Đàm Trung Phán

Những bài viết …..

Hồng Vân diễn ngâm thơ Đàm Trung Phán

KÍnh mời Quý Vị mở speaker của PC, rồi  bấm vào link dưới đây để nghe nghệ sĩ Hồng Vân diễn ngâm 32 bài thơ của Đàm Trung Phán:

Phần 1

ĐTP

 

LỜI NÓI ĐẦU

Sau khi viết xong loạt bài Cây Đa Lối Cũ, Gọi Hồn Người Xưa”, người viết đã có dịp đọc thêm nhiều bài viết về Tâm Linh của các tác giả Tây Phương và Ðông Phương. Tôi đọc say mê vì có nhiều khoa học gia và nhà ngoại cảm Tây Phương đã mô tả một số hiện tượng khá giống với những gì tôi đã cảm nhận được khi đang thức cũng như khi đang ngủ

Đây là một đề tài vừa rộng lớn, vừa mơ hồ vì còn nhiều vấn đề chưa có thể chứng minh một cách cụ thể được dựa theo nền tảng khoa học hiện tại của loài người. Tôi có cảm tưởng là mình giống như là một ông thầy bói mù đang sờ chân một con voi khổng lồ để mà “đoán quẻ” về hình dáng, kích thước và cuộc đời, số mạng của con voi đó.
Vì vậy mà cứ chần chờ trước khi viết loạt bài này về Tâm Linh

Dựa theo một số những kinh nghiệm tâm linh của chính bản thân và những gì mà tôi đã đọc được trong những tài liệu của phương Ðông và phương Tây về linh hồn, vong linh, cõi vô hình, tái sinh, luân hồi, gọi hồn… tôi mạo muội viết ra loạt bài này. Bài viết còn có nhiều thiếu sót, nhiều chỗ chưa hiểu rõ hay hiểu lầm… xin qúy vị rộng lòng thứ lỗi cho. Người viết sẽ rất hoan hỉ khi nhận được những ý kiến xây dựng của quý vị độc giả những mong học hỏi thêm được và để cải tiến bài này trong tương lai. Xin Quý Vị viết email về phandam99@yahoo.com cho người viết.

Xin cứ coi như đây là bài viết mở đầu để chúng ta cùng học hỏi thêm trong tương lai. Trong tinh thần “vạn sự khởi đầu nan”, xin mời quý vị vào đọc…

THẠCH LAM

NGUỒN: INTERNET

 Thạch Lam    

Thạch Lam tên thật là Nguyễn Tường Vinh sinh năm 1910 tại Hà Nội , là người con thứ sáu trong gia đình Nguyễn Tường. Đến năm 14 tuổi mới đậu bằng cao đẳng tiểu học, ông phải khai tăng tuổi để thi lấy bằng Thành Chung rồi đổi tên là Nguyễn Tường Lân. Ông vào học Albert Sarraut, đậu tú tài phần thứ nhất rồi thôi học ra làm báo Phong Hoá, Ngày Nay với các anh ông là Nhất Linh, Hoàng Ðạo trong Tự Lực Văn Đoàn năm 1932. Ông bị bệnh lao mất vào tháng 6 năm 1942 trong cảnh nghèo nàn tại một ngôi nhà tranh làng Yên Phụ cạnh Hồ Tây.
     Vì mất sớm nên sự nghiệp văn chương của Thạch Lam về số lượng rất khiêm tốn, tuy nhiên vì giá trị nghệ thuật của nó rất cao nên ông vẫn được coi là một nhà văn lớn trong nền văn chương Việt Nam cận đại.     Các tác phẩm gồm:

     1- Ngày Mới, tiểu thuyết 1937
     2- Gió Ðầu Mùa, tập truyện ngắn 1937.
     3- Nắng Trong Vườn, tập truyện ngắn 1938.
     4- Theo Giòng, nghị luận văn chương, 1941.
     5- Sợi Tóc, tập truyện ngắn, 1942.
     6- Hà Nội 36 Phố Phường, tùy bút, 1943.      

Thạch Lam là một nhà văn có khuynh hướng xã hội thường mô tả đời sống của những người nghèo nàn cùng khổ bằng những nét chân thực đầy tình thương yêu nhân loại, ông thiên về bi kịch hơn Khái Hưng Nhất Linh trong Tự Lực văn đoàn, tác phẩm của ông có giá trị cao về nhân bản được viết ra như một chút tình thương dành cho những kẻ lầm than cơ cực. Ông khâm phục và chịu ảnh hưởng Dostoievsky rất nhiều trong kỹ thuật mô tả tâm lý nhân vật, chú trọng về mặt hướng nội. Thạch lam cũng là nhà văn thuộc trường phái lãng mạn như các bậc đàn anh trong văn đoàn tuy nhiên các truyện tình của ông khác với các nhà văn kia ở tính chân thật, ngây thơ, thi vị.
     Ông Phạm Thế Ngũ nhận xét về Thạch Lam như sau.
     “Trong văn học mới nước ta các nhà phê bình thường đồng ý là Thạch Lam- cây bút Tự Lực đã đưa thể đoản thiên đến độ nghệ thuật cao hơn cả. Trong ba tập đoản thiên của ông mà ta xét trên ta đều thấy nhiều đặc sắc nghệ thuật”
     Hoặc.
     “Nhưng dù sao không ai phủ nhận được ông đã đưa đoản thiên Việt Nam đến một trình độ nghệ thuật rất cao. Tác giả Nhà văn hiện đại cũng công nhận những truyện trong Sợi Tóc là những đoản thiên hay nhất trong văn chương Việt Nam”
     Thật vậy, Thạch Lam là người chuyên về trước tác truyện ngắn và đã thành công nhiều trong thể loại văn chương này
     Sợi Tóc là tập truyện ngắn giá trị và nổi tiếng của Thạch Lam do nhà xuất bản Ðời Nay, Hà Nội ấn hành năm 1942, toàn bộ gồm năm truyện vỏn vẹn chừng năm sáu chục trang giấy nhưng nội dung thật là súc tích và vô cùng hiện thực, những đề tài khác biệt nhau như đóa hoa ngũ sắc rực rỡ cùng thể hiện một nghệ thuật tuyệt vời. Chúng tôi xin phân ra làm ba đề tài chính : Tâm lý: Sợi Tóc; Bi kịch: Cô Hàng Xén, Tối Ba Mươi; Tình cảm : Dưới Bóng Hoàng Lan, Tình Xưa và đề cập giới hạn bốn truyện chọn lọc : Sợi Tóc, Cô Hàng Xén, Tối Ba Mươi và Dưới Bóng Hoàng Lan.
  
         Sợi Tóc

     Một truyện ngắn chừng mười trang giấy thể hiện cái thiên tài hiếm có của Thạch Lam trong kỹ thuật mô tả tâm lý con người, có dư luận phê bình cho rằng Sợi Tóc có thể coi như ngang hàng với các đoản thiên giá trị trên văn đàn thế giới. Ðó là truyện một anh chàng bị cám dỗ vì số tiền lớn của người anh họ, định lấy cắp nhưng rồi lưỡng lự đổi ý.
     Thành có người anh họ rất giầu nhưng ngốc nghếch, Bân rất phục Thành là người sành đời, thạo ăn chơi, mỗi khi đi mua đồ đều hỏi Thành. Một hôm Bân rủ Thành đi mua đồng hồ, lúc hắn trả tiền Thành nhìn cái ví phồng và biết là nhiều tiền lắm, chàng thấy rõ cả những giấy trăm còn mới tinh, mua xong Bân rủ Thành đi ăn tiệm.
     Bân cùng một cô nhân tình vào buồng nằm, hắn đem theo cả cái áo tây có ví tiền. Khi ấy Thành chán nản muốn bỏ về, chàng với lấy cái áo tây trên mắc thì ra là áo của Bân có ví tiền dầy cộm, Bân đã lấy nhầm áo của chàng vào buồng. Bân và các em đều muốn giữ Thành ở lại cho vui.
     Khi ấy trong trí Thành rối bời cả lên vì nghĩ đến cái ví tiền , chàng định mở ví lấy vài trăm rồi đổi lấy áo của Bân vắt ở đầu giường hắn . . Thành hút một điếu thuốc phiện rồi thờ thẫn nghĩ ngợi, chàng cho rằng Bân sẽ không biết chàng lấy mà nghi cho nhân tình của hắn.
     Nhưng khi cho tay vào ví, Thành lại đắn đo suy nghĩ đờ đẫn cả người, tự nhiên chàng trả áo cho Bân và bảo hắn đếm tiền chi kỹ. Cuối cùng sau một cuộc giằng co, sự cám dỗ tội lỗi đã bị lương tâm đè nén, ranh giới hai bên chỉ là một sợi tóc.
     Ðây là một đoản thiên tâm lý sâu sắc nhất của Thạch Lam, của nền văn chương Việt Nam, xứng đáng được xếp ngang hàng với những truyện hay trên văn đàn thế giới. Ngòi bút thần sầu củaThạch Lam đã phô diễn được quá đầy đủ về bản chất con người, về cái biên giới mong manh như sợi tóc giữa thiện và ác, giữa lương tâm và tội lỗi. Cám dỗ bắt đầu xuất hiện khi Thành thấy ví của Bân lúc hắn trả tiền ngoái phố:
     “Thoáng nhìn qua, tôi cũng biết ví nhiều tiền lắm: ngoái số tiền bạc lẻ hắn mang ra trả, tôi còn thấy gấp ở ngăn trên đến năm sáu cái giấy bạc một trăm nữa. Những giấy bạc mới màu còn tươi nguyên”
     Và khi Thành lấy áo định ra về, cám dỗ lại tiến thêm một bước nữa:
     “Vừa nói tôi vừa với cái áo tây của tôi treo trên mắc. Bỗng nhiên có cái gì chuyển mạnh qua tim tôi: tay tôi yên hẳn lại; tôi vừa mới nhận ra rằng cái áo tôi đương cầm không phải là cái áo của tôi. Thì ra lúc mang áo vào giường nằm, Bân đã mang nhầm áo. Hai chúng tôi cùng mặc một thứ hàng len giống màu, như vậy dễ lẫn lắm. Tôi ghé nhìn vào trong áo thấy cái ví tiền ở túi thò ra ngoài một tí. Cái ví tiền . . . mấy tờ giấy bạc”
     Bằng lối diễn tả vô cùng khéo léo, Thạch Lam cho chúng ta thấy rõ những bước chân xâm lấn ghê gớm của cám dỗ:
     “Những lời đối đáp ấy cứ tự nhiên buột miệng ra, tôi không để ý đến. Trước mắt tôi, mấy tờ giấy bạc một trăm gấp trong ngăn ví hiện ra rất rõ rệt. Lấy mấy tờ, độ hai tờ – tại sao lại hai? Tôi không biết – tôi cứ việc điềm nhiên với lấy áo, mở ví rút ra hai tờ. Rồi chọn lúc mọi người vô ý . . tôi đổi lấy áo của tôi . . thế là xong và gọn . . . .dễ dàng quá, mà không còn sợ cái gì cả”
     Bằng một nghệ thuật vô cùng hiện thực ông cũng cho ta thấy sự rối bời trong tâm trạng con người vì sự giằng co tranh chấp giữa lương tâm và tội lỗi.
     “Lan để tay nhẹ nhàng lên người tôi, lẳng lơ đưa mắt hỏi. Tôi giả vờ cười không đáp, rồi soay người nằm ngửa, nhìn lên trần nhà.Trong người bứt rứt không yên”
     Hoặc như.
     “Tâm hồn tôi lúc bấy giờ thế nào tôi không biết rõ. Tôi đứng lên, ngồi xuống như một cái máy. Tôi chỉ thấy băn khoăn bứt rứt . . và thời gian qua . . tôi cảm thấy đi qua tâm hồn tôi từ bên này sang bên kia . . như thế không biết bao nhiêu lâu . .”
     Và sau khi đã trấn áp được cám dỗ tội lỗi, Thành lại ngẩn ngơ một chút tiếc thương, thiện ác vẫn còn vẩn vơ trong trí.
     “- Áo anh này , đây là áo của tôi . . . . .
. . . Anh đếm lại tiền đi và để cẩn thận vào trong ấy . . .
     Tôi bước một bước lùi ra cửa. Thế là hết bây giờ không sao đụng đến cái ví được nữa. Tôi bần thần ngẩn ngơ”
     Thậm chí đến lúc Thành lên xe về nhà, tâm trí rối mù, chàng ngẩn ngơ như người mất hồn, vẫn còn chút tiếc rẻ ngấm ngầm , dù chàng đã tỉnh táo rồi, cám dỗ vẫn còn vương vấn trong lòng.
     “Tất cả những cái đó bây giờ xa quá. Tâm trí tôi giãn ra, như một cây tre uốn cong trở lại cái thẳng thắn lúc thường. Tôi cảm thấy một cái thú khoái lạc kỳ dị khe khẽ và thầm lặng rung động trong người, có lẽ là cái khoái lạc bị cám dỗ, mà cũng có lẽ cái khoái lạc đã đè nén được sự cám dỗ. Và một mối tiếc ngấm ngầm, tôi không tự thú cho tôi biết và cũng cố ý không nghĩ đến, khiến cho cái cảm giác ấy của tâm hồn tôi thêm một vẻ rờn rợn và sâu sắc”
     Người đọc tưởng như mình đang chơi vơi giữa thực và mộng, giữa cái thú của cám dỗ và khoái lạc của lương tâm, lý trí đã trấn áp được cám dỗ. Song vẫn chưa hết, đến khi Thành đã tỉnh táo, đã lên xe về nhà mà cám dỗ vẫn còn vương vấn như một sự tiếc nhớ vu vơ. Thạch Lam đã dẫn chúng ta đi sâu vào tận đáy tâm hồn con người để ta chứng kiến được cái biên giới mong manh giữa thiện, ác, giữa ăn cắp hay không ăn cắp, cái địa giới chỉ mỏng manh như một sợi tóc.   

    Cô Hàng Xén

     Ðây là một truyện ngắn nổi tiếng của Thạch Lam đã được nhiều người hâm mộ, ca ngợi tấm lòng hy sinh của người phụ nữ Việt Nam và cũng là một bi kịch cuộc đời không lối thoát.
     Tâm gánh hàng từ chợ băng qua cánh đồng về làng, băng qua sân đình rồi về đến nhà, chia bánh kẹo cho các em. Cô được mẹ già và các em âu yếm săn sóc. Từ ngày gia đình sa sút, ông Tú mắt kém thôi dạy học, cô buôn bán tần tảo để nuôi mẹ và các em.
     Tâm là người con gái xinh đẹp nổi tiếng cả một vùng, thời gia đình còn sung túc cô đã được cắp sách đi học, nhưng nay rời bỏ quyển sách để bước chân vào cuộc đời tần tảo hy sinh, không bao giờ nghĩ đến cuộc đời riêng của mình.
     Những ngày phiên chợ, cậu giáo Bài trường làng thường hay lại mua hàng và để ý đến Tâm, khi lên giường ngủ cô cũng có lúc nhớ tới cậu giáo. Vụ gặt xong, cậu giáo nhờ người mối lái đến hỏi Tâm. Bà Tú gọi Tâm vào buồng nói chuyện ấy, cô muốn ở nhà buôn bán trông nom gia đình, thương con bà mẹ bảo cô phải đi lấy chồng.
     Ðám cưới cử hành trước tết, ngày về nhà chồng Tâm từ biệt các em. Về nhà chồng mấy hôm nàng lại sốc vác gánh hàng ra chợ. Nhà chồng nàng cũng nghèo, cậu giáo lương dăm bẩy đồng, nàng vừa phải gánh vác giang sơn nhà chồng lại lo cho các em ăn học. Em Lân lên học trường tỉnh, tốn kém hơn. Bà Tú nhắn người bảo nàng gửi tiền thêm, nàng lo quá: mẹ chồng, cậu giáo thường đay nghiến vì nàng không còn tiền đưa.
     Hai năm sau Tâm đẻ con trai, nàng đã già đi nhiều, không còn đẹp như xưa. Tâm về nhà thăm cụ tú, các em. Lân xin một chục bạc, Tâm hốt hoảng vì chồng đã thôi dạy, nàng phải lo gánh vác bên nhà chồng. Lân giận dỗi, nàng đành phải lấy tiền đưa cho em rồi lo âu không biết lấy gì bù vào chỗ ấy. Cuộc đời nàng đen tối, khó nhọc như không bao giờ dứt.
     Khác với Khái Hưng, Nhất Linh thường phơi bầy những sai lầm của nền luân lý cổ, ở đây Thạch Lam có khuynh hướng ca ngợi gia đình nền nếp nho phong, những cái hay cái đẹp còn rơi rớt lại của một nền văn minh tinh thần đã vang bóng một thời.
     Hình ảnh cô Tâm gánh hàng xén ra chợ nuôi mẹ, nuôi các em ăn học để sau này đỗ đạt đi làm trên tỉnh giúp thầy mẹ già, không nghĩ đến cuộc đời riêng của mình tiêu biểu cho những cái đẹp tuyệt vời của nền nếp xã hội thời ấy.
     “Tâm thấy vững vàng ở giá trị và lòng cao quí của mình. Nàng đã đảm đang nuôi cả một nhà”
     Nàng cũng là thể hiện của sự chịu khó nhọc nhằn của những người phụ nữ Việt Nam đảm đang.
     “Sáng sớm hôm sau, trong gió bấc lạnh, Tâm đã mở cổng gánh hàng lên chợ. Sương trắng còn đầy ở các ngõ trong làng . . .. . . tất cả cuộc đời nàng lúc nào cũng chịu khó và hết sức, như tấm vải thô dệt đều nhau. Có phải đâu chỉ một mình cô. Trong lũy tre xanh kia, bao nhiêu người cũng như cô, cũng phải chịu khó và nhọc nhằn, để kiếm tiền nuôi chồng, nuôi con, nuôi các em”
     Tâm chỉ nghĩ đến sự hy sinh cho cha mẹ, cho các em không nỡ bỏ nhà đi lấy chồng, bà Tú thương con buộc nàng phải xuất giá. Cô hàng xén xinh đẹp nổi tiếng cả một vùng ngày càng dấn thân vào cuộc đời khó nhọc, một tấn bi kịch không lối thoát. Về nhà chồng được mấy ngày nàng phải quẩy gánh hàng đi bán ngay, cậu giáo Bài lương chẳng bao nhiêu, Tâm lại phải è cổ gánh vác giang sơn nhà chồng:
     “Bây giờ gánh hàng đã trở nên quá nặng trên đôi vai nhỏ bé. Chiếc đòn càng cong xuống và rền rĩ. Ngoài giang sơn nhà chồng nàng phải gánh vác, Tâm lại lo sao kiếm được đủ tiền để gửi thêm cho các em ăn học. Trong sương muối sớm, xót và giá lạnh, nàng đã phải bước ra ngõ và đi chợ rồi . . . . . Ðời nàng lại đi như trước, chẳng khác gì. Những ngày khó nhọc và cố sức lại kế tiếp nhau
     Thật là bất ngờ, một cô gái nết na xinh đẹp, nổi tiếng cả một vùng ngày càng dấn thân vào cuộc đời gian khổ. Ðó là thân phận một người phụ nữ một cổ hai chòng, cuộc đời nàng chỉ toàn là hy sinh gánh vác: Mọi chi tiêu trong gia đình chỉ trông vào nàng: Bà Tú nhắn người bảo Tâm gửi thêm cho em, nàng phải đưa dấu vì mẹ chồng vàcậu giáo Bài đã bắt đầu nghi ngờ và đay nghiến nàng.
     Nàng đã già đi, nhan sắc phai tàn, đâu còn là cô hàng xén xinh đẹp nổi tiếng cả một vùng, tre già măng mọc, nàng nay đã hết thời, đã có những cô gái khác mới lớn tươi tắn và rưc rỡ . . Tác giả cũng ngụ ý về số mệnh con người.
     “Tâm lại nghĩ đến ngày trước kia, hình như đã lâu lắm, nàng còn là cô hàng xén má hồng, môi đỏ e lệ cúi mặt dưới cái nhìn âu yếm của cậu giáo Bài nho nhã và đứng đắn trong tấm áo lương. Thời ấy bây giờ đâu? Chị Liên may mắn đã lấy được chồng giầu, lên buôn bán trên tỉnh . Chị ấy vẫn trẻ đẹp như xưa. Tâm khẽ thở dài: bây giờ các chị em bạn cũ không còn ai ở lại để cùng chia sẻ những nỗi khó nhọc với nàng”
     Tác phẩm như để ca ngợi tấm lòng hy sinh cao cả của người phụ nữ Việt Nam nhưng chủ đề chính là bi kịch về thân phận con người, về những cuộc đời gian khổ đáng thương điển hình là cô hàng xén .
     “Cái vòng đen của rặng tre làng Bằng bỗng vụt hiện ra trước mắt, tối tăm và dầy đặc. Tâm buồn rầu nhìn thấu cả cuộc đời nàng, cuộc đời cô hàng xén từ tuổi trẻ đến tuổi già, toàn khó nhọc và lo sợ, ngày nọ dệt ngày kia như tấm vải thô sơ. Nàng cúi đầu đi mau vào trong ngõ tối”
     Cô Hàng Xén, một trong những đoản thiên hay nhất của nền văn chương Việt Nam đã cho ta thấy giá trị hiện thực tuyệt vời trong nghệ thuật tả chân của Thạch Lam. Một tác phẩm văn chương nhỏ bé đã làm sống lại cả một xã hội còn đượm những giá trị hy sinh cao đẹp, di sản của một nền văn minh tinh thần nay còn đâu? chúng ta không khỏi bùi ngùi cho thân phận bi đát của con người và cảm thấy nuối tiếc cho những giá trị cao cả tuyệt vời của nền văn minh tinh thần ấy nay đã bị chôn vùi dưới lớp cát bụi của thời gian.

       Tối Ba Mươi

     Một truyện ngắn đặc sắc, cảm động đầy nước mắt về thân phận của những người cùng mạt tận đáy xã hội.
     Liên và Huệ, hai chị em họ, bỏ nhà đã bẩy tám năm nay sống đời giang hồ trụy lạc. Liên mua đồ cúng giao thừa về khi Hậu còn đang ngủ. Họ dở các gói thức ăn ra, nào lạp xưởng, bánh chưng, dò lụa.
     Huệ rớm nước mắt nhớ tới thời thơ ấu, nàng mặc áo mới ngày mồng một tết . . nghĩ đến đấy tâm hồn nàng bỗng u ám nặng trĩu.
     Họ bầy đồ cúng lên bàn: đĩa cam quít, bánh chưng, lạp xưởng rồi cắm hương lên tường cúng. Người bồi nhà chứa chào các cô về ăn tết, chỉ còn lại hai chị em trong căn nhà hoang vắng. Mùi hương tỏa ra khiến họ nhớ đến những ngày cúng giỗ ở nhà xa xưa.
     Liên đứng trước bàn thờ một lúc rồi khóc nấc lên. Hai chị em tủi thân ôm nhau khóc trong tiếng pháo giao thừa nổ vang.
     Ðây là tấn bi kịch cuộc đời tội lỗi đáng thương của hai cô gái như đã bị xã hội bỏ quên trong khi mọi người đang tưng bừng đón giao thừa, đón những ngày thiêng liêng, vui tuơi nhất của một năm.
     “Nàng nhìn quanh căn phòng bẩn thỉu. Dưới ánh ngọn đèn mờ, lỏng chỏng các đồ đạc quen thuộc; cái giường Hồng Kông cũ đồng han và rỉ sạm, cái bàn ghỗ ẩm ướt ở góc tường, hai cái ghế long chân. Liên nghĩ đến sự trơ trọi của đời mình. Tết đến nơi rồi. Tết đến thăm nàng ở đây, trong căn buồng nhà săm này cũng như đến những nơi thơm tho đầm ấm’’
     Hai chị em họ xa nhà từ bao lâu nay; một người mẹ chết, cha lấy vợ khác không biết ở đâu, người kia còn cha mẹ nhưng không dám về, họ cô đơn trơ trọi đón xuân trong căn phòng lạnh lẽo này và trạnh lòng nghĩ đến thân phận hẩm hiu của mình.
     “Cái vắng lạnh như mênh mông ra tận đâu đâu, ở khắp cả các phố Hà Nội đêm nay, Huệ tưởng đến những căn nhà ấm cúng và sáng đèn, then cửa cài chặt, mọi người trong nhà đang tấp nập sửa soạn đón năm mới trong sự thân mật của gia đình. Chỉ có hai chị em nàng xa cửa xa nhà”
     Ở Thạch Lam ta thấy một sự hiện thực chua chát và tàn nhẫn, thật không còn gì cay đắng hơn.
     “- Có gạo đây. Nhưng đổ vào cái gì bây giờ?
     Hai chị em nhìn quanh gian buồng nghĩ ngợi, Liên bỗng reo lên.
     – Ðổ vào cái cốc này. Phải đấy, rất là . . .
     Nàng im bặt dừng lại. Hình ảnh ô uế vừa đến trí nàng. Cái cốc bẩn ở góc tường, mà cả đến khách làng chơi cũng không thèm dùng đến, nàng định dùng làm bát hương cúng tổ tiên”
     Sống trong một vũng bùn nhơ bẩn, họ tiếc thương quãng đời trong sạch đã mất đi mà không sao lấy lại được, tâm lý chung những kẻ đã mất quá khứ tươi đẹp của mình.
     “Huệ nhắm mắt lại. Vì trông mưa bụi bay hay vì nàng khóc thật? Hình như có chút nước mắt vừa rớm ở mi nàng. Huệ chớp khẽ rồi nhớ đến cuộc đời mình, lúc trẻ thơ, lúc còn con gái ở nhà quê, một buổi sáng mồng một tết – Nàng không nhớ rõ năm nào, nhưng đã lâu lắm rồi thì phải – nàng mặc áo mới đứng trên thềm nhìn mấy bông hoa đào nở ở trước vườn”
     Hoặc như .
     “Khói hương lên thẳng rồi tỏa ra mùi thơm ngát đem lại cho hai nàng kỷ niệm những ngày cúng giỗ ở nhà, khi hai chị em còn là những cô gái trong sạch và ngây thơ”
     Hai con chim lạc loài trơ trọi, lạc lõng giữa đêm giao thừa tưng bừng rộn rã khiến ta tưởng như họ là nạn nhân của cuộc đời, của xã hội và thấy xót xa cho cái thân phận cô đơn lạnh lẽo ấy đã bị đời khinh thị rẻ rúng.
     “Nàng bỗng nấc lên rung động cả hai vai, rồi gục xuống ghế, tay ấp mặt. Những giọt nước mắt nóng chảy tràn mí mắt nàng không giữ được; Liên cảm thấy một nỗi tủi cực mênh mông tràn ngập cả người, một nỗi thương tiếc vô hạn; tất cả thân thế nàng lướt qua trước mắt với những ước mong tuổi trẻ, những thất vọng chán chường.
     Huệ nhìn Liên rồi nhẹ nhàng đến gần, buồn rầu vỗ vai bạn:
     – Liên khóc làm gì nữa buồn lắm.
     Tiếng nàng cũng cảm động nghẹn ngào. Dưới bàn tay thân mật của bạn, Liên càng nức nở. Hai chị em giờ này cảm thấy trơ trọi quá. Liên ngửng mặt lên nhìn Huệ, cố gượng một nụ cười héo hắt:
     – Chị cũng khóc đấy ư?
     Huệ gục xuống vai bạn không trả lời. Nước mắt cũng ứ lên rồi lặng lẽ trào ra má. Nàng quàng tay ôm hết sức chặt lấy Liên”
     Tấn bi kịch đầy nước mắt cuộc đời hai người con gái đáng thương lỡ sa chân xuống hố sâu tội lỗi, ngụp lặn trong bể khổ mênh mông, một tác phẩm tuy ngắn ngủi nhưng cũng chan chứa tình thương yêu đồng loại.   

    Dưới Bóng Hoàng Lan

     Thanh nghỉ làm về quê thăm bà, bà cụ già tóc bạc phơ chống gậy mừng rỡ lại đón cháu, chàng rửa mặt. Thanh vắng nhà đã gần hai năm, cảnh vẫn y như cũ, bà chàng vẫn tóc bạc phơ, hiền từ. Căn nhà, thửa vườn là nơi mát mẻ hiền lành, bà vẫn đợi cháu trong tình thương trìu mến.
     Chàng nằm nghỉ trên giường nhìn ra ngoài khung cửa sổ thấy cây hoàng lan cao vút, mùi hương thơm thoang thoảng đưa vào. Chàng cảm động vì bà yêu cháu quá.
     Nga, cô gái hàng xóm thấy chàng về sang chơi, bà chàng mời cô ăn cơm. Cơm nước xong Thanh dắt nàng đi thăm vườn, chàng thấy tóc nàng thơm như hoa hoàng lan . Thanh và Nga vít cành hái hoa.
     Hôm sau Thanh lên tỉnh, chàng gửi lời chào Nga và biết rằng nàng vẫn nhớ mong chàng như trước.
     Ðây là một áng văn tao nhã tuyệt vời chưa từng thấy trong nền văn chương Việt Nam, một thế giới vô cùng thi vị thanh tao đầy những hương thơm của hoa hoàng lan, thiên lý.
     Một truyện tình cảm thật đơn sơ nhưng đậm đà, một tình cảm khác lạ, tình bà cháu dịu dàng trìu mến .
     “Thanh bước xuống dưới giàn thiên lý. Có tiếng người đi, rồi bà chàng, mái tóc bạc phơ, chống gậy trúc ở ngoài vườn vào. Thanh cảm động và mừng rỡ chạy lại gần.
     – Cháu đã về đấy ư?
     Bà cụ thôi nhai trầu, đôi mắt hiền từ dưới làn tóc trắng đưa lên nhìn cháu, âu yếm và mến thương.
     – Ði vào trong nhà không nắng cháu.
     Thanh đi bên bà, người thẳng, mạnh, cạnh bà cụ chống gậy còng. Tuy vậy chàng cảm thấy chính bà che chở cho chàng, cũng như những ngày chàng còn nhỏ”
     Thanh vắng nhà gần hai năm nay, chàng làm việc trên tỉnh và mong đến ngày nghỉ để tìm lại tình thương trìu mến của bà già mái tóc bạc phơ:
     “Căn nhà với thửa vườn này đối với chàng như một nơi mát mẻ và hiền lành, ở đấy bà chàng lúc nào cũng sẵn sàng chờ đợi để yêu mến chàng”
     Hoặc như.
     “Nghe tiếng bà đi vào, Thanh vừa nằm yên giả vờ ngủ. Bà lại gần săn sóc buông màn . . . . Chàng cảm động gần ứa nước mắt. Bà yêu thương cháu quá, giờ chỉ có mình cháu với mình bà”
     Chàng về quê cũng như để tìm lại tình cảm ngây thơ, trong trắng với cô em hàng xóm mà chàng đôi lúc tưởng như em ruột mình.
     “Thỉnh thoảng chàng nhìn đôi môi thắm của Nga, hai má hồng và nụ cười tươi nở, nàng lại nhìn Thanh, một chút thôi, nhưng biết bao âu yếm.
     Ngoài vườn, trời vẫn nắng. Giàn thiên lý pha xanh một bên tá áo trắng của Nga. Những búp hoa lý non và thơm rủ liền trong giàn, lẫn vào đám lá. Gạch mát và phủ rêu khiến Thanh nhớ lại hai bàn chân xinh xắn của Nga ngày nào đi trên đó. Hai bàn chân nhỏ, lấm tấm cát, để dấu tự ngoài ao trở về”
     Khác với không khí lãng mạn trong các tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng. Tình yêu của Thạch Lam ở đây thanh cao, chân thực và thơm tho như mùi hoa hoàng lan thoang thoảng đâu đây, nó vừa là tình yêu, tình hàng xóm, tình anh em và tình người.
     “Bữa ăn xong, Thanh với Nga trở lại thân mật như khi còn nhỏ. Thanh dắt nàng đi xem vườn; cây hoàng lan cao vút, cành lá rủ xuống như chào đón hai người. Có lúc gần nhau, Thanh thấy mái tóc Nga thoang thoảng hương thơm như có giắt hoàng lan. Nhưng hoa lan chưa rụng, vẫn còn tươi xanh ở trên cành. Nga bảo Thanh.
     – Những ngày em đến đây hái hoa, em nhớ anh quá.
     Thanh chẳng biết nói gì, chàng vít một cành lan xuống giữ ở trong tay Nga để tìm hoa, rồi nhẹ nhàng buông ra cho cành lại cong lên. Nắng soi vào hai người, nhưng dưới chân, đất vẫn mát như xưa”
     Dưới Bóng Hoàng Lan không phải một mối tình lãng mạn tha thiết, nhưng một tình yêu ngây thơ, trong trắng, chất phác, hồn nhiên trong cảnh thanh cao, thơm ngát của thôn quê khiến ta mơ mơ màng màng như lạc vào cõi thần tiên.
     “Ðêm ấy, một bà, một cháu với một cô láng giềng chuyện trò dưới bóng đèn mãi tới khuya. Khi trăng lên, qua vườn Thanh tiễn Nga ra đến cổng, đi qua hai bên bờ lá đã ướt sương. Mùi hoàng lan thoang thoảng bay trong gió mát. Không lưỡng lự, Thanh cầm lấy tay Nga để yên trong tay mình. Nga cũng đứng yên lặng. Lúc lâu Nga rút tay khẽ nói .
     – Thôi em về!”
     Căn nhà miền quê, thơm tho xinh đẹp tràn trề tình cảm là nơi Thanh trở về nghỉ ngơi sau thời gian làm việc để hưởng những ngày tươi đẹp.
     Dưới Bóng Hoàng Lan, đoản thiên thanh tao và trang nhã nhất của Tự lực Văn Ðoàn, của nền văn chương Việt Nam.
     Tác giả Nhà Văn Hiện Ðại đã dành cho tập truyện ngắn Sợi Tóc một địa vị rất cao trong văn chương Việt Nam, và cho tới nay chúng thấy hình như ít có tác phẩm nào sánh kịp. Các đề tài khác biệt nhau: xã hội, bi kịch, tình cảm y như đóa hoa ngũ sắc rực rỡ đã thể hiện cái thiên tài hiếm có của Thạch Lam, từ thanh cao cho đến ô trọc đều đã được ông diễn đạt một cách phong phú, sâu sắc. Nghệ thuật Thạch Lam mang nhiều ý nghĩa thâm sâu và sáng sủa, có lúc thật dễ thương, ngọt ngào tràn đầy tình cảm dạt dào, có lúc thật phũ phàng tàn nhẫn.
                                             
Trích từ  “Sợi Tóc – Những đoản thiên cuối cùng của Thạch Lam”  của Trọng Ðạt                     
      http://quocgiahanhchanh.com/     

     Hành Trình Cảm Giác

Nếu Thạch Lam là họạ sĩ,Nếu Thạch Lam là nhạc sĩ,Nếu Thạch Lam là nhà thơ,Thật ra Thạch Lam có thể là cả ba, bởi nhà văn ấy ngắt câu bằng màu, chấm câu bằng nốt nhạc, chuyển đoạn bằng hình ảnh. Thử ngắm và nghe bức tranh Thạch Lam vẽ Nắng trong vườn, một bức tranh rất tầm thường, nhìn qua ta có cảm tưởng như ai cũng có thể viết được:“… tôi thong thả theo con sông Cống, chạy khuất khúc lên giữa các đồi. Một cái cầu gỗ mong manh bắc qua sông. Hai rặng thông từ trên đỉnh đồi chạy xuôi xuống tận gần bờ, giữa luồng gió thoảng và cái tiếng rì rào như nhớ nhung của lá thông trái gió nhắc tôi nghĩ đến những cảnh rộng rãi, bao la.Buổi chiều rất êm ả. Về phía tây, mây trời rực rỡ những màu sáng lạn và ánh nắng chiều loáng một khúc sông, trông như một giải vàng nổi lên giữa đồi ruộng đã bắt đầu tím lại. Một đàn chim đi ăn về vút bay qua ngang đầu, tiếng cánh vỗ rào rào như trận mưa; tôi ngửng lên nhìn theo đến khi cái vết đen linh động của đàn chim lặn hẳn với chân mây.” (Nắng trong vườn, in lại tại Hoa Kỳ, trang 8)Ngòi bút vờn phác một dòng sông, có cầu gỗ bắc ngang, chấm phá thêm hai rặng thông từ trên đỉnh đồi chạy xuống, rồi điệu nhạc thầm nổi lên với âm chìm của tiếng thông “trái gió”, tiếng nắng chiều “loáng” trên sông, họa cùng âm nổi trong tiếng chim vỗ cánh “rào rào” như mưa, tiếng chim “lặn” vào chân mây… tất cả nhịp nhàng giao hoà trong thanh lặng, như thể cây cọ vẽ đến đâu, nhạc đệm len lỏi đến đấy, nhạc thoát ra từ thanh âm thầm kín của những con sông chạy khuất khúc, những cây thông chạy từ đỉnh đồi xuống bờ sông, những lá thông trái giónắng chiều loáng/ đồi ruộng tím lại/ đàn chim vụt bay/ cánh vỗ rào rào như mưa, cho đến lúc vết đen của đàn chim lặn hẳn… nhạc cũng chìm vào chân mây.Vậy mà dường như Thạch Lam không làm văn cũng không tả cảnh, ông chỉ đơn thuần ghi lại hành trình cảm giác. Ðối với ông, những ngõ dẫn con người ra khỏi trạng thái bình thường, tầm thường, để đến với những gì khác thường, có thể thay đổi toàn diện mạch sống, đôi khi phát xuất từ những cơ nguyên rất nhỏ như một tia nắng, vài cụm mây, mấy giọt sương, đôi mắt ngây thơ của đứa trẻ, tia lửa hồng trong lò sưởi… vô vàn hạt châu vây quanh quanh chúng ta, nhưng chúng ta không thấy, chúng ta vô tình dẫm lên, quay lưng lại. Thạch Lam lặng lẽ nhặt lên “từng hột sáng” ấy, dẫn chúng ta trở về lối cũ, dưới gốc hoàng lan, hưởng lại những mùi xưa, mùi tuổi thơ, mùi quê hương đã tàn phai trong trí nhớ truân chuyên phủ nhiều bụi bặm chua chát của trưởng thành. Nhà văn bảo chúng ta thử “ngửi cái mùi cát, mùi đất, lẫn mùi khói rác người ta đốt ở đầu làng buổi chiều, theo gió với sương mà tràn vào trong phố.” rồi Thạch Lam mách chúng ta nghe “tiếng tích tắc đều đều kêu se sẽ cái sống ban đêm của giây cót thép”, cho ta biết “nước giữ cái mát của đêm trên mặt, và cây hồng giữ cái mát của đêm trong kẽ lá”, tất cả những thứ đó tạm gọi là những “thủ pháp” sống, tiếng Pháp có chữ “truc”, láu hơn; và những nhân vật của Thạch Lam đầy những “truc” nhỏ như thế, Bính (trong Buổi sớm) cảm thấy “cái yên” và cái mát” gặp nhau trong giác quan “thứ sáu” của mình: “yên tĩnh và mát quá, một cái yên tĩnh mát hay một cái mát yên tĩnh chàng cũng không biết nữa” (trang 116), Bính còn nhận ra cả “cái chấm đỏ thắm như màu mệt của một ngọn đèn lục lộ treo giữa lối, lặng chiếu từ đầu xa” (trang 116).Phải thính và tinh lắm mới nhìn được những màu sắc như thế, nghe được những tiếng động như thế, hoặc bắt gặp được “đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần” như thế (trang 102). Với giác quan “thứ sáu”, Thạch Lam hay “chú sáu” có khả năng làm cho cái tĩnh trở thành cái động, cái động trở thành cái tĩnh, đôi khi cả tĩnh lẫn động cùng lên tiếng một lúc trong cõi giác vô âm: giác quan bí mật của nhà văn cộng hưởng với óc tưởng tượng của chúng ta; và để tạo nhạc, nhà văn không cần đến những tiếng động có sẵn, ồn ào bên ngoài.Âm thanh, màu sắc, hương thơm, thoảng táp vào ngũ quản những bước âm thầm. Thạch Lam đã tìm ra con đường huyền bí nối liền thiên nhiên và con người, những huyền bí ấy đôi khi ta cảm thấy, nhưng không thể nói ra, không thể diễn tả một cách chính xác. Cuộc đi của Thạch Lam bao giờ cũng mở đầu bằng một ngẫu nhiên hết sức tầm thường:“Gần hết mùa hè … Tôi không rời bỏ Hà Nội một cách đột nhiên. Buổi sớm kia, khi trở dậy trong căn phòng nhà trọ, tôi thấy ánh nắng rực rỡ xuyên qua các khe lá đến nhẩy múa trên mặt tường.Trời trong và gió mát quá, khiến tôi chợt nhớ đến cánh đồi, ruộng ở chỗ ông Ba ở mà đã lâu năm tôi chưa về thăm.” (Nắng Trong Vườn, trang 7).Ðó là lối kết hợp ngẫu nhiên và thiên nhiên, một bí quyết nghệ thuật thường thấy trong tác phẩm của Thạch Lam: Hôm nay trời nắng, nẩy ra ý đi chơi, từ đó sinh ra bao “sự” khác: gặp lá, gặp hoa, gặp người… Hôm nay trời mưa, giở quyển sách cũ ra đọc, lạc lối đến một chỗ khác, vào những quanh co rắm rối khác của tư tưởng…Bên kia sông, quê tác giả, qua con cầu gỗ, có một chốn bí mật gọi là bến Sen, cậu sáu hồi đó muốn sang khám phá lắm nhưng chưa dám. Tình cờ có anh bạn ở bên Sen xin vào học cùng trường. Thế là có dịp sang chơi bên Sen, gặp và yêu chị Thúy… Bà Cả (trong Ðứa con) là một người đàn bà không có con, keo kiệt và đanh ác. Bỗng một hôm được bế một đứa bé kháu khỉnh, lòng dịu đi, bà thay đổi thái độ, trở nên rộng rãi gần như nhân từ… Chỉ cần một chút than hồng, khơi thêm ngọn lửa trong lò sưởi, Vân (trong Bóng người xưa) đã thấy hiện lên hình ảnh một người vợ khác – người đàn bà trẻ chàng đã yêu ngày xưa – khác hẳn người vợ già mà chàng luôn luôn dày vò và hành hạ bây giờ. Ðổi hẳn cách sử xự với vợ, từ lãnh đạm tàn ác chàng trở lại với âu yếm săn sóc… Chỉ cần một hôm dậy sớm, tiếp nhận “cái yên tĩnh mát” của buổi sáng và “một thứ ánh sáng lạnh và biêng biếc như thiếc mới” là Bính thấy “máu bắt đầu chẩy mạnh như xô nhau đi đón khí trời trong” và chàng đã tìm lại được “buổi sáng” mà từ lâu, sống đời trác táng giang hồ, chàng đã “quên không biết buổi sáng thế nào”…Thạch Lam khác với những người cùng thời, kể cả các anh. Trong khi mọi người thi nhau viết tiểu thuyết luận đề, hoặc hiện thực xã hội, với những mục đích chính xác: lên án xã hội hoặc cổ vũ quần chúng theo con đường mới. Thạch Lam cũng muốn “tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác” đấy, như ông viết trong “Lời nói đầu” tập Gió đầu mùa, nhưng Thạch Lam không cải thiện, giáo huấn mà ông nhờ thiên nhiên, nhờ tình cờ nói hộ để gián tiếp “gơị ý” cho ta biết chỉ một “sự” cỏn con như vậy cũng có thể thay đổi định mệnh con người; ta có thể sống cao hơn, nhân ái hơn, tại sao không nghĩ ra? Và tất cả chỉ chênh vênh trên một “sợi tóc”, ai cũng có thể “làm nên” hay “làm xuống” những truyện tầy đình. Từ chối chỉ đạo mà chỉ gợi ý, Thạch Lam đã làm công việc của một nhà thơ trong văn và ông coi ngẫu nhiên như một tất yếu của cuộc sống… Trích từ“Thạch Lam” của Thụy Khuê    http://thuykhue.free.fr/                                               

  Tư Tưởng Nghệ Thuật của Thạch Lam                            
  Hoàng Thiệu Khang 

Mọi cái rồi sẽ trôi đi, riêng sự thật còn lại “Qua bao biến thiên lịch sử, qua bao chính kiến nghệ thuật tả hữu… dọc con đường từ 45, văn chương và tư tưởng về văn chương của Thạch Lam vẫn là một trong những giá trị còn lại”.

1 – Văn chương của Thạch Lam là những trang đẹp. Cho đến nay, nó càng làm lôi cuốn tâm hồn những con người đương đại, những con người đã trải qua hai cuộc chiến có máu và lửa thảm khốc. Thoát ra khỏi không gian và thời gian “Vầng trăng và quầng lửa”, con người hôm nay tìm về Thạch Lam như nhu cầu tìm về một cõi hiền hoà, yên tĩnh, dịu dàng…; về một cõi mình có thể lắng nghe mình – về thời gian của “Gió đầu mùa”, không gian của “Nắng trong vườn”, hương vị của “Hà nội 36 phố phường”…

2 – Văn chương của Thạch Lam là những trang hiện thực thoáng qua, những dấu ấn còn lại trong cảm nhận của ta sau một cơn gió nhẹ… dấu ấn trong miên man. Đó là chủ nghĩa hiện thực không tả thực, một chủ nghĩa hiện thực mỹ thuật (réolisme pitoresque). Ở đây không có rùng rợn và bão tố, không có sần sùi, gồ ghề kịch tính… Tất cả chỉ là đẹp và tinh tế; những “Dưới bóng hoàng lan, Đứa con đầu lòng”… đi nhẹ vào tâm thức ta.

3 – Cũng có khi văn chương của Thạch Lam đưa mỗi chúng ta vào một tự vấn về nhân cách, nhân phẩm, lương tâm, danh dự… nghĩa là những tự vấn ở vùng đạo lý, đạo đức tiên thiên; những “Sợi tóc, Đứa con trở về “… mang hình câu hỏi tra vấn nhẹ nhàng.

4 – Từ thẩm mỹ cho đến tư tưởng, văn chương Thạch Lam xu hướng vế cái đẹp của chất người, và chúng ta hiểu, vì sao Thạch Lam để lại nhiều giá trị hơn cả so với những giá trị khác trong Tự lực văn đoàn. Thạch Lam cảm hứng trên hằng số của tinh thần, cho nên văn chương của ông cũng trở thành một hằng số giá trị trong văn học Việt Nam.

Thời văn học Việt Nam những thập kỷ 30 – 40, các tư tưởng về nghệ thuật, dẫu đứng phía nào, ở nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh, ở chủ nghĩa hiện thực hay chủ nghĩa lãng mạn… cũng đều ở trình độ giản đơn, nếu không nói là thô sơ. Các nhà tư tưởng nghệ thuật thưở ấy mang cấu trúc tư duy tam đoạn luận. Chưa thấy có sự xác lập nhiều tiền đề trong mạch lý giải, biện luận. Do vậy, tính biện chứng bị vắng bóng. Họ chưa thấy được nghệ thuật và văn chương là những hoạt động nhiều chiều và có khi là chúng ngược nhau, đan dệt ngang dọc. Họ tuyệt đối hoá một tiền đề để đi tới một hợp đề duy nhất. Cho nên các cuộc tranh luận như là rơi vào tình trạng bất đồng ngôn ngữ, không có giao lưu, thắng bại.

Trong bối cảnh và tình cảnh tư tưởng ấy, Thạch Lam xuất hiện trong một tư tưởng về sứ mệnh của văn chương (nghệ thuật). Thạch Lam đang đặt văn chương đối diện với một sứ mệnh toàn vẹn. Trong lời tựa tập “Gió đầu mùa”, ông viết:

“Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên; trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới đầy giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn… ” So với thời đại của mình, tư tưởng nghệ thuật này tỏ ra hiểu văn chương hơn cả.

Có thể tìm thấy trong những lời phát biểu ấy những nội dung như sau:

1 – Thạch Lam lắc đầu với loại văn chương đem đến cho người đọc thái độ thoát ly, quên lãng thực trạng cuôc sống.

Thạch Lam đang sống và làm việc với những người bạn chí thân trong Tự lực văn đòan, những Thế Lữ (Tôi chỉ là người bộ hành phiêu lãng, Đường trần gian xuôi ngược thú vui chơi..), những Xuân Diệu (Tôi là con chim, đến từ núi lạ, ngửa cổ hót chơi…), thế mà ông vẫn cứ lắc đầu!

Phải công bằng – một công bằng mang tính lịch sử, mà nói rằng, văn chương thời ấy có một loại (mà chúng ta hay mệnh danh là văn học lãng mạn), bên cạnh những tư tưởng nghệ thuật rất quý giá, vẫn đã rơi vào cái hạn chế mà Thạch Lam vừa đề cập tới (đem đến cho người đọc sự thoát ly, sự quên).

Trong một cảm nhận thú vị và khâm phục Thơ Mới, chính nhà phê bình Hoài Thanh (trước 45) đã viết:

“Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử – Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ… ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận… “
(Thi nhân Việt Nam)

Thoát ly và quên lãng, xét đến cùng, cũng là một thái độ phản kháng thực tại. Nhưng nó không nhập cuộc. Thạch Lam muốn có một cái thế nhập cuộc của văn chương.

2 – Văn chương với Thạch Lam phải là một thứ khí giới. Con người sinh ra văn chương, mong muốn nó trờ thành một công cụ chiến đấu cho hạnh phúc của con người. Đó là một sứ mệnh xét từ góc độ sinh thành chủng loại văn chương – nghệ thuật. Đó là quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh. Nhưng khi văn chương phát triển thì cũng phải nhìn nó từ góc độ sinh thành cá thể. Từ góc độ này, có thể chấp nhận thái độ nghệ thuật vị nghệ thuật. Bình diện nhân sinh nằm nơi sâu của tiềm tàng, bình diện nghệ thuật sẽ bay lên như một cõi riêng từ cái nền tiềm tàng đó.

Muốn vị nhân sinh hay vị nghệ thuật thì nghệ thuật vẫn là tiếng nói của trái tim con người, vẫn là cuộc giao lưu giữa trái tim và những trái tim. Tự nó, văn chương đã mang cái véc – tơ hướng vào con người, vào cuộc đời.

Văn chương, với Thạch Lam, là một thứ khí giới. Nhưng nó không mang tính vật chất thô thiển, nó là thứ khí giới thanh cao. Nó đến với nơi thanh cao của tinh thần con người.

Viết đến đây, tôi tự nhiên liên tưởng tới thơ Sóng Hồng:

Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ

Mỗi vần thơ – bom đạn phá cường quyền…

3 – Sứ mệnh đầu tiên của văn chương, theo Thạch Lam, là tố cáo và thay đổi cái thế giới giả dối và tàn ác.

Văn chương có thể nào khác như thế được khi con người đang bị chìm trôi trong bao bi kịch bởi sự tàn ác và giả dối. Đưa sự mệnh tố cáo lên hàng đầu, Thạch Lam muốn văn chương phải mang được một chủ nghĩa nhân đạo hiện thực (Nhà Mẹ Lê)

Nhưng khi ngôi nhà của cơ chế cũ đã nát vụn dưới buá tạ của văn chương phê phán, khi thói tàn bạo và giả dối đã bị phơi ra dưới ánh nắng mặt trời… thì văn chương cũng phải cảm nhận được một mạch sống đang chảy về đâu. Văn chương phải góp phần cho cuôc thay đổi. Sinh thành cá thể phải nằm trong sinh thành chủng loại của nó.

4 – Sứ mệnh đích thực của thứ khí giới thanh cao này là làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn.

Văn chương tắm gội tâm hồn con người. Sống trong những điều kiện hiện thực, con người vướng nhiều bụi bặm. Bên những tinh chất, con người cũng mang những tạp chất. Con người dễ rơi vào tiền tài, danh vọng… rơi vào chốn phù du… Văn chương có tác dụng “thanh lọc” (Katharsis – chữ dùng của Pythagore) tinh thần con người.

Lại nữa, tưởng tượng nếu không có văn chương – nghệ thuật thì tâm hồn con người sẽ nghèo đi biết bao nhiêu. Văn chương là một trường thể nghiệm những rung động thẩm mỹ mãnh liệt và sâu lắng. Nó đến với hồn ta. Nó nhân đôi mỗi trái tim chúng ta.

Tôi đã vẽ chân dung Thạch Lam với những nét đơn sơ nhưng đầy lòng cảm mến. Trích từ                   http://vanhoc.xitrum.net/  
 

GÁNH HÀNG HOA

Đã lâu quá rồi, tôi chưa có cơ hội để đọc truyện của thời Tự Lực Văn Đoàn thời xa xưa. Tuy nhiên, khi đọc lối viết tiếng Việt hồi đó, cá nhân chúng tôi thấy vui quá. Tôi bèn tìm cách để đưa một vài tác phẩm này lên trang mạng damtrungphan.wordpress.com để Quý Vị có cơ hội đọc…

Xin mời đọc …

NGUỒN: INTERNET

TRÍCH ĐOẠN NHẬT KÝ

Xin mới Quý Vị vào đọc một đoạn nhật ký viết bằng tay dưới đây:

Health Benefits of a Morning Walk

SOURCE: INTERNET

Written by WebMD Editorial Contributors

 Medically Reviewed by Dan Brennan, MD on November 15, 2021

IN THIS ARTICLE

Going on a morning walk and building a routine around it can have wonderful effects on your physical and mental health. 

How Walking in the Morning Improves Your Health

Studies have found that 1 hour of brisk walking can increase your life expectancy by 2 hours. Regular morning walks can also help you: 

  • Feeling better
  • Lower the risk of heart disease, stroke, diabetes, and certain types of cancer
  • Clear your mind
  • Lower blood pressure
  • Increase energy
  • Improve memory and lower your risk of dementia
  • Boost your mental and emotional health
  • Prevent weight gain

You can see these effects by elevating your heart rate during your walk. For maximum benefits, devote at least 150 minutes a week to your morning walk routine.  

The Benefits of a Morning Walk

Walking is an appealing form of exercise. Most people can do it, and there are plenty of benefits:

Boosting immune function. Walking daily can reduce your risk of catching a cold or the flu. Studies have shown that people who walk at least 20 minutes a day, 5 days a week, have 43% fewer sick days. And if you get sick, you’re likely to have milder symptoms.  

Better circulation. When you walk, your heart rate goes up, and this lowers your blood pressure. It improves your heart health over time and helps your overall circulation. You can also reduce your risk of stroke by walking 2 miles a day. 

Improving joint support. Your joints squish together when you walk. This movement and compression open them to get joint fluid. That allows more oxygen and nutrients to get into your joints, which helps them work and feel better.

Strengthening muscles. Going on morning walks can help you tone your leg and abdominal muscles. Stronger muscles give you a wider range of motion and improve your overall strength and health. The pressure of moving is also shifted from your joints to your muscles. 

Clears your mind. Walking has been shown to help your brain function better. People of all ages had better cognitive abilities while walking. Some people like to take walks when they’re thinking about something or trying to solve problems.

Boost mental health. Studies have shown that regular walks can improve your mood. They also find that walking can reduce mild to moderate symptoms of depression. 

Reduces risk of Alzheimer’s. A study of men ages 71 to 93 found that walking more than a quarter-mile each day had benefits: fewer cases of dementia and Alzheimer’s disease. Brief but consistent walks can have great effects on your mind and body. 

The Effects of Walking in the Morning on Mental Health

Getting up and heading out for a morning walk is great for your mental health. Most studies show that walking 20 to 30 minutes or more has the best results. Staying consistent 5 days or more each week is also important. 

Morning walks tend to start and end your day in a good mood. They can also help your creativity. Studies have shown that getting up and moving helps you be more creative than sitting. Walking also helps you get better sleep, which results in an overall better mood the next morning. 

When you go on walks and get other forms of exercise, your body releases hormones that make you feel better mentally and emotionally. They include: 

  • Dopamine, which decreases stress and depression
  • Serotonin, which helps you sleep and boosts your mood
  • Testosterone in men, which improves strength and muscle mass
  • Estrogen in women, which can reduce the symptoms of menopause

Tips for Walking in the Morning

Getting up early can be a challenge if you like to stay up late and sleep in. If you want to make walking in the morning a part of your new routine, there are some ways to motivate yourself: 

  • Get your clothes and shoes ready the night before
  • Create a fun, upbeat playlist
  • Stretch before and after your walk
  • Wear reflective clothes if you’re walking in the dark so drivers can see you

Make sure your walking goals are realistic. Aim for 30 minutes of movement or exercise each day. But do what feels right for your body. You can slowly increase how far or how long your walks are.

If you miss a day, don’t let it ruin your routine. It’s OK to have an off day and start right back up the next day. 

To keep your morning walks enjoyable, you should also consider changing up your route. Having new things to look at and see can give you something to look forward to in the morning. 

… THỨ BA HỌC TRÒ – Đàm Trung Phán

Đàm Trung Phán

Canada đang đi vào cuối tháng 10, 2022. Nơi chúng tôi cư ngụ, hôm nay trời mưa lất phất và khá lạnh. Không thể ở ngoài trời để viết lách được, bèn mở cửa ra ngồi balcony để “hưởng” cái khí lạnh rồi ngồi viết bài cho đỡ buồn tình. Thực ra, người viết rất cần ra khỏi căn nhà, ngồi dưới vòm trời để được hưởng phần không khí trong lành của trời đất để mà có cái hứng ngồi viết liên miên.

Ngoài trời, cây cối đã rụng gần hết lá. Còn chăng chỉ là lá vàng, lá đỏ đã khô cằn để rồi tuần sau đó, sang tháng 11, cây sẽ chỉ còn những nhánh cây trụi thùi lụi mà thôi.

Đã mấy hôm nay, tôi hằng nghĩ đến thân phụ và anh tôi (anh Pháp). Cả hai cùng đã là 2 nhà giáo và thường hay khuyến khích tôi trên phương diện viết lách, nhất là viết về phần dạy học.

Từ trước khi có dịch COVID-19, anh tôi thường hay khuyên tôi: “Phán nên viết nhiều về những kinh nghiệm dạy học!” Tôi đã hứa là tôi sẽ viết nhưng rất tiếc là khi hai anh em chúng tôi còn có thể nói chuyện được qua điện thoại viễn liên, chúng tôi đã duyệt lại với nhau một số công việc chúng tôi nên làm, nhất là sau khi chúng tôi đã thừa biết là số ngày còn lại của chúng tôi không còn nhiều lắm. Định mệnh cuộc đời đưa đẩy người viết vào những khúc quanh: hết bận chuyện này rồi đến chuyện khác và những “dead lines” đã bó buộc tôi không để cho tôi làm những gì như tôi đã hứa với anh tôi…

Trời thương, hôm nay tự dưng tôi có cơ duyên may để ra balcony người viết. Trời mưa ư? Không sao, balcony không bị ướt! Trời lạnh ư? Cũng không sao, vì tôi ăn mặc rất ấm và lấy một cái chăn nhỏ quấn xung quanh hai cái cẳng già nua.Thật là “ấm cúng mà ngồi viết mà lại chẳng phải lái xe ra khỏi nhà…”

MỘT: NHẤT QUỶ NHÌ MA, THỨ BA HỌC TRÒ

Thập niên 70, tôi mới tập tễnh “vào đời” với nghề dạy học. Cái gì cũng cần phải học hỏi và thực tập. Việc tôi lo ngại nhất: viết “lecture notes” cho học trò và làm sao để mà “deliver” các “lecture notes” này để học trò cảm thấy thích học. Nếu sinh viên cảm thấy “bored”, họ sẽ dễ có cơ hội mà chọc phá mình cho “bõ ghét” (“served you right!”). Rồi lại cong có thêm phần khó khăn khác: nạn “cọp dê” phần “assignments” (các bài viết mà học trò phải nộp cho các giáo sư để chấm bài – các “assignments” này sẽ được tính điểm để sinh viên có grades A, B, C… về sau). Trong niên khóa Mùa Thu (Fall Semester) cũng như niên khóa Mùa Đông (Winter Semester), ngoài phần “Assignments “còn có 3 kỳ thi: “Term Test 1, Term Test 2 & Final Exam”. Cho nên nhà giáo chúng tôi còn phải đương đầu với phần “cọp dê” trong các bài thi này nữa. Vấn nạn “cọp dê” trong lúc thi cử này cũng đã làm các nhà giáo chúng tôi đôi lúc “điên cái đầu”. Hệ thống “community colleges” của chúng tôi trong tỉnh bang Ontario ra đời vào năm 1965. Nhiệm vụ chính của community colleges là thuê các giáo sư (college professors) không phải làm “Research” như trong Đại Học mà chỉ để dạy học mà thôi vì trọng tâm của Đại Học Cộng Đồng (community colleges) là đào tạo các chuyên viên sẵn sàng vào làm việc ngay (technicians, technologists, y tá, accountants/book keepers …)

Các “Full time College Professors” (Giáo sư thực thụ bị “sinh viên” và Ban Giảng Huấn nhà trường theo dõi trong 2 năm đầu và sẵn sàng bị mất chức nếu không có khả năng dạy học. Ngoài ra, họ còn phải dạy các môn mới ngoài Phân Khoa của họ, tùy theo sự quyết định của Ban Giảng Huấn). Họ phải có bằng Bachelor, Masters hay Ph.D + những kinh nghiệm về nghành nghề chuyên môn. Phần kinh nghiệm nghành nghề và các “connection with industries” rất quan trọng để các “Community Colleges” có nhiều “connections” trong xã hội, mục địch là để tiện việc kiếm việc làm cho sinh viên khi mới ra trường. Sau thập niên 1980, muốn trở thành 1 Full Time College Professor, việc này rất là khó vì các trường Đại Học Cộng Đồng tại Ontario thường chỉ hay mướn các “Part time Professors” (dạy học trong cả năm/ academic year) hay các “Sessional Professors” (dạy học trong niêm khóa mùa Thu hay mùa Đông/ Fall Semester hay Winter Semester mà thôi). Lý do chính: các vị “Part time Professors, Sessional Professors” sẽ không được hưởng “Pension” (lương hưu trí) cho nên các College sẽ không phải tốn tiền nhiều so với số lương trả cho các “Full time Professors” (Full Chair Ptofessors) khác.

HAI: VẤN NẠN CỌP DÊ

Trong phân khoa kỹ thuật của chúng tôi, sinh viên phải làm thực tập rất nhiều trong các phòng thí nghiệm để sau khi ra trường, họ có thể được thuê để làm việc ngay lậ tức trong các phòng thí nghiệm của các công ty hay của chính phủ.

Để tiện sắp xếp trong phòng thí nghiệm, chúng tôi thường có chừng 6 “groups” (mỗi nhóm / group có 3 hay 4 sinh viên). Tất cả các sinh viên trong một nhóm đều phải tự làm thí nghiệm và ghi lại các kết quả của họ trong nhóm. Khi viết các “lab report”, mỗi sinh viên phải viết “report” của chính mình. Nhà giáo chúng tôi đã thường gặp các trường hợp “classical copy” như sau:

Sinh viên A (mà chúng tôi mệnh danh là “Father”) nộp report rất đàng hoàng: trước khi sang trang thường hay viết “PTO” (“Please Turn Over”) ở góc phải phía cuối cùng của trang sách. Sinh viên B (dân cọp dê mà nhà giáo chúng tôi mệnh danh là “Son”) cọp dê nguyên cả cái bài của “Father”. Tai hại thay, trong bài này, hàng chữ “PTO” lại ở giòng thứ hai, thứ ba trước khi sang trang. Nhà giáo chúng tôi chỉ phê “COPIED” và cho điểm “Zero”. Chúng tôi sẵn sàng “bảo vệ nhiệm vụ” của chúng tôi với Văn Phòng Kiện Tụng của College!

Phần cọp dê trong 2 kỳ thi term tests và kỳ thi cuối semester là phần mà các giáo sư trong phân khoa Khoa học, Kỹ thuật chúng tôi quan tâm nhất vì nó liên quan rất nhiều tới phần điểm số cuối Term của sinh viên (grades như A, A+, B, B+…)

Vào mùa đông năm 1971, một ông Giáo Sư gốc Ấn Độ già đã có nhiều năm dạy các sinh viên sĩ quan bên Ấn Độ môn “Applied Mechanics” (Cơ Học Ứng Dụng) đã phải nhờ tôi phát đề thi môn đó trong khi ông ta đứng trông các sinh viên trong lớp trong giờ thi. Ông ta đã dặn dò tôi không để cho 2 anh chàng Tony Johnson và George Papadoglous ngồi bên cạnh nhau. Hai chàng cao trên 6ft, khệnh khạng vào lớp sau khi chúng tôi đã phát bài thi xong. Tôi bắt Tony Johnson ngồi hàng đầu và George Papadoglous ngồi hàng cuối vì Tony thường hay cọp dê George. Cả hai đều không hài lòng về vụ này. Khi đi về hàng cuối, George to tiếng với tôi: “Go back to Korea!” (Anh chàng tưởng tôi là dân Korean). Tôi trả đũa ngay tức thì: “I only go back to Korea, if you go back to Greece first, George Papadoglous”! Đặc biệt là tôi nói thật to và thật chậm cái tên họ của anh chàng người gốc Hy Lạp. Câu trả lời của tôi được các sinh viên vỗ tay đôm đốp và cười hô hố, làm tôi hơi ngán vì sợ sẽ bị George “páo chù”. May sao cho tôi mà về sau 2 yiêng hùng Tony và George lại làm thân với tôi! Đặc biệt là 15 năm sau khi ra trường, George còn trở lại trường thăm tôi và tặng tôi 1 cái VHS tape liên quan đến nghành Công Chánh và còn nhắc lại cho tôi biết lời anh chàng đã nói ngày xưa. Thầy trò chúng tôi chỉ còn biết cười trừ với nhau mà thôi.

Rút từ các kinh nghiệm cọp dê này, ông giáo sư người Ấn độ đàn anh và tôi đã “khôn” ra: thay vì chỉ có 1 loại đề thi giống y chang như nhau, chúng tôi soạn 2 loại bài thi:  A và B với các hình vẽ giống hệt như nhau nhưng các con số lại khác nhau. Trước khi vào lớp, chúng tôi sắp xếp các đề thi theo thứ tự A, B, A, B… Khi vào lớp, chúng tôi sắp xếp các sinh viên ngồi chỗ cho đâu ra đó trước khi phát đề thi A, B, A, B… Một, hai năm sau đó, chúng tôi mới “khám phá” ra điều này: vì chỉ có một mình mình trong lớp trong khi phát đề thi, các yiêng hùng đổi bài với nhau để làm sao A ngồi bên A, B ngồi bên B… để mà cọp dê cho dễ dàng. Nhà giáo chúng tôi “trả đũa”, phen này ta “escalate the war” (vỏ quit dầy, móng tay nhọn): chơi luôn 4 loại đề thi A, B, C, D… không cách nào mà các yiêng hùng trao đổi đề thi dễ dàng nữa! Các dân cọp dê khờ dại sẽ bị “trúng mối” ngay lập tức.

Trong một lớp khác, sau khi chúng tôi trả lại bài thi đã chấm điểm cho sinh viên, một sinh viên cao tuổi gốc Phi Châu đã làm khó dễ chúng tôi: “Ông giáo sư đã kỳ thị mầu da của chúng tôi! Tại sao bạn tôi được 10/10 trong một câu hỏi mà tôi lại bị zero trong khi đó câu đáp số của tôi giống y chang câu đáp số của bạn tôi?”

Tôi điềm nhiên trả lời: “Xin anh mang bài của bạn anh lên cho tôi coi để tôi so với bài thi của anh. Xin các anh chị em sinh viên nên nhớ: “Chúng tôi có 4 loại đề thi với các con số khác nhau. Nếu bài thi của anh này không giống như bài thi của bạn anh ta, tôi sẽ mang 2 anh ra Hội Đồng Giáo Sư để họ quyết định!”

Anh chàng bèn chịu trận. Nhờ vụ này mà các sinh viên bắt đầu “ngán” cái vụ “cọp dê để sống còn” (“copy to survive”).

Bắt đầu từ năm Thứ Hai (Third Semester,  Fourth Semester) trở đi, cá nhân chúng tôi thường sử dụng kiểu thi “Open Book”, có nghĩa là sinh viên tha hồ có quyền mang theo sách, vở… vào phòng thi. Để cho sinh viên có nhiều chỗ, chúng tôi thường cho mỗi sinh viên 2 cái bàn kê sát nhau… chúng tôi không sợ vụ sinh viên cọp dê nhau nữa vì chúng tôi đã có 4 loại đề thi khác nhau (thực sự ra thì chỉ có 4 loại các con số khác nhau nhưng đề thi thì giống hệt như nhau để tránh cái vụ kiện tụng là “unfair”, là khó dễ, là kỳ thị…

Cũng xin thưa là chỉ có vài ba Giáo Sư trong Civil Technology Department của chúng tôi đã áp dụng “chiến thuật” này mà thôi và chúng tôi được các đồng sự trong Phân Khoa Kỹ Thuật mệnh danh chúng tôi là “Department of immigrants” vì trong số 7 vị giáo sư cả thẩy, chỉ có 2 vị giáo sư là sinh quá tại Canada mà thôi.

Campus của chúng tôi thường hay có vụ “Fire Alarm” xẩy ra trong thời kỳ “Final Exam”. Trong nhiều năm, người viết đã từng là một “Fire Warden”, có nghĩa là sau khi nghe tiếng còi báo động, tất cả các giáo sư và sinh viên phải ra khỏi lớp và đứng ngoài sân mà chờ (tội cho các sinh viên, giáo sư không mang theo áo lạnh trước khi vào lớp). Sau khi tôi đã cho sinh viên ra sân, nhiệm vụ của tôi là phải đi đến các lớp khác trong cái “Wing” của chúng tôi và nhắc họ phải ra ngoài sân trước khi tôi “được phép” ra sân.

Các “yiêng hùng” đã tìm cách bấm nút cái còi báo động cháy nhà làm đảo lộn thời giờ thi cử của biết bao các sinh viên khác đang viết bài thi.

Cũng may cho chúng tôi: không còn sợ cái vụ cọp dê nữa vì đã có 4 đề thi “Open Book“ khác nhau. Còn may hơn nữa: đã từ 20 năm nay, tôi đã trả hết cái nợ nần đời cơm áo này rồi!

BA: CÁC VẤN NẠN KHÁC

Thường thì người đời hay nghe nói đến vụ người da trắng kỳ thị người da đen. Câu chuyện mà chúng tôi muốn kể đến cho quý vị nghe: chuyện người da đen “kỳ thị” người da vàng!

Trường Công Chính chúng tôi, trong thập niên 1980 đã có một vài sinh viên da đen từ Phi Châu đến học. Có một anh chàng da đen đã trên 30 tuổi và đã có vợ. Anh chàng học tôi môn “Nước Uống và Nước Thải”. Môn này dính dáng đến các vi khuẩn, các chất hóa học… mà sinh viên cần phải thuộc lòng. Vì vậy mà chúng tôi bó buộc phải dùng đến bộ phận “closed book test”. Cái bài thi đầu / first test, anh chàng khôn lắm: bỏ trống 1 khoảng giấy trắng giữa 2 câu trả lời. Vì câu trả lời chưa thực sự đầy đủ các dữ kiện, anh chàng chỉ được 3/6. Đáng lẽ ra, nếu tôi không đãng trí, tôi đã phải đánh dấu chữ X bằng màu đỏ trong phần giấy trống không này.

Sau khi nhận được bài xong, anh chàng lên phàn nàn với tôi: “Ông Thầy chắc là kỳ thị màu da đen của tôi nên không chấm tất cả các phần trả lời của tôi!”

Tôi phải đọc lại phần trả lời. Đúng thật, anh chàng đúng mà tôi sai. Mãi đến khi đến về nhà, tôi mới nhớ lại là cái phần trống không trong bài thi của anh chàng mà tôi không gạch phần chữ đỏ.

Kỳ thi test thứ 2, anh chùng cũng “dựng cái bẫy” cho ông giáo sư da vàng. Bản cũ soạn lại, anh chàng cũng không được điểm cao. Tuy nhiên, kỳ này ông thầy không trắng mà cũng chẳng đen bèn đem cái phần “marked paper” in một bản bằng Xeros và để sẵn tở giấy này trong cái túi áo veston trước khi đem bài thi ra trả lại cho sinh viên.

Quả nhiên, sau khi tôi đã trả bài thi cho học trò, anh chàng lên phàn nàn với tôi ngay trước mặt các sinh viên là tôi là người kỳ thị màu da của sinh viên. Tôi bèn lấy tờ giấy đã in phần bài thi mà anh chàng đã “gài bẫy ông Thầy da vàng”. Tôi tuyên bố trước mặt cả lớp:

“Đây là tờ tôi in lại phần chấm bài cho anh sinh viên này trước khi tôi trả lại bài thi cho các “you” ngày hôm nay. Và đây là phần viết thêm vào chỗ trống của anh sinh viên này, đặc biệt là lại có phần anh ta mới điền thêm vào bài thi so với bản tôi copy lại trước khi tôi trả lại bài thi cho các anh chị. Anh ta còn than phiền là tôi kỳ thị anh ta. Xin các anh chị cho biết tôi phải làm gì?”

Ở cuối lớp, tôi nghe thấy có người nói: “Hang him, Sir!”

Tôi điềm nhiên nói với anh sinh viên Phi Châu: “Tôi mời anh lên văn phòng “Hội Đồng Kỷ Luật” để họ giải quyết vụ này!”

Mấy hôm sau, người vợ của anh chàng đến phòng làm việc của tôi để xin lỗi.

Câu chuyện chưa xong. Sau đó bà Khoa Trưởng còn cho tôi biết là anh chàng đã đến gặp bà Khoa Trưởng rồi than phiền là tôi đã gặp gỡ bà vợ của anh ta…  Chán mớ đời!

Trong nghành Công Chánh của chúng tôi, có 2 chương trình: Civil Technician (học 2 năm) và Civil Technology (học 3 năm). Muốn học 3 năm, các sinh viên phải ít nhất được điểm “C” trong các môn về Công Chánh. Nếu không, người Giáo Sư Trưởng Phòng (Civil Coordintor /Department Head) vẫn có thể cho phép sinh viên theo học chương Trình Civil Technology, với điều kiện là sinh viên phải hoặc thi lại 1, 2 cái test hay làm thêm các assignments do giáo sư chỉ định.

Có một anh chàng sinh viên gốc Trung Mỹ đã mạo muội kiếm được một cái form để “upgrade cái grades” của anh ta cho 2 môn mà anh ta được điểm thấp. Anh chàng tự ý “upgrade cái grades” lên điểm “B” cùng với chữ ký của ông Ron C (vị giáo sư dạy anh ta) và tự ý để trên bàn giấy của cô thư ký trước khi lên máy bay trở về Trinidad.

Sáng hôm sau, bà Thư Ký và ông Giáo Sư Ron C mới biết mình đã bị lừa! Phân Khoa Kỹ Thuật của chúng tôi không tìm ra manh mối tại làm sao mà anh chàng này đã kiếm ra được cái “Academic Upgrade Form” (mà chỉ có bà Thư Ký của chúng tôi mới biết bà ta cất nó ở chỗ nào mà thôi). Còn giả mạo chữ  ký của Giáo Sư Ron C chỉ là “chuyện nhỏ” mà thôi!

Câu chuyện còn dài. Đến đây tự nhiên tôi nhớ lại chuyện vui nho nhỏ hồi khoảng cuối thập niên 1980.  Mùa Đông, trên đường tôi ra xe để về nhà dự lễ sinh nhật con trai út, tay trái xách túi vải chứa các “assignments”, tay phải xách cái cặp da. Trong cái hành lang nhà trường, gặp ngay 5 anh chàng học trò cao lêu nghêu. Một chàng lấy tay vớ ngay cái mũ len của tôi và chuyền đi, chuyền lại với các chàng khác như chơi “foot ball” vậy. Tôi cứ vậy mà đi. Ra đến cửa chính, tôi phải hô to: “Bọn nhất quỷ nhì ma, trả lại cho ta cái mũ len!”

Các yiêng hùng trả đũa: “Tụi em chỉ trả Thầy cái mũ này, nếu ngày mai Thầy không cho cái “term test” quá khó”.

May mắn là tôi có mũ để ra xe cho đỡ lạnh tai, lạnh đầu.

Chàng út của tôi lúc đó mới 8 tuổi, bây giờ đã 43 và đang làm việc tại New York City, ra khỏi tầm tay của bố mẹ. Thời gian qua mau!

Đàm Trung Phán

Nov. 13, 2022

Một ngày cuối thu âm u.

VIÊN NGỌC QUÝ – Lâm Ngữ Đường

Nguồn: Internet


Lâm Ngữ Đường (Lin Yutang) sinh năm 1895 tại Trịnh Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, mất năm 1976 tại Hồng Kông, thọ 81 tuổi. Ông học rất giỏi, năm 16 tuổi được học bổng của Mỹ chuyên về tiếng Anh rồi vào Đại học Harvard và đậu Tiến sĩ văn chương Anh. Làm nghề viết báo, có tiền, ông sang Đức, học tiếng Đức, xin được học bổng vào học tại Đại học Leipzig và đậu Thạc sĩ triết học Đức. Dưới thời Trung Hoa Dân Quốc (1911- 1949), ông về nước, sống bằng nghề làm báo với sự cộng tác của Lỗ Tấn. Năm 1948, thấy Mao Trạch Đông thắng thế, Tưởng Giới Thạch phải chạy ra đảo Đài Loan, biết mình không thể sống với CS được, ông trở về Mỹ rồi lúc về già sang Hồng Kông, sống tại Hồng Kông mấy năm cho tới lúc mất vì con cháu ông có nhiều người cũng sống về nghề làm báo và điện ảnh ở đấy. “The Jade Goddess” là một trong những truyện ngắn rất nổi tiếng của ông.  

***

Cuộc hành trình ngược dòng sông Dương Tử tuy vất vả nhưng rồi cuối cùng tôi cũng tìm đuợc tới nhà vị quan hồi hưu gần thành Trường Thủy. Vị đại thần này là một nhà sưu tầm đồ cổ nổi tiếng. Người ta kể rằng khi còn tại chức, ngài thường dùng quyền lực để chiếm đoạt các tác phẩm có giá trị. Nếu ưng ý một tác phẩm nào đó, ngài phải dùng mọi cách để có cho bằng được. Bởi vậy kho tàng của ngài gồm nhiều thứ vô giá hiếm thấy trên đời.

Do người bạn có uy tín giới thiệu, lại kèm theo cả thư gửi gấm nữa nên tôi được chủ nhân vui lòng tiếp tại căn phòng sang trọng của dãy lâu đài phía tây. Trong khi đàm đạo, qua khung cửa sổ nhìn ra vườn, tôi loáng thoáng thấy có những nụ đào đang chúm chím đơm bông, và trong lồng kính hình dáng của một chiếc bình cổ màu huyết bò trông đẹp tuyệt hảo. Tôi đề cập tới kho tàng danh tiếng. Chủ nhân mỉm cười nhã nhặn:

– Hôm nay nó nằm trong tay người này, 100 năm sau lại thuộc về tay người khác, có ai làm chủ được cả 1 kho tàng nghệ thuật quá 100 năm đâu. Thật ra, nếu đúng là một bảo vật, mỗi tác phẩm phải có đời sống riêng của nó. Nghĩa là nó có sự sống và có linh hồn?

– Đúng vậy. Bởi vì người nghệ sĩ đã đổ vào đấy biết bao nhiêu công phu, truyền cho nó sự sống, giống như người mẹ đã truyền những giọt máu và hơi thở của mình cho cái bào thai đang nằm trong bụng. Họ đem tâm hồn họ vào trong tác phẩm, bởi vậy nên tác phẩm của họ sống và có linh hồn. Ngài dừng lại một lát rồi tiếp:

– Thư của người bạn giới thiệu ông là người thích cổ vật. Lát tôi sẽ cho ông coi pho tượng vị nữ thần bằng ngọc quý nhất của tôi.

Người hầu bưng nước lên. Sau tuần trà, vị quan hồi hưu đứng dậy, dẫn tôi lên tầng cuối cùng của ngôi đài cao chứa các báu vật. Trong khi đi qua cầu thang lát đá hoa ở các tầng dưới, tôi thấy không biết bao nhiêu các bảo vật khác được giữ gìn, chăm sóc trong các tủ kính. Riêng pho tượng “có linh hồn và có đời sống” thì một mình nó chiếm một gian ở tầng trên cùng, trong một lồng kính gắn liền với chiếc bệ làm bằng cẩm thạch. Cả lồng kính lẫn chiếc bệ đều được bảo vệ kiên cố bằng các song sắt mạ kền sáng loáng. Tôi nghĩ, trộm đạo khó lên được tới đây, mà dù có vào được trong phòng thì cũng khó xoay sở.

– Đó, pho tượng nữ thần của tôi đó, ông ngắm kỹ đi và nhớ nhìn vào đôi mắt.

Đó là một pho tượng nho nhỏ cao khoảng 55 phân, ở thế đứng, làm bằng loại ngọc gì trắng muốt ẩn các vân màu xanh nhạt theo từng nếp áo, mô tả một thiếu phụ cực kỳ xinh đẹp với gương mặt có vẻ bi thảm. Một cánh tay nàng hơi giơ lên, chới với đưa ra đằng trước như vẫy gọi, như đau đớn, như từ biệt; còn cái đầu và cánh tay kia thì ngả sang một bên, như sợ hãi, như trốn chạy. Đặc biệt, cặp mắt nàng ảm đạm dường như vương vấn một cái gì đó cực kỳ đau khổ, nuối tiếc. Tôi rùng mình. Hay đây là Phật bà Quán Thế âm Bồ tát giáng thế?

Tôi vừa nghĩ như thế thì bỗng có cảm giác pho tượng mang sắc thái của sự cao quý tuyệt đỉnh, ánh mắt thiết tha chia sẻ những nỗi đau thương đối với nhân loại. Nhưng khi tôi nghĩ đó chỉ là một con người thật bằng xương bằng thịt, gánh chịu những nỗi đau khổ của trần gian thì tôi lại thấy đôi mắt dường như xót xa, sâu lắng. Lạ lùng, với một khối ngọc chỉ lớn hơn 5 tấc, người nghệ sĩ đã truyền vào đấy cả một linh hồn.

– Tôi đã phải đánh đổi bao nhiêu ruộng đất phía tây cho chùa Kê Thanh (Tiếng gà gáy sáng) mới có được pho tượng này đó ông!

– Tại sao chùa đó lại có, thưa ngài?

– Nghe nói do một vị nữ tu truyền lại từ nhiều đời trước.

– Lạ lùng, 1 pho tượngngọc vô cùng giá trị lại nằm trong tay một vị nữ tu. Thú thật với ngài, tiểu sinh kể ra cũng có chút ít hiểu biết về các cổ vật, nhưng chưa từng thấy 1 pho tượng nào nghiêm túc như vậy.

– Ông dùng hai tiếng nghiêm túc tôi rất hãnh diện. Từ khi có pho tượng, tính nết tôi thay đổi, không còn tham lam vơ vét như trước. Nhiều khi tôi rất ân hận về những việc mình đã làm. Còn riêng lý do tại sao vị nữ tu đó có pho tượng thì xin mời ông xuống phòng khách sơi nước, tôi sẽ kể lại sự tích cho ông nghe. Chúng tôi đi xuống bên dưới.  

– Cách đây đã lâu, lâu lắm, hàng bao nhiêu năm không ai biết rõ, Mỹ Lan (Mei-Lan) là một vị tiểu cô nương cực kỳ xinh đẹp, con gái quan khâm sai đại thần họ Trương người phủ Khai Phong. Cơ ngơi riêng của ngài ở đó. Quan khâm sai lúc ấy giữ chức vụ Đại pháp quan, thay mặt nhà vua trông coi về hình pháp, pháp luật của tất cả các tỉnh phía Bắc, trong đó có phủ Khai Phong, quê hương của ngài. Đại pháp quan là người nghiêm khắc, khó tính về hình luật nhưng lại rất yêu cô con gái cưng và có lòng bao dung, che chở đối với họ hàng. Một hôm, có một đứa cháu họ ở xa do mẹ dẫn tới. Cậu ta tên Phố, tức Trương Phố (Chang Po) vì cùng họ Trương, vai anh của Trương Mỹ Lan. Trương Phố 16 tuổi, hơn Mỹ Lan 2 tuổi, khỏe mạnh, nhanh nhẹn, trông rất xinh trai. Vì nhà quá nghèo nên người mẹ đưa con tới nương nhờ gia đình vị chú họ ở nơi kinh thành, mong học được một nghề nào đó, sau này có kế sinh nhai. Cùng tuổi thiếu niên, hai đứa trẻ làm quen với nhau dễ dàng. Trương Phố thường kể cho cô em họ khuê các nghe những chuyện nơi thôn dã, đối với cô là rất lạ nên cô rất thích. Trương Phố là cháu nên phu nhân có lòng ưu ái, đặt cậu lên địa vị tiểu quản gia, phụ với vị quản gia đã lớn tuổi, trông nom kẻ ăn người ở trong nhà. Lúc đầu, phu nhân rất tin ở cậu. Sau, bà thấy ngã lòng. Bởi vì với địa vị như vậy nhưng Trương Phố lại thường hay quên hoặc không để ý tới trách nhiệm. Cậu cũng chẳng biết la mắng các gia nhân phạm lỗi nữa. Cuối cùng, chán quá phu nhân bèn đổi cậu ra trông nom những người đang làm ngoài vườn cho xong chuyện. Ấy vậy mà Trương Phố lại có vẻ thích. Bản chất của cậu là một nghệ sĩ, giàu óc sáng tạo, có tâm hồn nhạy cảm. Suốt ngày cậu lang thang ngắm cây cỏ, hoa lá, lắng nghe tiếng chim hót véo von ở trên các ngọn cây cao hay thong thả dạo chơi trên những lối đi ngoắt ngoéo bên cạnh những dòng suối giả, những hòn non bộ hay các hồ nhân tạo. Cậu tự vẽ tranh các cảnh đó không người chỉ dẫn. Những lúc rảnh rỗi – mà luôn luôn là rảnh rỗi – cậu vẽ chán, lấy đất sét nặn các con vật rất đẹp, giống y như thật. Thỉnh thoảng cậu cũng làm những chiếc đèn lồng tuyệt đẹp, kiểu cách do cậu nghĩ ra, khác với những kiểu đèn bán ở ngoài phố.

Đến năm Trương Phố 18, Mỹ Lan 16, chàng vẫn sống nhàn hạ chưa tỏ ra chú tâm về một nghề gì. Người chàng cao lớn, tính nết hòa nhã, ăn nói lại rất lễ độ nên mọi người trong dinh đều rất quý mến. Quan khâm sai tin rằng cậu có tài, còn riêng Mỹ Lan thì một tình cảm nào đó nẩy nở, quyến luyến không thể rời xa. Gặp chàng, nàng sung sướng pha chút e thẹn, song nếu vắng chàng nàng thấy bâng khuâng mặc dầu nàng hiểu Trương Phố là anh họ mình, giai cấp lại quá chênh lệch, không thể tiến tới hôn nhân. Một hôm, Trương Phố thưa với phu nhân rằng chàng đã xin được một chân học nghề thợ ngọc tại một cửa tiệm danh tiếng, lớn nhất trong tỉnh. Chàng xin phép phu nhân cho chàng tới học, cơm nước ăn tại tiệm, chỉ buổi tối mới về nhà ngủ, sáng lại đi, chàng rất thích nghề thợ ngọc.

– Được lắm, rất tốt, ta có lời mừng cho con.

Phu nhân tự nghĩ Trương Phố xinh xắn, khéo tay mà Mỹ Lan lại con gái đã lớn, không nên để chúng có dịp gặp gỡ nhau nhiều. Mà đúng như vậy, Trương Phố mắc đi học việc, Mỹ Lan ở nhà suốt ngày rất buồn. Mỗi tối chàng về, thường là rất muộn, nàng mừng ra mặt. Cứ mỗi khi chàng về, nàng luôn luôn lấy cớ này cớ nọ xuống dãy nhà sau của các gia nhân, gặp chàng, hỏi han một vài câu chuyện. Phu nhân thấy vậy một hôm bèn gọi nàng vào trong phòng, nhỏ nhẹ giải thích:

– Mỹ Lan, con nên nhớ rằng con đã lớn. Mặc dầu anh Phố là anh họ thật nhưng hai đứa nên giữ gìn, không nên đứng gặp gỡ, chuyện trò với nhau nhiều kẻo kẻ ăn người ở hiểu lầm người ta dị nghị, không tốt.

– Thưa mẹ vâng ạ. Buổi tối hôm ấy Mỹ Lan không dám xuống nhà dưới nữa mà hẹn gặp người anh họ ở ngoài vườn. Trời dần về khuya, 2 người ngồi với nhau trên chiếc ghế đá dưới ánh trăng sáng lung linh. Nàng thong thả kể cho anh nghe những lời mẹ dạy rồi ngây thơ hỏi:

– Chúng ta là anh em họ, tại sao mẹ lại cấm không cho gặp nhau, chuyện trò với nhau ? Người con trai lộ vẻ suy nghĩ:

– Đúng đấy em ạ, bởi vì cả anh lẫn em đều đã lớn, không nên gặp gỡ. Người con gái mở to đôi mắt, nhìn chàng chăm chăm:

– Anh nói thế nghĩa là sao, em không hiểu?

– Nghĩa là… nghĩa là em càng ngày càng lớn càng xinh đẹp, càng có một cái gì đó quyến luyến, thu hút anh. Anh muốn nói là… nghĩa là có một cái gì đó làm anh say mê em, thèm khát em. Nói chung, một cái gì đó khiến anh sung sướng khi được gần em và thẫn thờ đau khổ khi không gặp em.

– Thế bây giờ, đang ngồi với em, anh có sung sướng hay không?

– Có, rất sung sướng, hạnh phúc!


– Tại sao vậy? Người thanh niên không biết trả lời thế nào. Chàng choàng tay lên vai nàng, áp mặt vào mặt nàng:

– Tại vì… tại vì anh hiểu rằng cả linh hồn lẫn tình cảm chúng ta đã thuộc về nhau, không thể tách rời ra được nữa Mỹ Lan ạ. Người con gái ngồi hơi xích ra, gỡ nhẹ tay chàng:

– Nhưng mình là anh em họ, không thể lấy nhau…

– Đừng nói như vậy, đừng nghĩ như vậy.

– Bắt buộc cả hai chúng ta đều phải hiểu như vậy.

Người con trai đâm liều, chàng ôm ngang thân hình nàng, kéo nàng ngồi lại gần mình:

– Thôi kệ, muốn đến đâu thì đến, anh chẳng cần hiểu làm gì cả. Chỉ biết rằng từ khi khai thiên lập địa anh đã yêu em và em yêu anh. Trái tim chúng ta đã thuộc về nhau, linh hồn chúng ta thuộc về nhau, mãi mãi, trọn đời….

Vừa nói chàng vừa áp môi vào mặt nàng, vào cổ nàng rồi nâng mặt nàng lên, đắm đuối hôn trên môi nàng. Người con gái bàng hoàng, sửng sốt. Nàng ú ớ cố gỡ nhưng một sức mạnh nào đó lại làm cho nàng cũng níu lấy chàng, hé môi chờ đợi. Khi đã thoát ra được, nàng ù té chạy vào trong nhà, lên phòng mình, đóng ập cửa, chui vào trong mền, trùm tới tận đầu kín mít như người bị bệnh. Ngoài vườn, ánh trăng vẫn sáng lung linh. Sự bộc phát của tình yêu trong tuổi trẻ là một cái gì đó dữ dội. Nó ghê gớm, nó cuốn lút, nó xoáy cuộn. Nhất là khi nó bị một trở ngại nào đó ngăn cấm, cản trở. Suốt đêm hôm ấy Mỹ Lan nằm trong mền cứ trằn trọc suy nghĩ. Nàng nhớ tới lời dạy của mẹ nhưng cũng sung sướng nhớ lại các cảm giác cuồng nhiệt khi hai làn môi áp vào nhau, điên cuồng, khờ dại. Và, cũng từ đêm ấy, con người nàng dường như thay đổi hẳn. Nàng tránh không dám gặp Trương mà Trương cũng tránh không gặp nàng. Nhưng tình yêu càng cố đè nén bao nhiêu lại càng bộc phát bấy nhiêu. Được 3 bữa, người con gái chịu thua, nàng tìm xuống dãy nhà ngang gặp chàng và trở thành một con người khác: con người của tình cảm, không phải của lý trí. Theo phong tục Trung Quốc thời cổ, cha mẹ có quyền gả con gái cho một nhà trai nào đó mà họ cho là môn đăng hộ đối, không cần phải hỏi ý kiến người trong cuộc. Nhưng riêng đối với quan khâm sai, phần vì chỉ có một mình Mỹ Lan là con gái duy nhất, ngài và phu nhân rất cưng chiều; phần vì nàng nhất định từ chối, lấy cớ còn nhỏ nên việc hôn nhân cứ rùi rắng, nay lần mai lữa nên ngày tháng cứ qua dần. Về phần Trương Phố, chàng tiếp tục học nghề thợ ngọc. Như một nghệ sĩ có tài, chỉ 3 năm sau chàng đã thông thạo và đã bắt đầu nổi tiếng. Ông chủ tiệm ngọc rất quý trọng chàng. Chính ông cũng phải khâm phục về những món đồ do chàng làm ra, nó rất đặc biệt, vượt xa mọi người khác, không ai sánh bằng. Những bậc quyền quý dần dần biết tiếng, năng lui tới tiệm ông, họ mách bảo nhau đặt hàng thì phải đòi cho bằng được ông thợ Trương Phố làm. Trong số các khách quen có cả phu nhân quan khâm sai nữa. Một hôm, sắp tới kỳ khánh thọ Hoàng hậu trong triều, quan khâm sai có ý tìm một vật thật quý dâng lên Hoàng hậu. Ngài suy nghĩ kỹ và cho người lùng khắp mọi nơi, kiếm mua được một khối ngọc cực tốt. Với sự góp ý của phu nhân, ngài đích thân tới tiệm xem xét các món đồ do Trương Phố đã thực hiện. Ngài rất hài lòng và tin tưởng ở tài năng của chàng:

– Này con, đây là một dịp đặc biệt, ta hoàn toàn trông cậy vào con. Bảo vật đó sẽ được dâng lên Hoàng hậu. Quà mừng của quan khâm sai dâng vào triều không phải chuyện nhỏ. Nếu con làm tốt, được Hoàng hậu vừa ý, ngỏ lời khen, danh tiếng con sẽ lừng lẫy, tiền bạc sẽ đến với con không gì sánh nổi.

– Vâng ạ. Quan khâm sai ra lệnh cho gia nhân đem khối ngọc tới. Trương Phố xem xét rồi thưa rằng với khối ngọc tốt như vậy, chàng có thể tạo một pho tượng Phật bà Quán thế âm Bồ tát khác hẳn với các pho khác từ trước tới nay, chắc chắn Hoàng hậu sẽ hài lòng.

– Hay lắm, tượng đức Nữ Bồ tát giàu lòng quảng đại sẽ rất hợp ý Hoàng hậu.

– Nhưng khi con làm, xin thúc phụ tin tưởng ở con, đừng cho người khác đến quan sát, con làm không nổi.

– Được, ta chấp nhận. Ông chủ tiệm chuẩn bị cho chàng một căn phòng riêng, cấm không cho ai được lui tới. Trương Phố bắt đầu vào việc. 3 tháng sau, chàng hoàn tất. Pho tượng có hình dáng theo quy ước nhưng đẹp tuyệt trần với khuôn mặt và thân hình nhang nhác giống người chàng yêu quý. Đặc biệt, hai chiếc khuyên đeo hai bên nhánh tai pho tượng có thể xoay tròn được, không có chỗ ráp nối. Điều này cực kỳ công phu, tỉ mỉ. Những đường nét thanh tú do Trương Phố sáng tạo buộc mọi người phải xuýt xoa khen ngợi. Riêng quan khâm sai thì rất sung sướng, ngài nghĩ đây là một tác phẩm không tiền khoáng hậu, ngay trong cung từ trước đến nay cũng không hề có. Ngài trả công cho tiệm rất hậu và thưởng Trương Phố một gói bạc thật lớn ngoài sức tưởng tượng của chàng.

– Đẹp lắm, Trương Phố! Danh tiếng con sẽ lừng lẫy. Khi ấy con sẽ nghĩ rằng đây là dịp may ta đã đem đến để con có dịp thi thố tài năng của mình. Nhưng… sao ta thấy dường như nét mặt pho tượng hơi giống với con Mỹ Lan nhà ta? Trương Phố trả lời một cách hãnh diện :

– Thưa vâng, tại vì em Mỹ Lan đẹp nên trông giống pho tượng. Sau khi dâng lên Hoàng hậu, món quà được Hoàng hậu hết lời khen ngợi và truyền cho quan khâm sai chuyển phần thưởng của Hoàng hậu cho người thợ ngọc. Danh tiếng Trương Phố nổi như cồn. Nhưng tiếng tăm, tiền bạc đối với chàng thảy đều vô nghĩa. Cái mà chàng luôn luôn mơ ước không nằm trong tầm tay. Chàng mất hứng thú làm việc. Về phần Mỹ Lan, nàng bị mọi người thì thầm rằng đã 21 tuổi mà chưa chịu lập gia đình. Quan khâm sai và phu nhân quyết định nhận lời một chỗ sang trọng, thế lực không kém gia đình ngài. Mỹ Lan không viện cớ gì trì hoãn được nữa, lễ vấn danh cử hành trọng thể, sau đó sẽ tới lễ cưới. Quá thất vọng, người con gái bàn với người con trai:

– Chúng ta phải trốn đi thật xa anh ạ. Trốn tới nơi nào không ai biết được gốc gác của mình. Anh sẽ làm nghề thợ ngọc còn em thì cũng có một số nữ trang, chúng ta không thể đói được. – Anh cũng nghĩ thế. Nếu trốn ta phải trốn trước, đừng để nước đến chân rồi mới nhảy e sẽ không kịp. Họ chuẩn bị, hẹn nhau nửa đêm hôm sau sẽ gặp gỡ tại khu vườn phía sau, leo qua bức tường để trốn. Không may cho họ, một người đầy tớ già vẫn giữ nhiệm vụ canh gác ban đêm trông thấy. Ông ta rất kính trọng Mỹ Lan và quý mến Trương Phố nhưng có bổn phận phải bảo vệ danh dự gia đình nhà chủ, bèn giữ lại:

– Thưa tiểu thư, xin tiểu thư vui lòng để tôi vào bẩm với phu nhân đã. Nếu phu nhân cho phép, bấy giờ tôi sẽ mở cổng mời tiểu thư đi.

– Không, ta cần đi gấp, không thể xin phép mẹ ta!

– Tôi là kẻ ăn người làm, phải giữ thanh danh cho nhà chủ.

– Hãy để ta đi, ta chính là chủ của ngươi.

– Vâng, tiểu thư là chủ nhưng tôi phải mời tiểu thư cùng vào để tôi bẩm với phu nhân đã.

Hai bên giằng co nhưng không dám lớn tiếng vì sợ làm kinh động mọi người trong dinh. Trương Phố cùng đường, đành đánh liều ôm chặt lấy ông già, một tay bịt miệng ông ta với ý định ngăn cản để Mỹ Lan leo lên tường trước, nàng thoát thân xong chàng sẽ leo sau. Không ngờ ông già cũng là người khỏe, gỡ tay chàng ra được, bèn quay lưng định chạy để khua mõ báo động. Trương Phố bắt buộc phải chạy theo, nắm lấy ông ta không cho tri hô. Bất ngờ, ông già mất đà, ngã đâm sấp xuống đất đập đầu phải một cục đá lớn. Một tiếng hự vang lên, thân hình ông ngã vật, chân tay dãy dụa rồi nằm im bất động. Trương Phố hoảng hốt ngồi xuống xem xét vết thương. Một dòng máu nhỏ rỉ ra dưới chân những sợi tóc bạc. Ông ta ngã trúng chỗ phạm, đã chết. Mặt Mỹ Lan tái ngắt:

– Làm thế nào bây giờ hả anh? Trương Phố cũng run lập cập:

– Anh cũng không biết. Phải trốn đi ngay lập tức kẻo rất nguy hiểm.

– Nhưng… để xác già Tài thế này hay sao?

– Cũng đành phải vậy. Trốn mau thôi kẻo người khác biết thì chết…

Người con gái vừa gạt nước mắt vừa run rẩy nhặt chiếc túi xách rớt trên mặt đất. Trương Phố đỡ nàng lên đầu tường rồi chàng leo sau. Thoát sang được phía bên kia, họ bèn vội vàng trốn đi. Gần trưa hôm saungười ta mới phát hiện ra xác chết của ông già giữ vườn, bèn tri hô lên và vào bẩm với ông bà chủ. Đến khi coi lại, cả Trương Phố lẫn Mỹ Lan đều đã biến mất. Quan khâm sai đau đớn ra lệnh cho người quản gia: – Cần giấu kín việc này trước đã. Còn hai đứa khốn nạn làm bại hoại gia phong… Ngài giận tái mặt, ánh mắt gần như toé lửa:

– Ta sẽ ra lệnh đào bới khắp mặt đất, phải bắt bằng được cả hai đứa đó đem về chặt đầu.  

Về phần đôi thanh niên nam nữ, sau khi đã trốn ra khỏi Khai Phong họ cải trang thành hai người lái buôn nghèo khổ rồi cứ đi, đi mãi, tránh những nơi đông dân cư. Họ tránh cả các bến sông lớn vì sợ bị đón bắt. Cuối cùng, đi không biết đã bao nhiêu đường đất, họ tới bờ sông Dương Tử, con sông ranh giới giữa miền Bắc và miền Nam. Đến đây coi như đã thoát, họ mừng rỡ nhưng vẫn thận trọng thuê thuyền ở một bến vắng, qua sông rồi lại đi nữa, hơi chếch sang phía tây. Mấy tháng sau, thấy đã xa lắm, Trương Phố bàn với vợ:

– Nghe nói ở Giang Tây có nhiều ngọc tốt. Hay hai vợ chồng mình đến đó?

– Trời đất ơi, chàng chưa sợ hay sao mà còn nói tới ngọc? Không, phải đi xa nữa và đừng nghĩ tới chuyện đó.

– Nhưng mình đã bàn với nhau, em có nữ trang, anh làm nghề ngọc để sống.

– Đấy là trong trường hợp mình trốn đi bình thường. Đằng này già Tài đã chết, mọi người đều tin chắc mình giết ông ta, việc truy lùng càng nghiêm ngặt hơn. Em nghĩ mình phải đi thật xa xuống miền Nam, tới một nơi nào đó hẻo lánh, anh sẽ làm các thứ tầm thường như đèn lồng hay nặn các con vật bằng đất sét để bán thì không ai nhận ra được.

– Sao, anh mà làm đèn lồng và nặn các con vật đất sét?

– Đúng thế, em rất lo sợ. Chúng ta mang án sát nhân không thể chối cãi vào đâu được. Anh cần nghĩ tới mạng sống của cả hai vợ chồng.

– Em hơi lo xa quá đấy. Giang Tây cách miền Bắc tới hàng ngàn dặm, họ nói tiếng Nam, chẳng ai để ý tới hai vợ chồng một tên thợ ngọc nghèo nàn. Mà họ cũng không biết mình là người Bắc…

Mỹ Lan tnấy hợp lý, nàng đấu dịu:

– Thôi được, anh làm nghề ngọc cũng được nhưng ta cần đi xa hơn nữa, và khi làm thì anh phải hạ thấp mức độ, đừng tạc những tượng đắt giá kẻo người ta biết. Họ không dám sống ở Nam Xương, thủ phủ của tỉnh Giang Tây mà xuống Kế An, một thị trấn nhỏ nằm hơi xích về phía biển, gần giáp với tỉnh Giang Tô. Ở Giang Tây có một loại đất sứ (porcelain) và loại đất sét trắng (white kaolin) nổi tiếng. Kế An tuy hẻo lánh nhưng vẫn thuộc địa phận tỉnh Giang Tây, có thể mua được hai thứ đó một cách dễ dàng. Người vợ nhắc nhở chồng:

– Anh nên đổi sang làm đồ sứ. Cần lắm thì nặn những tượng bằng đất sét trắng, bảo đảm hơn nhiều.

– Đã lo thì ngay cả làm đồ sứ hoặc đất sét trắng họ vẫn nhận ra anh. Anh đã nói đến đây là xa lắm rồi, chẳng ai biết hai đứa chúng mình. Anh sẽ giấu kín tên tuổi.

Với vốn liếng của vợ và số tiền mình đã để dành được khi còn làm trong tiệm ở phủ Khai Phong, Trương Phố mua một căn nhà nhỏ ở ngoài ngoại ô, sau đó mua một số đá ngọc để mở một cửa tiệm nho nhỏ, vừa làm vừa trưng bày để bán. Hàng ngày Mỹ Lan áy náy không yên tâm vẫn thường quan sát các phẩm vật do chồng làm ra, và nàng cằn nhằn:

– Khổ, anh lại cứ qnen tay làm đẹp thế này là hết sức nguy hiểm. Phải làm kém đi mới được.

Trương Phố nghe lời vợ, bèn làm những vật thông thường như vòng cẩm thạch, các xâu chuỗi và nhẫn các loại. Nhưng ngọc là thứ đá quý thường ở dạng khối, phải dựa theo kích thước để tạc các vật lớn trước, sau đó mới sử dụng mảnh vụn vào việc làm các đồ vật lặt vặt. Mà, muốn tạc vật lớn tức là đã bước vào địa hạt nghệ thuật, phải có năng khiếu và sự sáng tạo, không thể làm kém đi được. Mỗi nghệ sĩ có khả năng riêng của mình, người không có tài muốn có tài khó khăn thế nào thì người có tài muốn hạ thấp cái tài đó xuống cũng khó khăn như thế. Trương Phố đã lén vợ làm những con khỉ ăn cắp trái đào hoặc bẻ trộm ngô với nét mặt ranh mãnh, dễ thương hoặc làm những con chó ngồi ngủ gật nhắm mắt để đấy, những con mèo con thè lưỡi nnớ mẹ. Lúc đầu Mỹ Lan có vẻ không bằng lòng, rầy la luôn miệng. Sau, hàng bán chạy quá nàng cũng lờ đi coi như không biết.

– Ôi, anh yêu, anh lại bắt đầu nổi tiếng rồi đấy, em rất lo ngại. Tụi mình sắp có tin mừng, anh nên thận trọng.

Tin mừng? A, một đứa con!  Trương Phố chợt hiểu và chàng sung sướng reo lên, ôm chầm lấy vợ giống như một đêm nào đó dưới ánh trăng sáng lung linh:

– Ô, 1 chú bé xinh xắn! Bây giờ thì mình sắp có thêm 1 nhân khẩu nữa, không còn cu ky 2 đứa như trước.

– Và tụi mình cũng ăn nên làm ra nữa, hàng bán được quá! Đúng là họ ăn nên làm ra thật. Chỉ mới hơn 1 năm kể từ ngày tiệm Bảo Hồ được thành lập, danh tiếng các đồ ngọc của tiệm Bảo Hồ đã nhiều người biết. Khách hàng từ những nơi lân cận đến mua buôn phải tranh nhau đặt tiền trước vì ông chủ tiệm làm không kịp. Rồi các khách du lịch từ Nam Kinh xuống hay Giang Tô lên, đi qua Kế An thế nào cũng phải dừng lại, ghé tiệm Bảo Hồ mua một vài vật làm kỷ niệm. Chẳng bao lâu Kế An trở thành một thị trấn nổi tiếng với ngọc Bảo Hồ, ai cũng muốn tới. May mắn hơn nữa, ít lâu sau Mỹ Lan sinh được một đứa con trai xinh xắn. Vợ chồng nàng trở tnành khá giả, đã có bát ăn bát để Một hôm, 1 người đàn ông bước vào trong tiệm sau khi đã quan sát các đồ ngọc bầy trong tủ kính bên ngoài:

– Ông có phải là ông Trương Phố, bà con với quan khâm sai họ Trương ở phủ Khai Phong miền Bắc không?

Trương Phố giật mình ngửng lên, lắc đầu:

– Không, tôi không phải người phủ Khai Phong.

– Nếu vậy tại sao ông nói tiếng Bắc?

– Chẳng lẽ cứ người Khai Phong mới nói tiếng Bắc? Còn thiếu gì nơi khác nữa.

– Ông đã có vợ con chưa? Trương Phố rất run nhưng vờ nổi giận:

– Có hay không là việc của tôi, không liên quan gì tới ông, tại sao ông lục vấn?

Người đàn ông xin lỗi rồi rút lui. Lúc ấy Mỹ Lan đang ở trong nhà trong, nghe cách nói chuyện hơi lạ bèn bế con nhìn qua khe cửa. Lúc người đàn ông đã đi khỏi, nàng lo lắng bảo chồng đó là tay lục sự làm trong tòa án dưới quyền cha nàng.

– Em lo lắm, chỉ sợ những đồ bằng ngọc đã làm lộ chân tướng hai đứa mình.

– Đừng sợ, rồi anh sẽ liệu. Bất quá ta lại chạy trốn lần nữa là cùng chứ gì!

Hôm sau, người đàn ông trở lại. Trương Phố làm bộ tức giận:

– Tôi đã nói tôi không biết Trương Phố nào đó của ông, tại sao ông cứ quấy rầy tôi mãi?

– Được lắm, nếu ông không biết để tôi kể cho ông nghe. Trương Phố là một tên sát nhân đang bị truy lùng. Y là cháu gọi quan khâm sai bằng chú họ, được ngài nuôi trong nhà, giúp đỡ mọi mặt. Nhưng y phụ ơn, quyến rũ vị tiểu thư con gái của ngài, trốn đi với nhiều nữ trang đắt giá. Người làm vườn biết, giữ y lại, y giết ông ta. Tội của y đáng chém đầu nhưng quan khâm sai thầy tôi ra lệnh bắt sống nên tôi chưa tiện ra tay. Tôi đã xem kỹ các đồ ngọc của ông, ngoài Trương Phố ra không ai làm nổi.

– Thiên hạ không có người này thì có người khác, đâu phải chỉ một mình Trương Phố của ông mới là người giỏi? Chán vạn người khác còn giỏi hơn nhiều.

– Hay lắm, nếu vậy xin ông cảm phiền nhờ phu nhân đem ra cho tôi một tách nước. Tôi biết mặt tiểu thư con gái quan khâm sai. Nếu không đúng bấy giờ tôi sẽ chịu lỗi với ông và xin đi ngay lập tức. Y đề nghị rất hợp lý, Trương Phố không viện lý do nào khác từ chối được nữa nên bèn nói dối:

– Nhà tôi mắc dẫn mấy đứa nhỏ sang bên quê ngoại ăn giỗ. Cỡ 3 hôm nữa nàng về xin mời ông tới.

– Được, tôi sẽ đợi.

Người đàn ông đi khỏi, vợ chồng Trương Phố bàn tính với nhau, vội vàng thuê một con thuyền, thu xếp các vật dụng, ngay đêm hôm ấy bỏ nhà, xuống thuyền chạy trốn xuôi theo dòng sông. Không hiểu do người hay do lòng trời bày ra cớ sự, sau hơn một tháng trốn chạy, bồng bềnh trên sông nước, tới Cẩm Sơn thì thằng bé bị bệnh, phải kêu nhà thuyền dừng lại bốc thuốc. Tiền cạn, Trương Phố đem đi bán một trong những bảo vật chàng đã làm: một con chó con bằng ngọc ngồi ngủ gật, một mắt nhắm, một mắt mở, một tai cúp, một tai vảnh trông rất tức cười. Người mua là ông Vạn, một lái buôn ngọc rất tử tế và thạo nghề:

– Chà, ngọc Bảo Hồ ở Kế An bên Giang Tây đây mà. Theo tôi biết, chỉ có tiệm Bảo Hồ ở Kế An mới làm được những thứ này. Tôi đang muốn mua nhưng nghe nói họ đã đóng cửa. Làm sao ông lại có được mà đem bán? Trương Phố trả lời một cách hãnh diện:

– Ông tinh lắm. Đúng là ngọc Bảo Hồ thật. Trước đây tôi có người bạn đi Kế An bèn nhờ anh ta mua gùm, bây giờ cần tiền đem bán.  

Cẩm Sơn hay còn gọi là Cam Tuyền (Kanshien) là một thị trấn khá sầm uất, phong cảnh một bên có sông, một bên có núi rất đẹp. Lúc ấy đã là mùa đông, đứa trẻ đã bình phục, Trương Phố không biết đi đâu bèn bàn với vợ ở lại nơi này, thuê một ngôi nhà thật xa và chàng đem bán một số đồ ngọc.

– Ủa, nhà còn tiền, chàng bán ngọc làm gì?

– Chúng ta lại mở một cửa hàng như ở Kế An.

– Mở tiệm đồ sứ, đồ đất sét trắng hay đồ ngọc?

– Đồ ngọc.

– Trời đất ơi, chàng vẫn còn nghĩ đến ngọc. Lần trước em đã khuyên can chàng không nghe lời, suýt bị nguy hiểm. Đã thoát đuợc rồi thì phải giữ gìn, đừng nghĩ tới ngọc nữa.

Rồi nàng nói thêm:

– Chẳng lẽ đối với chàng ngọc còn giá trị hơn cả tính mạng em và con? Hãy cứ từ từ, chờ cha bớt giận bấy giờ chàng trở lại nghề ngọc, em không dám giữ.

Trương Phố thấy vợ nói có lý nên bèn nghe lời. Chàng sắm các dụng cụ, lập lò nung rồi mua một số đất sứ đất sét loại tốt, đem về nặn hàng trăm tượng Phật và các thứ khác, phơi đây trong sân, chờ đưa vào lò. Nhưng những lúc rảnh, gặp các lái buôn buôn ngọc; trên con đường chạy dài từ các dãy núi lớn thuộc địa phận tỉnh Giang Tây, băng ngang tỉnh Quảng Đông, xuyên qua Kế An, Cẩm Sơn rồi tới các đồng bằng phì nhiêu ở phía đông nam, chàng rất thèm khát được sờ tay vào thứ đá quý đó. Một lần, lang thang vào trong thành phố, dán mắt trước các tủ kính sang trọng người ta bầy bán những vật bằng ngọc tầm thường, Trương Phố thấy xót xa đau đớn. Về nhà, ngó mấy đám tượng đất sét chưa nung ướt rình trông mới đáng chán làm sao! Chàng giận dữ vung tay đập bẹp mấy pho tượng, nghiến răng, hằn học:

– Đồ đất bùn! Tại sao ta phải nặn mi trong khi ta đã từng tạc được tượng ngọc trong cung đình? Ta, Trương Phố, ta muốn tạo nên những tác phẩm để đời, không cần đến tính mạng của ta nữa.

Biết chồng đã phát điên, Mỹ Lan ứa nước mắt khe khẽ lắc đầu:

– Chàng yêu nghề ngọc hơn chính bản thân mình, rồi những thứ đó sẽ giết cả hai chúng ta. Em biết nhưng không làm thế nào được.

Một hôm, người lái buôn tên Vạn hỏi thăm, tìm được nhà của Trương Phố, bèn mời chàng ra quán uống rượu với mục đích nhờ chàng xem giúp một vài món ngọc.

– Ông coi này, tôi mới đi Kế An về…

Ông ta vừa nói vừa mở một chiếc hộp gói ghém cẩn thận:

– Đúng là tiệm Bảo Hồ đã đóng cửa thật nhưng tôi mua được những thứ này ở một tiệm khác, họ cam đoan là ngọc Bảo Hồ. Nhờ ông coi giùm…

Mấy thứ đó quá vặt vãnh, Trương Phố làm bộ không biết gì về ngọc. Nhưng khi ông ta đưa ra con khỉ màu hồng ăn cắp trái đào thì chàng nổi giận thực sự:

– Hừ, đồ giả mạo!

– Vâng, có lẽ họ giả mạo thật. Tôi cũng hơi nghi vì thấy nó không tinh tế, không có hồn nhưng không có cách chi kiểm chứng được. Có lẽ ông rất rành về ngọc?

– Vâng, tôi biết chút ít.

– Tôi quên chưa nói với ông, hồi nọ ông để cho con chó, tôi bán giá gấp đôi mà họ vẫn tranh nhau mua. Nếu đem lên Nam Kinh chắc lại càng lời hơn nữa. Ông còn thứ nào đúng ngọc Bảo Hồ xin để cho tôi. Bất cứ giá nào tôi cũng mua.

Đầu óc Trương Phố đang bận rộn với con khỉ bị giả mạo nên không để ý đến lời ông Vạn nói. Chàng hậm hực:

– Tôi sẽ cho ông thấy một con khỉ thứ thiệt của tiệm Bảo Hồ thì phải như thế nào! Chàng dẫn ông Vạn về nhà và đưa cho coi con khỉ bằng hồng ngọc ăn cắp trái đào do chính chàng làm hồi trước. Ông ta năn nỉ đòi mua bằng được. Chàng nể lời bèn bán. Đem con khỉ lên Nam Xương, ông Vạn hí hửng khoe với các bạn cùng cánh nhà buôn. Họ rất ngạc nhiên:

– Lạ nhỉ, một chủ lò gốm tại sao lại có ngọc Bảo Hồ?

– Có lẽ ông ta còn nhiều, tôi đã mua được hai con.

Từ đấy tiếng đồn lan rộng trong cánh lái buôn vì họ đều rất thèm khát loại ngọc Bảo Hồ nay không còn nữa. Họ luôn luôn lui tới, bàn tán với nhau.  6 tháng sau, người lục sự đi với 3 người lính, tìm tới tận nhà bắt Trương Phố và Trương Mỹ Lan.

– Được, tôi sẵn sàng đi với các ông về Khai Phong chịu tội. Nhưng đường sá xa xôi, các ông cho phép tôi thu xếp các món đồ quý.

– Còn tôi thì cũng phải đem theo đồ dùng cho con tôi. Mấy người nên nhớ dù sao nó cũng là cháu ngoại quan khâm sai. Nếu mấy người bức bách, tôi không đem đủ, nó đau ốm dọc đường mấy người chịu trách nhiệm.

Viên lục sự đã được quan khâm sai ra lệnh đối xử tử tế nên cũng e dè không dám hối thúc. Còn mấy người lính, thấy “ông thầy” của mình như vậy họ chỉ canh gác sơ sơ ở phía bên ngoài, mọi việc đã có ông thầy quyết định. Vợ chồng Trương Phố thu xếp ở nhà trong. Chuẩn bị đâu đấy xong xuôi, người vợ cột chiếc ruột tượng đựng các bảo vật vắt chéo trên ngực chồng rồi mở chiếc cửa sổ phía vườn sau, khẽ hất hàm ra hiệu. Trương leo lên, phóng mình qua cửa. Nàng dặn:

– Nhớ đừng bao giờ đụng tới ngọc nữa! 

Chàng khẽ gật đầu. Khi chân đã chạm xuống đất, khu vườn có nhiều lối đi ngoắt ngoéo ăn thông với các ngõ xóm, chàng biết đã thoát thân nên bèn ngoái đầu nhìn lại, có ý từ biệt vợ và đứa con thân yêu suốt đời khó mong gặp nhau. Mỹ Lan đau đớn, thân hình dường như chới với, một tay hơi giơ lên cao, đưa ra đằng trước, đầu và cánh tay ngả sang một bên, như kiệt quệ, như níu kéo, như vĩnh biệt, như xót xa cho thân phận trăm năm cay đắng. Thấy họ thu dọn quá lâu, người lục sự nóng ruột đi vào thúc giục thì thấy Trương Phố không còn đấy nữa, chàng đã trốn mất.   

Mỹ Lan và đứa con nhỏ được đưa về Khai Phong. Mẹ nàng đã qua đời từ lâu, cha nàng nay đã quá già nhưng vẫn oai vệ. Khi nàng lạy chào, ngài im lặng, nét mặt buồn bã, trên môi không một nụ cười. Người nữ tì bế đứa trẻ đến bên cạnh, nàng cầm tay con giúp nó phủ phục làm lễ tương kiến ông ngoại, quan khâm sai tuy vẫn ngồi yên trên ghế nhưng nét mặt hơi có tươi lên được một chút. Đứa bé xinh quá, giống cha và mẹ như đúc. Ngài hơi nhúc nhích, chìa một ngón tay ra cho nó nắm lấy tay ông ngoại. Người lục sự cúi rạp đầu xuống đất nhận tội, trình bày lại việc đã để cho tên tội phạm trốn thoát. Ánh mắt ngài lộ vẻ đăm chiêu, dường như lưỡng lự:

– Thôi được, chuyện đó tính sau. Có lẽ ta chẳng bao giờ tha thứ cho nó, tiếp tục ra lệnh tìm nó đem về đây chém đầu. Hãy thông báo là ta treo giải thưởng cho người nào hoàn thành công việc. Đoạn, ngài lẩm bẩm như muốn xác định lại một lần nữa:

– Cái thằng vô ơn bạc nghĩa, phá hoại gia cang nhà ta, lại còn phạm tội giết người. Ta tiếp tục ra lệnh truy nã, không thể tha thứ cho nó.

Người đàn ông lại cúi rạp đầu tuân lệnh. Thời gian dần dần trôi qua, vẫn không có tin tức gì về Trương Phố. Một hôm, có quan tổng đốc họ Dương cai trị vùng Quảng Đông và đoàn tùy tùng trên đường tiến kinh, ghé phủ Khai Phong thăm bạn. Quan khâm sai rất mừng bèn ra lệnh làm một tiệc lớn thết đãi. Trong khi ăn uống, quan tổng đốc tiết lộ rằng tiến kinh lần này ngài có đem theo một pho tượng ngọc quý giá làm quà dâng lên Hoàng hậu, vì ý bề trên muốn có một pho tượng nữa cùng kích thước với pho tượng quan khâm sai đã dâng ngày nào cho đủ cặp. Tuy nhiên, theo ngài nghĩ, kích thước tuy giống nhau nhưng có lẽ pho của ngài đẹp hơn. Tất cả mọi người trên tiệc đều rất ngạc nhiên. Họ cho rằng pho tượng của quan khâm sai ngày trước là đẹp nhất rồi, không thể có pho nào đẹp hơn được nữa. Vị quan cai trị vùng Quảng Đông vuốt râu mỉm cười hãnh diện:

– Được, nếu quý bằng hữu không tin, lát tôi sẽ cho đặt ngay lên bàn này để quý vị nhận xét. Sau bữa tiệc, nữ tì dâng trà. Quan tổng đốc giữ lời hứa bèn bảo dẹp qua một bên rồi cho người hầu bưng vào một chiếc hộp lớn bằng gỗ quý, các góc cẩn ngọc. Đích thân ngài tự tay mở hộp và đặt lên bàn:

– Đây, pho tượng Nữ thần Từ bi (The Goddess of Mercy) của tôi đây, quý vị xem đi!

Mọi người trợn tròn mắt kinh ngạc. Ngay cả đứa nữ tì đang bưng khay trà cũng sửng sốt. Nó liếc mắt ngó trộm pho tượng rồi bí mật vào trong nhà báo với tiểu thư Mỹ Lan. Qua bức rèm mở hé, nàng đang dán mắt nhìn thật kỹ những đường nét tuyệt hảo, mặt tái mét, miệng lẩm bẩm nói như trong mơ: 

– Đúng, chính là chàng !…

– Vị nghệ sĩ nào mà khủng khiếp đến thế, thưa quan huynh? Quan tổng đốc cười kiêu hãnh, tay vuốt râu, cố tình chậm dãi để mọi người phải sốt ruột :

– Khoan đã, chuyện này hơi lạ, từ từ rồi tôi kể hầu quý vị. Ngài chiêu một miếng nước, sau đó mới hắng giọng cho thêm phần long trọng:

– Người nghệ sĩ ấy không phải là tay tầm thường. Chỉ hiềm một nỗi tôi không biết tên chàng nên không thể mách với quý bạn được !…

Rồi ngài bắt đầu kể:

– Tôi gặp chàng trong một trờng hợp đặc biệt. Đứa cháu gái phu nhân nhà tôi đi dự lễ cưới. Nó mượn của phu nhân nhà tôi một cặp vòng ngọc gia truyền, phu nhân tôi rất quý, ít dám dùng đến. Cặp vòng này hoàn toàn giống nhau, trên mặt khắc hình tứ linh theo kiểu cách riêng khó ai làm nổi. Chẳng may con bé lỡ tay làm vỡ mất một chiếc. Nó sợ lắm, khóc lóc rồi cho gia nhân đi khắp nơi tìm các thợ giỏi để làm chiếc khác vì nó biết cô mẫu rất tiếc. Nhưng ai xem xong cũng nói thật rằng họ làm không nổi. Cuối cùng, vị quản gia bèn bày kế rằng chỉ còn một cách duy nhất là dán yết thị ở nơi đông người như các tiệm trà hay các ngã tư chẳng hạn, treo tiền thưởng thật lớn may ra kiếm được người giỏi. Con bé nghe theo. Ít lâu sau, một người nghệ sĩ tự động tìm tới. Ông ta còn trẻ, ăn mặc tầm thường gần như nghèo khổ khiến con bé hơi thất vọng. Nó nghĩ một người có tài thì phải giàu hoặc ít nhất cũng có đời sống tương đối dễ chịu. Xem xong, ông ta hỏi: 

– Tiểu thư muốn làm một chiếc giống như thế này hay làm 2 chiếc đẹp hơn? Nó ngạc nhiên hỏi lại:

– Liệu tiên sinh có thể làm đúng như thế được không? Tiểu nữ sẽ thưởng thật lớn còn tiền công thì tiên sinh muốn tính bao nhiêu cũng được. 

Ông ta bật cười: 

– Đối với tôi việc đó chẳng có gì khó. Tôi đã từng tạc được cả các pho tượng ngọc trong cung đình. Nếu tôi làm xong, tiểu thư phân biệt nổi 2 chiếc với nhau hoặc có điều chi không vừa ý, chỉ chê một tiếng tôi sẽ không dám lấy công và sẽ bồi thường tiền ngọc đã dùng. 

Quả nhiên, sau khi làm xong, 2 chiếc vòng giống nhau y hệt, con bé rất mừng. Lúc nó đem trả, chính phu nhân nhà tôi cũng không phân biệt được chiếc nào cũ, chiếc nào mới. Nghe nó nói chuyện, tôi ngạc nhiên lắm, cầm lên coi thì cũng không phân biệt nổi. Tôi trách nó tại sao không hỏi kỹ danh tánh của vị tiên sinh đó, nó nói nó có hỏi nhưng ông ta chỉ trả lời:

– Tôi là kẻ không nhà không cửa, có chút chuyện riêng không được quyền nêu danh tánh. Khi nào cần, tiểu thư cứ cho người tới tiệm trà quen ở gần chợ, nhắn người thợ ngọc vô danh; tôi sẽ xin đến.

Quan tổng đốc ngừng lại một lát rồi tiếp:

– Khi biết đức Hoàng hậu muốn có một pho tượng nữa, tôi bèn nghĩ ngay tới vị tiên sinh đó bởi vì vẫn nhớ câu nói của ông ta: Tôi tạc được cả các pho tượng ngọc trong cung đình. Một mặt tôi cho đi tìm ông ta, một mặt ra lệnh cho các lái buôn ngọc suốt một dải trên con đường ngọc; từ Giang Tây xuống tới Quảng Đông phải tìm kiếm mua giùm tôi một khối ngọc cực tốt tôi có việc dùng. Quý vị biết không, khi vị tiên sinh đó tới, ông ta vẫn ăn mặc tầm thường, điệu bộ lấm lét như người phạm tội khiến tôi động lòng trắc ẩn. Tôi nói rõ ý mình và mô tả hình dáng pho tượng trước đây của Trương huynh đã dâng Hoàng hậu, ông ta lại càng tỏ vẻ sợ hãi hơn nữa. Nhưng khi nhìn thấy khối ngọc, mắt ông ta sáng lên như không thể rời ra được. Cuối cùng, ông ta ngồi xuống đăt tay lên khối đá khiến tôi hồi hộp. Tôi hỏi:

– Sao, đủ tốt không?

Ông ta ứa nước mắt:

– Bẩm thượng quan, suốt đời tôi chỉ mơ ước có lần được sờ tay lên một khối đá tuyệt vời như thế này. Tôi sẽ tạo nên một pho tượng vô tiền khoáng hậu ngay chính thượng quan cũng chưa từng thấy. Pho tượng đó sẽ vô giá, công lao của tôi cũng vô giá nên ngài sẽ không thể trả công được cho tôi. Tôi sẽ không nhận của ngài 1 xu nhưng bù lại, ngài phải để cho tôi được tự do làm theo ý mình trong khi thực hiện. Về phần khối ngọc, tôi xin lấy cái đầu của tôi ra bảo đảm là ngài sẽ ưng ý. Tự do? Tôi biết những người nghệ sĩ phải có tự do thì mới phát huy được trí tuệ, sáng tạo được những tác phẩm giá trị muôn đời. Bởi vậy tôi đồng ý và vị tiên sinh đó bắt tay vào thực hiện. 3 tháng sau – tôi nghĩ muốn xong ít nhất phải 5 hay 6 tháng – ông ta đã hoàn tất và đem lên phòng khách, đặt trước mặt tôi với vẻ hãnh diện: 

– Thưa đây, bẩm thượng quan, tác phẩm của tôi đây! Chao ôi, nhìn pho tượng tôi ngẩn ngơ, quả thật từ trước tới nay tôi chưa từng thấy một kiệt tác nào như thế. Trong khi tôi còn đang xúc động, ông ta bỗng đeo chiếc túi lên vai: 

– Thưa thượng quan, xin cám ơn ngài đã cho tôi có dịp thực hiện ý tôi muốn. Tôi là kẻ không nhà không cửa, không cần tiền bạc gì cả. Bây giờ xin phép ngài tôi đi.  Tôi ngớ người không hiểu ông ta nói gì, chỉ mang máng hiểu rằng ông ta sắp đi, nên bèn vội vã khua chân tìm đôi dép:

– Không, không, tiên sinh đừng đi, tiên sinh đừng đi! Ông ta bước nhanh như người chạy trốn. Khốn khổ, cái thân hình tôi hơi nặng nên khi tôi xỏ được đôi dép, ra đến bên ngoài thì ông ta đã biến mất. Tôi hối thúc gia nhân đi tìm cũng không thấy nữa. Đấy, câu chuyện của tôi như thế đấy, còn pho tượng thì nó đẹp hay xấu thế nào tùy quý bằng hữu nhận xét, tôi không có ý kiến.

Kể xong, vị tổng đốc hãnh diện chiêu miếng nước. Bỗng, từ trong phòng trong, một tiếng kêu đau thương như xé ruột vọng ra khiến mọi người đều giật mình. Quan khâm sai đứng dậy xin phép vào phòng con gái xem xét. Các gia nhân hối hả từ nhà sau chạy lên, họ cno biết Trương tiểu thư bị ngất xỉu đang nằm sóng xoải trên mặt đất.

Một thực khách ngồi bên cạnh ghé tai nói nhỏ với quan tổng đốc: 

– Người nghệ sĩ tài ba quan huynh vừa kể không ai khác hơn Trương Phố, chồng của Trương tiểu thư con gái quan khâm sai. 

Quan tổng đốc rất kinh ngạc. Vị thực khách bèn vắn tắt thuật lại câu chuyện ngăn cách giữa đôi trai gái cho mọi người nghe. Tỉnh dậy, Mỹ Lan xin phép cha cho được ra ngoài nhìn ngắm pho tượng tận mắt. Nàng sờ mó nó, hôn lên nó, hai hàng nước mắt tuôn rơi. Và khi nàng giơ tay, nghiêng đầu, người ta thấy pho tượng với nàng chỉ là một!

Quan Tổng đốc đặt pho tượng vào tay nàng:

– Con gái đáng thương của ta! Ta đã hiểu rõ tất cả. Vật này là của con, con hãy giữ lấy nó. Với sức ta, ta có thể tìm một thứ khác quý giá dâng lên Hoàng hậu. Còn con, theo ta nghĩ, nó sẽ an ủi cho con rất nhiều trước khi con được đoàn tụ với chồng. Mỹ Lan sụp xuống lạy, tạ ơn quan tổng đốc bạn của cha nàng. Từ dạo đó, Mỹ Lan mỗi ngày một mòn mỏi như có một căn bệnh nào đó gặm nhấm bên trong cơ thể. Quan khâm sai tuyên bố tha thứ mọi tội lỗi cho người con rể nếu tìm thấy chàng. Năm sau, ngài và đoàn tùy tùng xuống Quảng Đông thăm người bạn đồng liêu với mục đích nhờ vị tổng đốc cai quản cả vùng Quảng Đông này hướng dẫn đi tìm Trương Phố. Nhưng mọi cố gắng đều vô ích, hỏi tiệm trà quen cũng không ai biết, chàng vẫn biệt tăm. Mấy năm sau, một trận dịch lan tràn khắp vùng Khai Phong, đứa con trai Mỹ Lan bị chết. Nàng hoàn toàn tuyệt vọng, cắt tóc quy y và xin vào tu viện, chỉ mang theo độc nhất pho tượng nữ thần bằng ngọc. Theo vị sư trưởng trong tu viện cho biết, nàng hoàn toàn sống với thế giới riêng trong một tịnh phòng, không người nào kể cả sư trưởng được vào trong đó. Cũng theo nhà sư này kể, ban đêm nàng thường thức khuya, âm thầm viết những lời cầu nguyện trên các tờ giấy rồi lại âm thầm đốt các bản giấy đó trước pho tượng. Nàng không thố lộ với ai về thân thế mình, không đụng chạm tới ai mà cũng không làm ai phiền lòng. Khoảng 20 năm sau kể từ khi nhập tu viện, người nữ tu hiền dịu tên tục là Trương Mỹ Lan từ giã cõi đời. Và cũng từ đó tới nay, thân xác nàng có thể đã tan vào hư vô nhưng pho tượng vị nữ thần bằng ngọc vẫn tiếp tục tồn tại. Nó tồn tại mãi mãi để chứng minh cho sức mạnh của tình yêu và khả năng siêu việt của loài người.

Đoàn Dự    

SUY GIẢM – BỆNH LẪN

BS CẤN THỊ BÍCH NGỌC, CANADA

DỰA CHÂN VÀO TƯỜNG MÀ TẬP THỂ DỤC

Nguồn: INTERNET

HÌNH ẢNH MÙA THU 2022 CANADA

Canada đang vào thu, với lá đổi màu, gió lành lạnh thổi, báo đông mùa đông sắp tới…

Xin mời Quý Vị:

  1. Vào xem hình ảnh Mùa Thu tại vài địa danh của vùng Đại Đô Thị Toronto :

https://photos.app.goo.gl/6fxi68RyC37dAMqL9

2022-10-16 Canadian Fall scenery in the Greater Toronto Area

  • Ngồi xem 2 youtubes dưới đây với giọng hát muôn đời của Ca Sĩ Hà Thanh

HÀ THANH: NHÌN NHỮNG MÙA THU ĐI, TÀ ÁO TÍM, CHIỀU VÀNG – VIDEO: ĐÀM TRUNG PHÁN

Hà Thanh – Giọt Mưa Thu — Nhạc: Đặng Thế Phong — PPS: Liên Như

Đàm Trung Phán

CÂU CHUYỆN VỀ TÁI SINH CỦA TỔNG THỐNG JOHN ADAMS CỦA HOA KỲ

Đàm Trung Phán

Trong vòng vài năm qua, người phóng tác bài viết này đã đọc trong Internet thấy có bài viết khá hay: “Tiền kiếp của Tổng Thống Kennedy là Tổng Thống Abraham Lincoln…” và một số bài tương tự như vậy về sự tái sinh của nhiều nhân vật quan trọng trong lịch sử.


Tuy đọc thấy khá hay nhưng tôi tự hỏi: “Làm sao họ biết được như vậy?” cho nên tôi không tin. Thế rồi cách đây ít lâu, tôi đã đọc được bài viết về tiền kiếp của Bác Sĩ Walter Semkiw là Tổng Thống John Adams của Hoa Kỳ do chính Bác Sĩ Walter Semkiw kể lại qua vụ gọi hồn (trance mediumship). Nhà ngoại cảm hồn-linh là Kevin Ryerson, “hồn” về là Ahtun Re (một vị quan đại thần của Ai Cập và trong 3300 năm vừa qua chưa trở lại trần gian) và người ngồi đồng (sitter) là Bác Sĩ Semkiw.


Bác Sĩ Semkiw đậu Tối Ưu văn bằng Bác sĩ Y Khoa tại đại học Illinois, chuyên khoa về tai nạn trong công xưởng. Ông là một môn đệ của Bác Sĩ Ian Stevenson chuyên môn khảo cứu về những trường hợp tái sinh.


Xin mời đọc:


CÂU CHUYỆN TÁI SINH CỦA TỔNG THỐNG JOHN ADAMS CỦA HOA KỲ


Một ngày mùa đông ảm đạm năm 1984, trong khi tôi (BS Walter Semkiw tự thuật) đang thực tập Y Khoa tại Chicago, bạn tôi điện thoại cho biết một nhà ngoại cảm đang có mặt tại một hiệu sách chuyên bán sách về siêu hình (metaphysics).


Bản tính tôi hay hoài nghi những việc không có vẻ khoa học cho lắm nên chưa có ý định gặp nhà ngoại cảm này. Nhưng rồi trời mùa đông lạnh lẽo, buồn thảm lại chẳng có việc gì làm hơn là ngồi học, tôi quyết định “thì cứ đi gặp xem sao, mất mát gì đâu. Cứ cho như là đi giải trí vậy!”
Trong buổi “gọi hồn” này (mediumship session), nhà ngoại cảm hồn-linh (medium) ngồi thiền để mời các vong linh hướng dẫn viên (spirit guide) “về” nói chuyện với tôi qua miệng lưỡi của nhà ngoại cảm. Những vong hồn này nói cho tôi biết nhiều chuyện trong gia đình tôi rất đúng.


Họ cho tôi biết một trong hai kiếp trước của tôi: một kiếp đã xẩy ra trong thời Cách Mạng Hoa Kỳ. Họ nói tiền kiếp của tôi là ông John Adams, một nhà cách mạng Hoa Kỳ, sau đó ông ta đã trở thành Phó Tổng Thống dưới thời Tổng Thống George Washington, rồi trở thành Tổng Thống thứ hai của Hoa Kỳ. Tôi đã thường nghe các thầy/cô bói toán nói với khách hàng rằng họ đã từng là những nhân vật quan trọng trong các kiếp trước, chỉ là để chiều lòng khách hàng mà thôi. Tôi nghe nhưng chẳng tin gì hết, rồi bỏ ngoài tai, cho nên trong 12 năm sau đó chẳng có ý định tìm hiểu gì về ông Adams này hết.


TIẾNG VANG THẦN GIAO CÁCH CẢM TRONG TAI
Cuối năm 1995 tôi đi công tác y tế bên Hawaii cho Công Ty dầu lửa Unocal 76. Công ty này có khẩu hiệu “The Spirit of 1776”, có nghĩa là tinh thần năm 1776 của cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ. (Spirit cũng còn có nghĩa là vong hồn, hồn ma nữa). Khoảng giữa trưa, khi đang đứng đợi vài đồng nghiệp ở công ty Unocal, bỗng dưng tôi nghe thấy một mệnh lệnh mà từ xưa tới nay tôi chưa bao giờ nghe thấy. Mệnh lệnh là:
“HÃY TÌM HIỂU VỀ CUỘC ĐỜI CỦA ADAMS!”


Thú thực là từ xưa đến nay, tôi chưa hề bao giờ nghe thấy ai ra lệnh cho tôi hùng dũng đến như vậy.
Mệnh lệnh truyền qua lời nói rất rõ ràng, đích thực và oai nghiêm đến nỗi tôi phải phải đi ngay đến một hiệu sách ở Honolulu tối hôm đó. Tôi mua vài cuốn sách về cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ và John Adams. Nhớ lại hồi gọi hồn vào năm 1984, các Vong Hồn Hướng Dẫn Viên đã cho biết nếu tôi tìm hiểu kỹ càng về ông John Adams, tôi sẽ thấy ngay phần diện mạo, tính nết và các thói quen của cả ông Adams và tôi nữa. Trong năm 1996, sau khi tôi đã đọc hết các cuốn sách viết về ông Adams, tôi nhận thấy ông ta và tôi rất giống nhau về tính nết, và cũng có những ưu và khuyết điểm giống nhau nữa. Đặc biệt là hình ảnh của chúng tôi rất giống nhau trong những bức hình ông ấy chụp trong Hội Nghị Hòa Đàm tại Paris sau khi chiến tranh đã kết liễu.


MỐI TƯƠNG QUAN TIỀN KIẾP
Dần dần trong vài năm, tôi nhận diện được 60 nhân vật đã quen biết với ông Adams. Dường như họ đều tái sinh trong kiếp này, cùng thời với tôi. Giả dụ như em trai George của tôi là hậu thân của Peter Adams – người em trai của John Adams. Nét mặt và tính nết cũng giống nhau.
Tôi còn cho rằng anh trai Leo của tôi – một Bác Sĩ chuyên khoa về xương – là hiện thân của Bác Sĩ Cotton Tufts mà trong kiếp trước đã từng là bạn của gia đình ông Adams. Bác Sĩ Tufts đã từng cai quản dịch vụ về tài chính cho gia đình ông Adams khi họ phải đi xa. Leo- anh trai của tôi- cũng đã trông nom về tiền bạc cho thân mẫu của chúng tôi nữa (trước khi bà qua đời). Mãi trong vòng 2 năm sau đó, tôi vẫn trù trừ về vụ mình là “hậu bối” của ông John Adams. Có nhiều diễn biến ăn khớp rất lạ lùng đã xẩy đến cho tôi liên quan tới ông Adams.

Một trong những diễn biến kỳ lạ này liên quan đến trường hợp người nói tiếng ngoại quốc mà chưa bao giờ học tiếng đó (xenoglossy). Câu chuyện như sau:
Tôi có một người bạn gốc Nga tên là Igor sinh sống tại San Francisco. Khi tôi đọc sách để tìm hiểu về ông Adams, tôi linh cảm thấy anh chàng Igor này kiếp trước đã là một người Pháp bạn thân của ông John Adams khi ông ta là Đại Sứ Hoa Kỳ ở Pháp. Khi tôi mới gặp Igor lần đầu tiên, chúng tôi đã khá thân thiết với nhau. Igor có bộ dạng, cách ăn nói giống như người Pháp vậy. Igor và người Pháp này đều thích nhạc và chơi nhạc. Igor đã học dương cầm tại Nga và sau khi di dân sang Hoa Kỳ, ông ta chơi Piano cho một công ty chuyên môn về các dịch vụ ballet tại New York. Cả Igor lẫn người Pháp đều giỏi về các dịch vụ tài chính. Mà thực ra, Igor rất thành công về mua bán cổ phần thương mại (chơi “stocks”).


LỜI NHẮN QUA THẦN GIAO CÁCH CẢM ĐÃ DẪN LỐI ĐẾN VỤ NÓI TIẾNG NGOẠI QUỐC MÀ CHƯA HỀ HỌC HỎI (XENOGLOSSY)
Mặc dù chúng tôi thân nhau, nhưng tôi không hề cho Igor biết giả thuyết của tôi về kiếp trước của ông ta, bởi vì ông ta là một người vô thần (atheist) và tôi cũng thừa biết rằng ông ta không hề tin có kiếp sau.
Một đêm tôi gặp người bạn gái của Igor tên là Holly trong bếp của căn hộ của Igor. Holly sinh sống tại Seattle, họ quen nhau mới có sáu tháng và đây là lần đầu tiên tôi gặp Holly. Tự dưng tôi linh cảm thấy tôi đang nhận được một lời nhắn thần giao cách cảm (telepathic message), có thể nói rằng đó là một lời-nhắn- không-qua-lời-nói (Voiceless voice) – một từ ngữ đã do tác giả Neale Donald Walsh đặt ra trong những bài viết dưới chủ đề “Đàm Thoại với Thượng Đế”. Tuy rằng tôi không hề hay biết lời dặn này từ đâu tới, tôi chỉ biết lời nhắn đó như sau: “Hãy nói cho họ biết, nói ngay bây giờ!” Tôi biết ngay là tôi phải nói cho Igor và Holly biết kiếp trước Igor là người Pháp, mặc dù tôi cũng chẳng hiểu tại sao tôi lại phải nói cho Igor biết ngay trong lúc đó. Tôi do dự và tự nghĩ: “Tại sao lại phải nói cho Igor biết ngay bây giờ? Tôi đã có cơ hội nói cho Igor biết trong năm ngoái cơ mà. Vả lại hắn cũng chẳng bao giờ tin như vậy đâu!” Tuy nhiên tôi miễn cưỡng nói với Igor và Holly biết rằng tôi cảm nhận thấy rằng Igor đã là một người Pháp trong hồi Cách Mạng Hoa Kỳ.


NÓI TIẾNG NGOẠI NGỮ MÀ CHẲNG HỀ HỌC – IGOR NÓI TIẾNG PHÁP KHI ĐANG NGỦ
Holly trả lời:” Trời đất ơi! Thật là lạ lùng. Igor nói tiếng Pháp trong giấc ngủ”. Điều này Igor cũng công nhận là đúng. Igor còn cho biết rất nhiều người khác cũng đã nghe ông ta nói tiếng Pháp khi đang ngủ. Igor còn cho biết ông ta chưa bao giờ học tiếng Pháp nữa.
Khi còn thức, Igor không thể nói tiếng Pháp được. Dĩ nhiên là Igor chẳng hề tin vào tâm linh gì hết nên chẳng chút quan tâm gì về vụ nói tiếng Pháp. Riêng tôi (BS Walter Semkiw), tôi cảm thấy như bị sét đánh. Đây đúng là hiện tượng “xenoglossy”: tự dưng con người nói một ngôn ngữ mà chưa bao giờ học tới. Hiện tượng này phù hợp với giả thuyết của tôi về Igor có liên hệ với gia đình ông Adams trong kiếp trước.
Dường như trước sự hiện diện của Holly, lời- nhắn-không-do-người-nói-trong-đầu-óc của tôi đã thôi thúc tôi phải nói cho Igor biết về tiền kiếp trong thời kỳ nói tiếng Pháp của ông ta. Đây cũng là cơ hội để Holly xác nhận những lần Igor nói tiếng Pháp ban đêm trong khi đang ngủ. Nếu không tôi chẳng có thể biết thêm gì về vụ “xenoglossy” này được.

ĐI THĂM CÁC NHÀ NGOẠI CẢM: GIỚI THIỆU KEVIN RYERSON VÀ SIÊU LINH / HƯỚNG DẪN LINH AHTUN RE.
Trong lúc rảnh rỗi, tôi đi gặp vài nhà ngoại cảm (psychics) trong vùng San Francisco (khu tôi ở). Họ đều khá nổi tiếng và tôi cũng muốn xem cho biết.
Tôi đến thăm nhà ngoại cảm Michael Tamura, người quản lý Trung Tâm Ngoại Cảm Berkely (The Berkely Psychic Center) đã 20 năm. Ông ta có khả năng thần nhãn (nhìn thấy những điều mà con mắt trần gian không nhìn thấy được, clairvoyance), điều này cũng tốt cho tôi mà thôi. Ông nói: “Đúng rồi, kiếp trước ông là John Adams và bây giờ ông đang trở về cùng với một số những Vị Lập Quốc của Hoa Kỳ đó”. Nghe rất bùi tai nhưng tôi không tin. Tôi đến gặp vài nhà ngoại cảm khác, họ cũng nói tôi là hậu thân của cố Tổng Thống John Adams. Tôi vẫn hoài nghi và tôi cho rằng họ chỉ nói những gì tôi muốn nghe mà thôi. Thế rồi một người giới thiệu tôi đến gặp nhà ngoại cảm hồn-linh/ ông đồng Kevin Ryerson đã từng làm việc với Shirley MacLaine trong vòng 30 năm và bà này đã giới thiệu ông ta qua mấy cuốn sách của bà ta.

SINH LINH (the Spirit Guide) / VONG HỒN THƯỢNG ĐẲNG AHTUN RE (Spirit Being)

Xin nhắc lại trong Youtube trên: người gọi hồn là BS Walter Semkiw, qua “ông đồng” Kevin Ryerson. “Hồn về” mang tên Ahtun Re, gốc tích Ai Cập. Ahtun Re cho biết “Hồn” đã trải qua nhiều kiếp người trần gian thế rồi được “thăng quan, tiến chức” như Đức Phật, Jesus, Mohammed và rất nhiều các vị Thầy/ Siêu Linh khác (Masters).


Khi nói chuyện với một “Vong linh Đại Thần Ai Cập” đã khuất núi hơn 3300 năm về trước và tuổi đời đã khoảng 7000 năm, tôi (BS Walter Selkiw) có cảm giác như mình đang có mặt ở trong một chuyện thần kỳ vậy. Tuy nhiên, tôi không bác bỏ nhưng cũng không tin cho lắm. Lúc ban đầu trong khi gọi hồn này, tôi không tin là Ahtun Re đã nói đúng. Giống như nhiều người khác và nhất là tôi là dân khoa học, tôi cần có bằng chứng đáng tin cậy để chứng tỏ rằng Ahtun Re đã cho biết những tin tức xác thực.


DUYỆT QUA VÀI TRƯỜNG HỢP XẨY RA TRONG CUỘC CÁCH MẠNG HOA KỲ
Trước tiên chính Ahtun Re cũng xác nhận tôi là hậu kiếp của Tổng Thống John Adams. Tôi đã duyệt xét cái danh sách gồm có 60 nhân vật của một nhóm người trong thời Cách Mạng Hoa Kỳ. Tôi đã so sánh họ trong tiền kiếp (hồi Cách Mạng Hoa Kỳ) và hậu kiếp (thời buổi bây giờ) mà tôi đã có giả thuyết cho rằng họ đều trở lại trần gian trong thời kỳ cận đại này. Tôi hỏi Ahtun Re từng trường hợp một để biết mình đúng hay sai. Tựu chung “Hồn” cho biết tôi đã đúng được khoảng 80% trong việc so sánh theo giả thuyết của tôi.

PHẦN MẬP MỜ TRONG LÚC SO SÁNH ĐÃ KHẲNG ĐỊNH AHTUN RE LÀ MỘT VONG HỒN THƯỢNG ĐẲNG (Spirit Being) HOÀN TOÀN KHÁC BIỆT VỚI KEVIN RYERSON.
Tuy nhiên tôi vẫn chưa có lý do thật chắc chắn nào để mà hoàn toàn tin vào Ahtun Re được. Làm sao mà tôi kiểm chứng được những gì ông ta nói ra là đúng?
Tôi vặn hỏi Ahtun Re về trường hợp so sánh giữa người A trong kiếp này với người B trong kiếp trước hay ngược lại, không hề theo giả thuyết nào của tôi hết. Sau khi hỏi như vậy, tôi mới thấy Ahtun Re đã nói ra ngay tại chỗ về tiền kiếp của những người mà tôi đã hỏi, để rồi sau đó, khi tôi đi tìm tài liệu để kiểm chứng, tôi mới thấy ông ta đã nói rất đúng. Tôi khảo sát về những điều ông ta so sánh về khuôn mặt, tính nết, tài năng của những nhân vật ông ta đã mô tả cho tôi, tôi nhận thấy ông ta nói rất đúng.
Đôi khi có nhiều nhân vật trong lịch sử, khi so sánh người kiếp trước và người kiếp sau có nhiều điều mù mờ và khó có thể có được hồ sơ rõ ràng, có nghĩa là Ahtun Re (hay Kevin Ryerson) cũng không thể so sánh họ được trừ khi họ đã kiếm được tài liệu từ trung tâm Tâm Linh. Người ta gọi đó Trung Tâm Tâm Linh, hay Trung Tâm Tài Liệu Akashic (mà ĐTP đã nhắc tới trong loạt bài viết về “Người Nhớ Được Tiền Kiếp”. Có người còn gọi nó là “Đầu Não Vũ Trụ” (Universal Mind) nữa.
( Muốn biết thêm chi tiết, xin mời Quý Vị vào đọc lại “Người Nhớ Được Tiền Kiếp” trong Link dưới đây:
https://damtrungphan.wordpress.com/2012/01/15/ng%C6%B0%E1%BB%9Di-nh%E1%BB%9B-d%C6%B0%E1%BB%A3c-ti%E1%BB%81n-ki%E1%BA%BFp-matias-de-stefano/#respond 

SIÊU LINH (Spirit/Being) AHTUN RE LÀ MỘT CUỐN TỰ VỊ KHỔNG LỒ TRƯỚC KHI CHÚNG TA CÓ DỊCH VỤ “GOOGLE SEARCH”
Trong năm 2001, phương tiện tìm tài liệu (search engines) như Google hãy còn đơn sơ lắm và cũng ít ai dùng đến nó. Sau khi Ahtun Re cho tôi (BS Walter Semkiw) biết nhiều mẩu tin để tìm kiếm và đọc thêm cho biết, tôi đã phải đi ra thư viện theo lối ngày xưa để kiếm sách mà đọc. Tuy nhiên, các thư viện thường ít có tài liệu để tra khảo. Điều này đã làm tôi suy nghĩ: sự hiểu biết của Ahtun Re thật quá lớn lao so với Kevin Ryerson. Tuy nhiên, Kevin Ryerson còn hiểu biết hơn người thường rất nhiều.


SIÊU LINH MACPHERSON NHẬN XÉT VỀ SHIRLEY MACLAINE VÀ WALTER SEMKIW QUA LỐI NHÌN TỪ CÕI VONG LINH (Spirit Realm)
Tiện đây tôi (Walter Semkiw) muốn kể cho quý vị nghe về các vong linh bậc Thầy/Siêu Linh nhập vào Kevin cho biết họ vẫn thường theo dõi các diễn biến trần gian. Theo cuốn sách “Các Nhà Cách Mạng Đã Trở Về”, Shirley MacLaine đã được tái sinh, trong kiếp trước bà là một nhà Cách Mạng Hoa Kỳ đã từng ký tên vào tờ Tuyên Ngôn Độc Lập (Declaration of Independence). Cả tiền thân lẫn hậu thân (của Shirley MacLaine) đã được Siêu Linh Ahtun Re xác nhận. Bà MacLaine đồng ý cho tôi viết về bà mặc dù bà chưa hề biết tôi trước khi tôi gặp bà trong ngày bà ra mắt sách.


Vài tháng sau khi ra mắt cuốn “Các Nhà Cách Mạng Đã Trở Về”, bà MacLaine tổ chức các cuộc hội thảo tại Trường Mỹ Thuật ở San Fransico vào tháng 10 năm 2003. Đây là dịp đầu tiên mà tôi gặp bà ta. Vài tháng trước đó, tôi được Kevin cho biết Shirley MacLaine đã ngồi đồng cùng với Kevin và Ahtun Re.


SINH LINH AHTUN RE GÓP Ý KIẾN VỚI TÔI NÊN TẶNG QUÀ NHƯ THẾ NÀO CHO SHIRLEY MACLAINE
Qua cuộc nói chuyện bằng phôn với Kevin Ryerson trước hôm họp mặt, Kevin sẽ ngồi đồng tại Portland, Oregan, nơi ông ta cư ngụ. Trong buổi gọi hồn này, tôi hỏi Ahtun Re tôi có nên mang quà tặng cho Shirley không? Ahtun Re nói qua giọng rất trầm, dặn tôi nên tặng bà ấy một cái áo T Shirt có hình Shirley là một nhà Cách Mạng ở phía trước, với giòng chữ: “Kiếp sau, tôi trở thành Shirley MacLaine”.
Đằng sau áo T Shirt, Ahtun Re dặn tôi nên đề giòng chữ nổi như sau:
“Đã cả trăm lần tái sinh để rồi cuối cùng chỉ nhận được một cái T Shirt cà chớn này sao?”
Ahtun Re không những biết được ai là ai trong kiếp này, kiếp khác, siêu linh còn thích nói dỡn chơi nữa. May quá, thật không ngờ được: ngay ngày hôm sau, họ đã làm xong cho tôi một cái áo T Shirt y như vậy.
Sau phần họp buổi sáng, tôi đến gặp Shirley MacLaine và tự giới thiệu trong buổi ăn trưa. Thật không ngờ, trong buổi họp ban chiều, MacLaine đã mời tôi lên sân khấu cùng với bà ta.


WALTER LUỐNG CUỐNG TRÊN SÂN KHẤU VỚI SHIRLEY MACLAINE VÀ THẨY MICROPHONE NHƯ TRÁI BANH TỪ TAY NÀY SANG TAY KIA
Trong vòng 2 tiếng đồng hồ, MacLaine nói chuyện với tôi trước khán giả khoảng 300 người về những câu chuyện tái sinh, cuốn sách của tôi và trường hợp tái sinh của bà ta. Mặc dù tôi đã quen nói chuyện trước công chúng rồi, nhưng tôi cảm thấy rụt rè khi nói chuyện với một đại minh tinh màn bạc. Tôi bối rối đến nỗi bàn tay phải của tôi bóp chặt cái microphone, chặt đến nỗi tay tôi tê luôn, phải chuyền nó qua tay trái. Rồi tay trái cũng tê luôn và chuyền lại qua tay phải. Cứ như thế mà tiếp tục chuyền từ tay này sang tay kia trong suốt hai tiếng đồng hồ!


SIÊU LINH MACPHERSON QUAN SÁT SHIRLEY VÀ WALTER TỪ CÕI LINH ĐÀNG (Spirit Realm)
Điều không thể tưởng tượng được: các siêu linh “về” qua ngả nhà ngoại cảm Kevin Ryerson đã quan sát mọi điều trong lúc “gọi hồn” này.
Vong linh hướng dẫn viên mang tên Tom Macpherson đã nhập vào Kevin Ryerson để nói chuyện với Shirley MacLaine. MacPherson và MacLaine đã nói chuyện với nhau rất nhiều về kịch nghệ. Kiếp trước, MacPherson đã từng là một diễn viên trong nhóm kịch của Shakespeare và MacLaine ngày nay là một diễn viên màn bạc rất nổi tiếng. Qua miệng lưỡi Kevin, Tom MacPherson đã nói với tôi trên sân khấu, trước mặt các khán giả: “Này, ‘Cậu’ (dịch từ chữ “Laddy”, danh từ mà dân đàn ông Irish hay gọi nhau), đã gặp và nói chuyện vui vẻ với nàng tóc đỏ chứ?”
Nàng tóc đỏ mà Tom nói đến là tài tử màn bạc Shirley MacLaine. Tôi trả lời Tom M. là tôi vui mừng được đứng trên sân khấu với Shirley, M. Tom nói liền: “Thế nhưng ‘Tớ’ thấy ‘Cậu’ khá ‘nẹc vơ’ đấy, cứ lâu lâu ‘Cậu’ lại phải chuyển cái Microphone từ tay này sang tay khác đấy!”
Về sau, khi tôi hỏi nhà ngoại cảm hồn-linh Kevin R về vụ này. Kevin R cho biết không hề biết gì về vụ “microphone” của tôi hết khi tôi đang ở trên sân khấu với Shirley. Hóa ra các siêu linh, khi nhập vào Kevin để đối thoại với khách “ngồi đồng” còn có thể nhìn thấy những gì đang xẩy ra trong khi Kevin đang “gọi hồn” ở bất cứ nơi nào.


HAI NGƯỜI BẠN THÂN CỦA TÔI: KEVIN RYERSON VÀ SIÊU LINH AHTUN RE
Sau nhiều lần cùng làm việc với nhau kể từ tháng 10 năm 2001, Kevin và tôi trở thành đôi bạn thân. Từ năm 2001, cứ mỗi tháng tôi lại “ngồi đồng” với “ông đồng” Kevin R và tôi cũng cảm nhận được tình bạn với siêu linh Ahtun Re. Mỗi lần “gọi hồn” như vậy, Ahtun Re rất ân cần và thân thiết với tôi giống như những khi người trần mắt thịt gọi điện thoại cho nhau vậy. Chỉ có sự khác biệt là tôi nói chuyện với Ahtun Re qua cái “điện thoại” tên là Kevin Ryerson mà thôi! Mac Pherson lâu lâu cũng “ghé thăm”. Ahtun Re luôn luôn là nhân vật chính yếu để tôi học hỏi. Ahtun Re và MacPherson có “cá tính” rất khác biệt, khác hẳn với tính nết của Kevin.

Trong tương lai, chúng tôi sẽ viết thêm về “ Tài Liệu Akashic“ rất mầu nhiệm này .

https://www.youtube.com/watch?v=fJrIZASb9x0&list=RDLVfJrIZASb9x0&start_radio=1&t=66s


Đàm Trung Phán
March 13, 2015 / Oct. 7, 2022
Mississauga

Viết theo:

1. Born Again: Cases Solved through Kevin Ryerson, Walter Semkiw and Ahtun Re by Walter Semkiw, MD

2. http://www.iisis.net/index.php?page=semkiw-reincarnation-past-lives-principles&hl=en_US

Cuộc Sống

Niềm Tin Và Hy Vọng

Hội Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam - Vietnamese Boat People Memorial Association

Hội Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam - Vietnamese Boat People Memorial Association

Việt Nam

Việt Nam

Kiếm tiền online

Kiếm tiền tại nhà hàng ngày . các cách kiếm tiền free online

Shop Mỹ Phẩm - Nước Hoa

Số 7, Lê Văn Thịnh,Bình Trưng Đông,Quận 2,HCM,Việt Nam.

Công phu Trà Đạo

Trà Đạo là một nghệ thuật đòi hỏi ít nhiều công phu

tranlucsaigon

Trăm năm trong cõi người ta...

~~~~ Thơ Thẩn ~~~~

.....Chỗ Vơ Vẩn

Nguyễn Đàm Duy Trung's Blog

Trang Thơ Nguyễn Đàm Duy Trung

%d bloggers like this: