前 語 意 鴯      Thanh liễu lâu tiền ngữ ý nhi.

 

Anh ngữ (Huỳnh Sanh Thông)

No orioles yet on willows – you set out

and promised you’d come back when cuckoos sang.

Cuckoos have followed orioles grown old –

before the house some swallows chirp and peep.

 

Việt ngữ (diễn nôm)

Thuở lâm hành, oanh chưa dạn liễu,

Hỏi ngày về, ước nẻo quyên ca.

Nay quyên đã giục oanh già,

Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo.

 

Trong phần còn lại của bài, người viết sẽ nhận diện và kiểm điểm các yếu tố có lẽ đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự thành công thần kỳ của người đã chuyển nguyên tác Chinh Phụ Ngâm bằng chữ Hán của tác giả Đặng Trần Côn sang tiếng Việt. Nỗ lực lượng giá các yếu tố quan trọng ấy sẽ tập trung vào từ tuyển pháp (cách lựa chọn từ ngữ) và tu từ pháp (cách sử dụng các biện pháp tu từ) qua một phối cảnh ngữ học.

 

TỪ TUYỂN PHÁP  (DICTION) [4]

 

Dịch giả có khả năng bỏ qua điển tích Hán mà vẫn giữ được ý chính của đoạn thơ chữ Hán. Trong buổi thảo luận (giữa người viết bài và nhà biên khảo Nguyễn Bá Triệu năm 2000 tại Dallas)[5] về tài năng chuyển ngữ của dịch giả, chúng tôi có nhắc đến đoạn thơ dịch từ câu (068) đến (071) – trong đó một điển tích cầu kỳ liên hệ đến khúc hát Mạch Thượng Tang, đến nàng La Phu xinh đẹp đang đứng hái dâu, và đến ông vua Triệu Vương đa tình – đã được khéo léo bỏ qua bằng cách thay nó với câu chuyển nôm (069) gọn gàng và êm ái :

 

Tương cố bất tương kiến   相 顧 不 相 見

(068) Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

Thanh thanh mạch thượng tang  青青 陌 上 桑

(069) Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Mạch thượng tang, mạch thượng tang!   陌 上 桑 陌 上 桑

(070) Ngàn dâu xanh ngát một mầu

Thiếp ý, quân tâm, thùy đoản tràng?         妾 意 君 心 谁 短长

(071) Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

 

 

Cũng trong chiều hướng Việt hóa tối đa trong thơ dịch, người diễn nôm không đả động đến chữ兮 “hề” (một trợ ngữ từ có nghĩa là “vậy” hoặc “chứ”) đầy rẫy trong nguyên tác. Trong thí dụ dưới đây, hai câu Hán văn đều có chữ “hề” trong đó, nhưng dịch giả đã tránh né hai trợ ngữ từ “rất Hán” ấy khi diễn nôm :

 

Vọng vân khứ hề ! lang biệt thiếp  =  (051) Dấu chàng theo lớp mây đưa

Vọng sơn phụ hề ! thiếp tư lang  =  (052) Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà

 

 

Dịch giả có biệt tài sử dụng từ ngữ Việt chính xác cho mỗi văn cảnh (literary context) để “dịch” cùng một từ ngữ Hán, thí dụ như trong trường hợp từ kép điệp âm Hán văn du du (viết là攸 攸 và 悠 悠) được “dịch” thành ba từ điệp ngữ (reduplicants) “thăm thẳm” / “dặc dặc” / “đau đáu” cho ba văn cảnh khác nhau :

 

Du du bỉ thương hề, thùy tạo nhân  攸 攸 彼 苍兮谁造因

(003) Xanh kia thăm thẳm từng trên, (004) vì ai gây dựng cho nên nỗi này

 

Tống quân khứ hề, tâm du du   送 君 去 兮心 悠 悠

(027) Đưa chàng, lòng dặc dặc buồn

 

Ức quân du du hề, tứ hà khuy  憶 君 悠 悠 兮 思 何 窺

(249) Nỗi chàng đau đáu nào xong

 

Dịch giả cũng thường sử dụng các điệp ngữ đối xứng trong hai câu thơ nối tiếp nhau, khiến ý nghĩa của chúng được nhấn mạnh và nâng cao :

 

(368)  Lòng hứa quốc thắm son ngắt ngắt

(369)  Sức tí dân dường sắt trơ trơ

 

(401)  Sẽ rót vơi lần lần đòi chén

(402)  Sẽ ca dần ren rén từng liên

 

TU TỪ PHÁP (RHETORIC)

 

Các biện pháp tu từ (rhetorical devices) sử dụng nhiều trong CPNdn được trình bầy dưới đây qua phối cảnh ngữ học (linguistic perspective) với lý giải và thí dụ đi cùng. Ta sẽ thấy các biện pháp tu từ này –mặc dù một số trong đó có tính cách ước lệ (conventionalized) –  được dịch giả sử dụng hết sức ngoạn mục :

 

    Biền ngẫu (semantic and syntactic parallelism) là một biện pháp tu từ rất phổ cập trong thi ca Hán và Việt cổ điển. Biện pháp này lấy “đối” (trong hình thức cũng như trong nội dung) làm nguyên tắc cơ bản, tạo cho lời văn sự nhịp nhàng cân đối. Trong CPNdn, đa số các cặp câu thơ bẩy chữ (song thất) phản ánh lối văn biền ngẫu. Ký hiệu “< >” dưới đây đọc là “ đối với” :

 

(53-54) [Chàng thì đi] [cõi xa mưa gió] < > [Thiếp thì về] [buồng cũ chiếu chăn] 

 

(97-98) [Hồn tử sĩ] [gió] [ù ù] [thổi] < > [Mặt chinh phu] [trăng] [rõi rõi] [soi]

 

     Liên hoàn (enjambment) là thể thơ trong đó nhóm chữ cuối câu trên được nhắc lại thành nhóm chữ đầu câu dưới, mục đích để tiếp nối ý nghĩ chưa hết ở cuối câu trên :

 

(142-143) Gốc hoa tàn đã trải rêu xanh / Rêu xanh mấy lớp chung quanh

 

(146-147) Bức rèm thưa lần giải bóng dương / Bóng dương mấy buổi xuyên ngang

 

     Ví von (simile) là biện pháp tu từ thường được sử dụng để so sánh, với hiệu lực làm câu thơ thêm sinh động qua những hình ảnh ngoạn mục :

 

(039-040) Áo chàng đỏ tựa ráng pha / Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in

 

(022) Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao

 

     Tương phản (contrast) có mục đích làm cho câu thơ thêm hiệu quả diễn đạt. Ký hiệu “ > < ” dưới đây đọc là “tương phản” :

 

(53-54) [Chàng thì đi] [cõi xa] [mưa gió] > < [Thiếp thì về] [buồng cũ] [chiếu chăn]

 

(177-178) [Trải mấy xuân] [tin đi tin lại] > < [Đến xuân này] [tin hãy vắng không]

 

     Biểu tượng (metaphor) là biện pháp thay tên một sự vật bằng tên một sự vật khác, với mục đích tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt ý thơ :

 

(136) Thuở lâm hành, oanh chưa dạn liễu,

 (137) Hỏi ngày về, ước nẻo quyên ca.

 (138) Nay quyên đã giục oanh già,

 (139) Ý nhi  lại gáy trước nhà líu lo.

 

Theo văn cảnh của bốn câu thơ trên (để nói về thời điểm trong năm) thì chim oanh là biểu tượng cho mùa xuân, chim quyên cho mùa hạ, và chim én (ý nhi) [6] cho mùa thu. Ba loại chim này đồng thời cũng được nhân cách hóa (personified).

 

     Đảo ngữ (inversion) là biện pháp tu từ cho đảo lộn vị thế xuất hiện thông thường trong một câu, tức là {chủ từ + động từ + túc từ} thành ra {túc từ + chủ từ + động từ} với mục đích nhấn mạnh ý diễn tả. Trong hai câu thơ dưới đây, chủ từ là “gió ” và “trăng”; động từ là “thổi ù ù” và “soi dõi dõi”; và túc từ là “hồn tử sĩ” và “mặt chinh phu”:

 

(97)“Hồn tử sĩ / gió / ù ù thổi” là đảo ngữ của câu với vị thế xuất hiện thông thường: “Gió / thổi ù ù / hồn tử sĩ”

 

(98)“Mặt chinh phu / trăng / dõi dõi soi” là đảo ngữ của câu với vị thế xuất hiện thông thường : “Trăng / soi dõi dõi / mặt chinh phu”

 

Điệp ngữ (repetition) là biện pháp tu từ cho lặp lại một từ ngữ, một nhóm chữ, hay cả câu để làm nổi bật ý và gây cảm xúc mạnh :

 

(254) Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi

 

(255) Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề

 

(225) Hoa giải nguyệt, nguyệt êm một tấm

(226) Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông,

(227) Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,

(228) Trước hoa, dưới nguyệt trong lòng xiết đau

 

     Khuếch đại (hyperbole) là biện pháp có mục đích nhấn mạnh ý qua ngôn từ thậm xưng vượt quá xa sự thực :

 

(216) Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời

 

(203) Khắc giờ đằng đẵng như niên

 

     Cấu trúc đề-thuyết (topic-comment structure) rất phổ cập trong ngữ pháp Việt Nam. Trong cấu trúc này, yếu tốđề bắt đầu câu với một đề tài, theo sau là yếu tố thuyết để giải thích đề tài ấy. Biện pháp tu từ này làm cho lời thơ dễ hiểu, tựa như tiếng Việt nói (spoken Vietnamese) lúc bình thường :

 

(353) Kìa loài sâu (đề) / đôi đầu cùng sánh (thuyết)

 

(354) Nọ loài chim (đề) / chắp cánh cùng bay (thuyết)

 

(357) Ấy loài vật (đề) / tình duyên còn thế (thuyết)

 

(358) Sao kiếp người (đề) / nỡ để đấy đây (thuyết)

 

Câu hỏi tu từ (rhetorical question) là câu hỏi trống không – vì tác giả cố tình không cung cấp câu trả lời cho nó – cốt để gợi lên các nỗi băn khoăn, xót xa, trăn trở cho người đọc :

 

(99) Chinh phu tử sĩ mấy người ?

 

(100) Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn ?

 

TÂM TƯ NGƯỜI VIẾT  

 

Qua những nhận xét về cách lựa chọn quyền biến phi thường những từ ngữ phù hợp tối đa cho mỗi văn cảnh, và cách sử dụng xuất chúng các biện pháp tu từ nêu trên, người viết tự thấy mình chẳng quá lời chút nào khi nói rằng Chinh Phụ Ngâm diễn nôm là một công trình dịch thuật đã đạt tới mức thần kỳ. Dịch giả đã để lại cho hậu thế một tuyệt tác làm cho người đọc dễ nghĩ đến câu Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu của thi hào Nguyễn Du trong Truyện Kiều.

 

ĐÀM TRUNG PHÁP    

15 tháng 3 năm 2017

Laguna Woods, CA

[1] Lê Hữu Mục và Phạm Thị Nhung (2001): Tiếng Nói Đoàn Thị Điểm trong Chinh Phụ Ngâm Khúc.

[2] Hà Như Chi (1951): Việt Nam Thi Văn Giảng Luận Toàn Tập.

[3] Huỳnh Sanh Thông (1996): An Anthology of Vietnamese Poems.

[4] Để phần nào giúp các độc giả sinh trưởng tại hải ngoại dễ theo dõi bài viết hơn, mỗi từ ngữ chuyên môn về văn học Việt sẽ có một từ ngữ tiếng Anh tương đương về ý nghĩa đi kèm.

[5] Đàm Trung Pháp (2000): “Giới Thiệu Chinh Phụ Ngâm Tập Chú” của nhà biên khảo Nguyễn Bá Triệu.

[6] Tự Điển Hán-Việt Nguyễn Quốc Hùng: “Ý nhi 意而 –Tên một loài chim, có thuyết bảo là chim yến” || Tự Điển Hán-Việt Thiều Chửu: “Ý nhi tức chim én” || Theo người viết, ngoài yếnén, còn có nhạn. Chúng đồng nghĩa.

Đàm Trung Phán

Những bài viết .....

Shop Mỹ Phẩm - Nước Hoa

Số 7, Lê Văn Thịnh,Bình Trưng Đông,Quận 2,HCM,Việt Nam.

Công phu Trà Đạo

Trà Đạo là một nghệ thuật đòi hỏi ít nhiều công phu

tranlucsaigon

Trăm năm trong cõi người ta...

Nhạc Nhẽo

Âm thanh.... trong ... Tịch mịch !!!

~~~~ Thơ Thẩn ~~~~

.....Chỗ Vơ Vẩn

Nguyễn Đàm Duy Trung's Blog

Trang Thơ Nguyễn Đàm Duy Trung

%d bloggers like this: