Đàm Trung Phán

Những bài viết …..

THẤY GÌ TRÊN QUÊ HƯƠNG TA?

THẤY GÌ TRÊN QUÊ HƯƠNG TA?

WHAT DO WE SEE IN OUR BELOVED COUNTRY OF VIETNAM?

 

vung ang 3-tEXT-xx

 

Anh thấy gì trên quê hương ta?

What do we see in our beloved country of Vietnam?

 

 

Tràn khắp đường, tiếng dân oan, tiếng khóc than vang động tới trời.

All over the land, loud cacophonies of angry protests and moans by the oppressed reach the sky.

 

 

Kìa! Từng đàn công an, chúng kéo ra như bầy lan sói.

Look! Bunches of security cops appear like packs of wolves.

 

 

Dùi cui vung lên cao, máu người dân hòa với uất hờn.

Their sticks rise and citizens’ blood gushes amid fury.

 

 

Cửa tù mở rộng, tống người bị cướp đất, cướp nhà vào giam.

Prison gates open wide to hold folks whose properties have been robbed.

 

 

Nầy em ơi! Tuổi thơ em trơ gầy

Poor children! Your emaciated bodies

 

 

Cho kẻ cướp no đầy là chủ nghĩa hôm nay

are for the fat bellies of robbers leading today’s ideologies.

 

 

Chị tôi ơi! Tiếng kêu oan lan vào trong gió, tiếng khóc than vang động tới trời, khi kẻ cướp nắm quyền thì chân lý còn đâu!

Sisters of mine! Your moans about injustice reach the sky, but when robbers are in power, what justice can there be?

 

 

Mẹ hiền ơi! Sao thân già nằm đây?

Oh sweet mother! Why does your aged body have to lie here?

 

 

Co ro trước gió, nơi đâu mẹ về?

Shivering in the cold wind, where is your home?

 

 

Phong phanh chiếc áo, chiều đông xuống rồi.

In tattered and torn clothing, you face the coming wintry night.

 

 

Nghẹn lời mẹ nuốt, nước mắt vào sâu, non sông còn mất, huống chi là nhà!

Feebly she says, tears welling her eyes, when the country is lost, how can a home be kept?

 

 

Không! Không đâu mẹ ơi!  Không ai có quyền bán nước cầu vinh.

No, no! Oh, my beloved mother! Nobody can sell the country in exchange for glory.

 

 

Không! Không đâu mẹ ơi!  Không ai có quyền rước giặc vào nhà.

No, no! Oh, my beloved mother! Nobody has the right to usher in the enemy.

 

 

Nước non nầy là của bao đời Tổ Quốc Việt Nam.

This land belongs to generations of Vietnamese people.

 

 

Một người đứng lên, chỉ là gió thoảng.

When one person stands up, it is only a passing breeze.

 

 

Triệu người đứng lên, ầm ầm thác đổ.

When a million people rise, it is a thundering waterfall.

 

 

Toàn dân đứng lên, cuồng phong nổi dậy, cộng quyền sẽ tan, thì mẹ già thôi khóc, nước nhà bình yên.

When the whole population joins force, communist oppressors will be gone for good, aged mothers will stop crying, and our country will be safe.

 

 

Nguyễn Sỹ Thùy Ngân

 

YOUTUBE của bài hát:

https://www.youtube.com/watch?v=YZ9HLaJlivY

 

 

ỦY BAN YỂM TRỢ PHONG TRÀO DÂN CHỦ QUỐC NỘI – LM ĐẶNG HỮU NAM – Aug. 27, 2016

https://www.youtube.com/watch?v=SWT5Zrp8i_4

 

ỦY BAN YỂM TRỢ PHONG TRÀO DÂN CHỦ QUỐC NỘI – LM NGUYỄN VĂN LÝ – AUG 27, 2016

https://www.youtube.com/watch?v=aUsGSzE0MJU

 

 

 

Hồng Vân diễn ngâm thơ Đàm Trung Phán

Xin Quý Vị mở speakers và bấm nút để nghe Hồng Vân diễn ngâm thơ Đàm Trung Phán:

1.Lời Giới Thiệu:

2. Bài Thơ Cho Con Ngày Con 20 tuổi

3. Út Tôi

4. Vu Lan Mộng Ảo

5. Phong Lan và Giai Nhân

6. Nhạc Kinh Tây Tạng

7. Nén Hương Cho Mẹ

8. Mộng Thường

9. Hình Bóng Mẹ Tôi

10. Em Đã Đến

11. Đóa Lan Rừng

12. Cha Con

13. Duyên Tình

14. Bước Trần Ai Đi

15.Chiêm bao Tỉnh thức

16.Chuyến Bay đêm

17.Cõi mộng

18.Mưa Hè

19.Ngọc Nữ

20.Đức Mẹ Maria

21.Em

22.Đêm Nay

23.Duyên Phận

24.Chiến Địa Flanders

25.Thu Cảm 2000

26.Tỉnh Say, Say Tỉnh

27.Dù Cho Thoát xác, Mãi Còn Yêu Thương

28.Mừng Sinh Nhật 70 của ĐÀm Trung Phán

29.Áo Trắng Học Trò

30.Phong Lan

31.Bài Thơ Không Tên

32.Đoạn Kết

Quý vị có thể tải về ( download ) tại đây :

DamTrungPhan-HongVan

LỜI NÓI ĐẦU

Sau khi viết xong loạt bài Cây Đa Lối Cũ, Gọi Hồn Người Xưa”, người viết đã có dịp đọc thêm nhiều bài viết về Tâm Linh của các tác giả Tây Phương và Ðông Phương. Tôi đọc say mê vì có nhiều khoa học gia và nhà ngoại cảm Tây Phương đã mô tả một số hiện tượng khá giống với những gì tôi đã cảm nhận được khi đang thức cũng như khi đang ngủ

Đây là một đề tài vừa rộng lớn, vừa mơ hồ vì còn nhiều vấn đề chưa có thể chứng minh một cách cụ thể được dựa theo nền tảng khoa học hiện tại của loài người. Tôi có cảm tưởng là mình giống như là một ông thầy bói mù đang sờ chân một con voi khổng lồ để mà “đoán quẻ” về hình dáng, kích thước và cuộc đời, số mạng của con voi đó.
Vì vậy mà cứ chần chờ trước khi viết loạt bài này về Tâm Linh

Dựa theo một số những kinh nghiệm tâm linh của chính bản thân và những gì mà tôi đã đọc được trong những tài liệu của phương Ðông và phương Tây về linh hồn, vong linh, cõi vô hình, tái sinh, luân hồi, gọi hồn… tôi mạo muội viết ra loạt bài này. Bài viết còn có nhiều thiếu sót, nhiều chỗ chưa hiểu rõ hay hiểu lầm… xin qúy vị rộng lòng thứ lỗi cho. Người viết sẽ rất hoan hỉ khi nhận được những ý kiến xây dựng của quý vị độc giả những mong học hỏi thêm được và để cải tiến bài này trong tương lai. Xin Quý Vị viết email về phandam99@yahoo.com cho người viết.

Xin cứ coi như đây là bài viết mở đầu để chúng ta cùng học hỏi thêm trong tương lai. Trong tinh thần “vạn sự khởi đầu nan”, xin mời quý vị vào đọc…

HUYỀN THOẠI VỀ HỒ CHÍ MINH – GS TRẦN GIA PHỤNG

huyen-thoai-hcm-2016-pdf

Đôi lời với nhóm Vietnamese Student Organization in Canada (VietSoc) và các em du học sinh – An address to the Visa students and members of the Vietnamese Student Organization group in Canada (VietSoc)

Đôi lời với nhóm Vietnamese Student Organization in Canada (VietSoc) và các em du học sinh

Nguyễn Sỹ Thùy Ngân

Hiện nay có rất nhiều du học sinh từ VN sang, đây là một điều vui mừng vì càng nhiều em ra nước ngoài, thì các em càng có cơ hội học được nhiều về đời sống tự do, dân chủ và nhân quyền ở các tây phương để sau nầy đem về VN giúp cho người dân trong nước có được đời sống tự do, dân chủ và nhân quyền.

Hầu hết các em du học sinh đều ngoan hiền và chăm chỉ học hành, nhưng gần đây, có những em lập nhóm Vietnamese Student Organization in Canada (VietSoc). Việc thành lập nhóm nầy sẽ không có gì để nói, quá tốt nếu như các em chỉ đơn thuần tập hợp lại để chia sẻ kinh nghiệm và giúp đỡ lẫn nhau trong viêc học, tuy nhiên các em đã đi quá đà khi truyền bá những hình ảnh có lợi cho chế độ cộng sản như đăng lên facebook bộ phim do cộng sản VN làm ra nhằm đánh bóng hình ảnh VN theo kiểu một chiều đến thế giới, với mục đích gởi thông điệp VN đầy thành tựu, hòa bình, ổn định và phát triển, chứ tuyệt nhiên không nói tới, hay có bất cứ một hình ảnh nào về thực trạng VN hiện nay như cảnh dân oan không nhà, bịnh viện quá tải phải nằm tràn ra sân, phụ nữ VN bị bán làm nô lệ tình dục ra khắp năm châu….

Bên cạnh đó, nhóm VietSoc còn tổ chức ăn mừng sinh nhật và đăng tải hình tên đồ tể Hồ Chí Minh. Và nhóm VietSoc cũng đăng tải vinh danh “ký ức hào hùng ngày 30 tháng 4” với xe tăng cộng sản vào miền Nam, đăng tải ngày giổ tổ Hùng Vương cùng hiệp hội Canada Việt Nam với cờ Canada và cờ đỏ máu của cộng sảnVN.

Việc nhóm VietSoc tuyên truyền một chiều cho chế độ cộng sản VN đã làm tổn thương đến cộng đồng người Việt Tự Do tại Toronto.

Tháng 4 năm 2016 vừa qua, có em trong nhóm VietSoc đã lên tiếng vui mừng khi cộng sản VN ủng hộ để thành lập cái gọi là hiệp hội Canada Vietnam Society (CVS). Hội nầy là do cộng sản VN và tòa đại sứ cộng sản VN tại Ottawa lập ra với mục đích là để tiếm danh, tự xưng là đại diện cộng đồng Việt Canada và tuyên truyền một chiều cho cộng sản VN, việc nầy đang làm xáo trộn và gây tổn thương nghiêm trọng trong cộng đồng người Việt tự do. Và hành động tiếp theo của các em VietSoc là đăng tải, giới thiệu và rủ rê lôi kéo nhau tới một quán ăn, chỉ vì quán ăn nầy có biểu tượng hình cờ đỏ sao vàng.

Thiết nghĩ, nay các em đã có cơ hội sống trong môi trường tự do dân chủ và nhân quyền, nhìn được đúng bản chất của chế độ CS là bán nước hại dân, thì tại sao các em lại đang tâm tiếp tay tuyên truyền cho chế độ ác cộng VN như thê!?

Ngoài việc học ra, các em cũng nên học cách hòa nhập vào cộng đồng và học cách biết tôn trọng tự do, dân chủ, nhân quyền ở Canada, để các em thấy được dưới sự cai trị của đảng độc tài cộng sản VN thì người dân không có được những quyền căn bản của con người, như quyền được nhìn, được nghe, được nói vì mọi thông tin thật đều bị bưng bít, che đậy, còn lịch sử dân tộc thì bị xuyên tạc, bị ngụy tạo hoàn toàn.

Chỉ nêu ra đây một vài thí dụ điển hình để các em hiểu thêm về những cái quyền căn bản của con người đã bị khống chế dưới chế độ độc tài cộng VN như thế nào.

Nói về quyền được nhìn:

Thì các em và người dân trong nước chỉ nhìn được những hào nhoáng bên ngoài, như những tòa nhà đồ sộ, những sân golf thênh thang, chứ không được nhìn, được thấy, cộng sản VN đã dời mốc cột biên giới, hiến dâng đất đai của tổ tiên ta cho giặc Tàu, mở toang cửa khẩu cho Tàu cộng tự do tràn vào cư ngụ và chiếm đóng những vị trí then chốt chiến lược quan trọng trên toàn lãnh thổ VN.

Nói về quyền được nghe:
Thì các em và người dân trong nước, chỉ nghe được ngày càng có nhiều tượng đài nghìn tỷ, chứ không nghe được tiếng khóc xé lòng của những người mẹ có con lội sông đi học mỗi ngày bị nước cuốn trôi mất xác, hay tiếng khóc than của dân oan đang làm rúng động lòng người ở khắp nơi trên thế giới vì bị cướp nhà, cướp đất, phải sống cảnh màn trời chiếu đất, vất vưỡng đầu đường xó chợ, đói rách thảm thương, thế mà cộng sản VN lại làm lơ như không thấy, không nghe vì nhà của dân, chúng đã lấy, đất của dân, chúng đã cướp xong rồi.

Nói về quyền được nói:

Thì các em có biết, ngư dân trong nước chỉ được quyền lặng yên mà khóc, còn nếu như gào to, khóc lớn cùng nhau xuống đường kêu cứu khi con đường sống bị triệt, vì cá chết, môi trường biển bị nhiểm độc, bị tàn phá từ hóa chất của Formosa thảy ra, thì lập tức bị công an thẳng tay trấn áp, trù dập, mà truyền thông báo chí thì được lịnh làm ngơ không lên tiếng, nên tiếng kêu gào than khóc của ngư dân cũng bị tan nhanh theo gió, chỉ có cái đói nghèo là còn ở lại với ngư dân.

Nói về thông tin:

Thì các em và người dân trong nước chỉ nghe được thông tin một chiều không có thật, như nghe nhiều về 16 chữ vàng và 4 tốt của Việt Nam với Trung quốc, chứ không nghe được Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, biển, đảo Hoàng sa, Trường sa VN đã trao về tay giặc, từ lâu lắm rồi.

Nói về lich sử bị bưng bít, ngụy tạo:
Thì các em và người dân trong nước bị cộng sản VN nhồi sọ, tuyên truyền một chiều sai sự thật, để làm lợi cho chế độ, chúng ngụy tạo lịch sử để làm hình tượng tuyên truyền, dù Hồ Chí Minh có tên trong danh sách đồ tể quốc tế, là tên tội đồ của dân tộc vì đem chủ nghĩa cộng sản vào VN gây chiến tranh chia rẽ hai Miền Nam Bắc, dùng người Việt giết người Việt để dọn đường rước giặc vào nhà, và là người gây ra tội ác tày trời là giết mấy trăm ngàn người trong cải cách ruộng đất Miền Bắc, thảm sát Huế Tết Mậu Thân với những cuộc tàn sát đẫm máu, giết mấy ngàn người trong những mồ chôn tập thể, thế mà cộng sản VN lại biến Hồ Chí Minh thành anh hùng cứu nước thương dân, là cha già dân tộc.

Vì muốn củng cố cho chế độ được trường tồn, cộng sản VN đã ra sức tẩy não và đào luyện thế hệ trẻ sao cho được thuần phục và tuyệt đối trung thành với đảng, nên khẩu hiệu dưới đây được cộng sản VN thi hành triệt để :

“Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Đọc tới câu nầy các em phải hiểu, các em cũng chỉ là công cụ được cộng sản VN trồng, để phục vụ cho ác đảng của chúng mà thôi.

Đã tới lúc các em phải thức tỉnh, nhận diện bộ mặt thật của đảng cộng sản VN là một đảng cướp tội phạm hình sự, chúng đã thẳng tay cướp bóc, khủng bố, trấn áp người dân và tận tình vơ vét tài sản quốc gia để tẩu tán ra nước ngoài cho vợ con, dòng họ tha hồ tận hưởng.

Vận nước đã tới hồi nghiêng ngã, vì họa mất nước đã gần kề, cộng sản VN vì muốn củng cố chế độ mà chúng đang tâm bán nước, đưa dân tộc ta vào con đường nô lệ ngàn năm, nên cho dù các em sanh ra ở trong bất cứ gia đình nào, hay thuộc bất cứ thành phần nào của xã hội, và sống bất cứ nơi nào trên đất nước VN, thì hãy vì sự sống còn của tổ quốc mà góp một bàn tay với người dân trong nước để đòi cho được quyền làm người, và đòi cho được quyền bảo vệ quê hương.

Hãy luôn nhớ, đất nước VN có được tự do, dân chủ, công lý và nhân quyền hay không thì đó là do trách nhiệm của các em, cũng như vận mệnh của dân tộc, và sự tồn vong của đất nước đang nằm trong tay tuổi trẻ Việt Nam.

Chúng tôi những người Việt hải ngoại, luôn thương yêu và yểm trợ các em trên con đường làm nên lịch sử, đó là dẹp nội thù cộng sảnVN bán nước hại dân và diệt ngoại xâm để bảo vệ non sông.

Riêng các em trong nhóm VietSoc, nếu các em còn có trái tim biết thương dân tộc, thì nên ngừng ngay những việc đang làm và tránh xa ngay những tên cộng sản đang ra sức níu kéo những người nhẹ dạ và lợi dụng tuổi trẻ của các em vào mục đích tuyên truyền để đánh bóng cho chế độ tham nhũng, thối nát, hèn với giặc ác với dân đang trên đà tan rã.

 

Nguyễn Sỹ Thùy Ngân

 

Xin mời đọc về cuộc đời thật của Hồ Chín Minh trong bài viêt dưới đây của GS Trần Gia Phung:

https://damtrungphan.wordpress.com/2017/02/24/huyen-thoai-ve-ho-chi-minh-gs-tran-gia-phung/

***

Feb. 08, 2017

Bản dịch tiếng Anh:
Translated by: TIMOTHY TRAN

(Some Advices written for) An address to the Visa students and members of the Vietnamese Student Organization group in Canada (VietSoc)

Nguyễn Sỹ Thùy Ngân

It is reported of late that there are now many students coming from Viet-Nam, this is indeed quite exciting, as the more students going abroad, the more opportunity you (the Visa students) would have to learn more about a life in the West: a life of freedom, democracy and basic human rights to eventually bring about these values of freedom, democracy and human rights (home) to the Vietnamese People.

Most of these students are dilligent and intelligent (with good ethics/conduct) who study hard in school, but a few (sour apples) like to congregate, like to do things beyond the scope of a student, such as the members of the Vietnamese Student Organization groups in Canada (VietSoc). The recent establishment of this group is nothing to object, if it was meant to gather and share experiences, and help each other in learning, that would be a good thing. But the VietSoc members had gone too far when they form with the aim of spreading images in favour of the communist regime and post on Facebook propaganda film made by the Socialist republic of Vietnam (Communist Vietnam), with the purpose of sending false messages about a rosy Viet-Nam full of accomplishments, peace, stability and ever-developing. In actuality, the Film clip did not – at anytime – speak of about images of the true situations, such as the hardships of beggars and homeless citizens, overwhelmed and over-crowded hospitals (whereby the patients lay on mats along the corridors onto the streets), or painful scenes of Vietnamese women sold as sex slaves to many countries … Furthermore, VietSoc members posted and celebrated the birthday/anniversary of one blood-soaked totalitarian Ho-Chi-Minh. VietSoc had even published fond memories honoring the event of (1975) April 30th when communist tanks invaded the South (crashing the gate of the Presidential Palace), published on our sacred Hung Kings Ancestral Day/Anniversary along the CVS (Canadian Vietnamese Society in Canada) next to the Canadian flag and the red flag of the blood-thirst communist Viet-Nam.

The advocacy (unilateral) actions by VietSoc to polish communism/the communist regime are un-conscionable and irresponsible, and these actions had caused outrage and further hurt the free Vietnamese Communities in Toronto and across Canada.

In April 2016, a member of VietSoc had expressed happiness when the establishment of the so-called Canadian Vietnamese Society (CVS) in Canada by communist Viet-Nam. CVS was established with the helps of the communist Viet-Nam embassy in Ottawa and was created with the purposes (and attempts) to mis-represent the Vietnamese Canadian communities at large in Canada and to promote a one-sided propaganda in favour of communism, to cause disruption and serious harm to these free Vietnamese communities. Many members of VietSoc had published, introduced and enticed others to join them then to celebrate in a restaurant where the owner displayed the blood-red background with a centralized yellow star.

Let us reflect for a moment: now that these students have the opportunity to live in an open and free society (environment), having known all too well the oppressive and totalitarian nature of the Communist Viet-Nam regime, there is certainly (and absolutely) no reason – of any sort – for perpetuating propaganda for the evil communist regime – is there ? !

Whether you ( the members of VietSoc), are children born into wealthy families, or of red capitalists or of high-ranking officers of the communist regime, or are simply studying abroad under a certain sponsorship program, then, in addition to studying, it is strongly advisable that (you) these students should also (at least) learn how to integrate into the communities and learn to respect freedom, democracy and human rights in Canada. It is hoped that with the acceptance of these core (Canadian) values, these VietSoc students would at least see that the People of Viet-Nam do not get the fundamental human rights, such as the right to see, to hear, to speak/express freely of the real situation, where information were withheld, concealed (or falsified), and the Vietnamese national history is continually being distorted or fabricated altogether.

Here, we are only touching base on a few examples to expose our core Canadian values, of freedom and human rights, so one could see how living in a free society would be, as compared to living under the totalitarian regime of the socialist republic of Viet-Nam.

Speaking of the Right to See : These students and the People inside the country could only see (or were only allowed to see) those flashy massive buildings, those spacious golf courses, yet not allowed to witness the fact that communist Vietnam had moved the milestone column demarking the Viet-China border (in the North) and literally sold off ancestral land to the enemy, and opened the gate for China to reside and settle freely (and openly) by occupying the key geographical position which play a strategic importance all over the territory of Viet-Nam.

Speaking of the right to hear (or to be heard) : These students and the People inside the country could only hear a growing number of monuments costing by the trillions (of Vietnamese DONG), yet not to hear the heart-wrenching cries of mothers who have children going to school every day by swimming through high rivers and sometimes swept away not to be seen again, or the mourning cries of the petitioners that shake one’s heart all over the world because their house and land was raided and robbed by the regime and ending with a homeless life, wandering about aimlessly in hunger. Yet, the communist regime pretended not to hear these cries.

Speaking of the right to speak / expression : One must know, that local fishermen (and laymen) are entitled only to weep in silence, but if they so much as to voice or cry out, or march together down the road in demonstration, or ask for simple justice such as the right for compensation from (poisoned) dead fish (which is their livelihood) in toxic environment (devastated by Formosa chemical dumping), the police would immediately and ruthlessly suppress and oppress, while the state media are commanded to ignore or not to speak about. These cries of the fishermen will quickly fade, and in the end, only their poverty (misery) endures.

Speaking of information: The visa students and the People could be allowed only to hear a one-sided information, such as the propaganda of goodwill towards communist China (policy) about “The 16 golden actions and 4 good’s” of Vietnam toward China. Yet issues concerning the loss Ban-Gioc Waterfall, the loss of the Nam Quan Gate/Pass, the loss of the Paracels and Spratly islands of Viet-Nam to China hidden and forgotten by the State and News media long ago.

Speaking of History – of being falsified and fabricated: You (the students) and people in(side) the country were brain-washed (fooled) and indoctrinated by one-sided propaganda to further benefit (and perpetuate) the regime, the communists falsified history to make idols of mass murderers such as Ho-Chi-Minh and for bringing Communism into Viet-Nam, and for making heroes out of murderers during the Vietnam War, such as the killing of thousands of land owners during the Agricultural (Land Reform) Revolution (in the 1950’s) in North Vietnam, and the massacre of innocent victims during the (Mau-Than Jan 30, 1968 – Sep 23, 1968) TET OFFENSIVE (of Hue, Central Vietnam). These killing fields stand testimonial to the collective burial of many citizens, yet the Regime would make a hero out of Ho Chi Minh (for having saved the country and served as the father of the nation).

Because they want to reinforce their permanent totalitarian regime (ie: they want to hold onto power), the communists of Viet-Nam have tried to brain-wash and train the younger generation’s mind to be absolutely loyal to the Communist Party, by following the slogan strictly and by implementing the objectives: “To harvest a ten-year benefits, plant trees – but for a hundred years of benefits, plant humans”. However one would understand these issues, these VietSoc students are but tools planted by the communists of Vietnam, to eventually serve the evil Party only.

It is time for you, the VietSoc members-students, to wake up, and recognize the true nature of the Communist Party, a party of robbers and criminals, who had a free hand in looting, causing terror, and who had oppressed and plundered state assets only to hide and disperse abroad the state riches for their personal enjoyment and their wife and children.

Dear, O Dear (Vietnamese) visa students and members of VietSoc ! The Viet Nation is at a cross road, and the nation’s independence is at risk, the communist of Viet-Nam had put the Party’s interests above that of our Nation to strengthen its hold of powers and Regime, by selling out to the enemy (China) and thus putting our nation on the path to slavery of another thousand years. So, regardless of your background or birthplace or social upbringing, you should stand shoulder-to-shoulder with the Citizens in-country to demand the rights to live as humans, and the right to protect the Land.

Keep in mind, that whether or not Viet-Nam could obtain freedom, democracy, justice and human rights, the responsibilities will rest with you (and will be yours to bear), as well as the destiny of the (Viet-) Nation, and the survival of the Country is in your hands.

We are overseas Vietnamese (by origin and culture), who will always love and support the next generation of youths and students on the path to make history, to up root internal enemy – the dysfunctional and decaying Communist Party, and take back the right to defend the Land.

As to the members of VietSoc, if your still have in your heart some love for Viet-Nam, you must immediately stop these harmful activities and avoid Communist Party agents – who abuse your youth and energy – through their propaganda purposes: those who are coward when facing the enemy, yet viciously oppressive toward their own citizens.

 

Following is the real life of Ho Chi Minh in Vietnamese:

https://damtrungphan.wordpress.com/2017/02/24/huyen-thoai-ve-ho-chi-minh-gs-tran-gia-phung/

HỘI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM – HTNTNVN / VBPMA – VIETNAMESE BOAT PEOPLE MEMORIAL ASSOCIATION

Thông Báo

Được sự tín nhiệm của cộng đồng người Việt Quốc Gia tại Vùng Đại Đô Thị Toronto, và sự đồng ý của City of Mississauga, Hội Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam / Vietnamese Boat People Memorial Association (HTNTNVN / VBPMA), thông báo cuộc thi chọn mẫu tượng đài cho công trình xây dựng Tượng Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân VIệt Nam trên khu đất đã được CĐVN và TP Mississauga đồng  chấp thuận tại 3650 Dixie Road (SW Dixie – Bủnhamthorpe),  Mississauga. Mọi thắc mắc, xin liên lạc với Ban tổ chức (VBPMACanada@gmail.com).

THỂ LỆ CUỘC THI SÁNG TÁC MẪU TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN VIỆT NAM

  1. MỤC ĐÍCH
  • Xây dựng công trình tượng đài thuyền nhân để ghi nhớ một giai đoạn lịch sử đau thương của người Việt, cái giá mà người đi trước đã phải trả để các thế hệ sau được sống trên mảnh đất tự do.
  • Chọn tác phẩm xuất sắc nhất về ý tưởng sáng tạo, nội dung sâu sắc, tính thẩm mỹ cao và phù hợp với không gian đặt tượng đài.

 

  1. YÊU CẦU
  1. Nội dung:
  • Tưởng nhớ đến hàng trăm ngàn đồng bào đã bỏ mình trên cuộc hành trình tìm tự do.
  • Nói lên lòng biết ơn của người Việt tị nạn đối với đất nước và người dân Canada.
  • Nhắc nhở các thế hệ gốc Việt tương lai về lịch sử bi hùng của người tị nạn, để họ nhớ đến quê hương Việt Nam, về cội nguồn và sự gian nan của thế hệ đi trước, đồng thời nỗ lực đóng góp công sức của mình cho quê hương thứ hai Canada.
  • Nơi xây dựng Tượng Đài Tưởng Niệm là một địa điểm đẹp và rất có ý nghĩa để cử hành các sinh hoạt cộng đồng và du khách đến thăm viếng.
  1. Kỹ Thuật:
  • Tượng Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân sẽ được xây dựng trên khu đất trước Thư Viện Burnhamthorpe (góc Tây Nam của ngã tư Burnhamthorpe Rd. & Dixie Rd), địa chỉ 3650 Dixie Road, Mississauga, L4Y 3V9, Ontario, Canada.
  • Diện tích khu đất nơi đặt tượng: đường kính 30ft
  • Kích thước bệ đỡ thân Tượng: 6ft x 6ft x 4 ft (dài x rộng x cao)
  • Chiều cao tối đa của bức tượng : 6ft
  • Trọng lượng tối đa của Tượng đài: 3000kg
  • Chất liệu của Tượng đài: Đồng (bronze)
  1. Nghệ thuật:
  • Bố cục tượng và đài tỉ lệ hài hòa, phù hợp với không gian đã được thành phố chấp thuận, có khoảng cách và tầm nhìn tốt nhất, thuận tiện trong quá trình xây dựng.
  • Chất liệu của bức tượng: Việc sử dụng chất liệu cho tượng đài và các công trình phụ trợ, ngoài việc thể hiện được các nhu cầu về mỹ thuật, kiến trúc còn phải mang tính bền vững cho những thế hệ mai sau.

 

  • ĐIỀU LỆ
  1. Đối tượng tham dự:
  • Cá nhân, nhóm tác giả, họa sĩ, điêu khắc gia, kiến trúc sư. Các thành viên trong Ban Tổ Chức, và Ban Giám Khảo không được dự thi.
  1. Thời gian tổ chức cuộc thi:
  • Vòng 1: Từ ngày ra thông báo Thể lệ này đến hết ngày 20/5/2017.
  • Vòng 2: Từ ngày 20/5/2017 đến hết ngày 30/6/2017,
  1. Địa điểm đăng ký và tiếp nhận bài thi:

Vietnamese Boat People Memorial Association (VBPMA),

3356 Tudor Gate, Mississauga, ON L5L 3C7, Canada

(Tel): 1 (905) 820-2376

(Email): ngthnguyen@gmail.com

2.Điều kiện về hình thức, nội dung, kích thước, số lượng, chất liệu mẫu phác thảo, Ban Tổ Chức có toàn quyền thay đổi các điều kiện không cần báo trước.

  1. Sáng tác mẫu bản vẽ, cụ thể:
  • Vòng 1: Thực hiện bản vẽ trên giấy, cụ thể:
  • Mỗi tác giả / nhóm tác giả có thể nộp từ 01 đến 03 tác phẩm.
  • Hồ sơ tham gia gồm: Bản phác thảo ý tưởng, kèm mô tả kích thước.
  • Về bản phác thảo ý tưởng: bản vẽ hoặc ảnh chụp mô hình tác phẩm ở ba góc độ khác nhau
  • Đối với bản vẽ: xin thể hiện toàn bộ tác phẩm ở ba hướng khác nhau: hướng nhìn thẳng thể hiện toàn bộ tác phẩm và hai góc khác tùy chọn. Trên bản vẽ có ghi chú kích thước thật của tác phẩm.
  • Đối với ảnh chụp mô hình tác phẩm: xin chụp ảnh mô hình tác phẩm ở ba hướng khác nhau: hướng nhìn thẳng thể hiện toàn bộ tác phẩm và hai góc khác tùy chọn.
  • Vui lòng không sử dụng các hiệu ứng đặc biệt (special effects) khi chụp như ánh sáng, ống kính chuyên dụng, hiệu ứng, bộ lọc.
  • Phương thức nộp hồ sơ dự thi: nộp trực tiếp qua bưu điện hoặc qua địa chỉ email.
  • Vòng 2: Thực hiện mô hình bằng thạch cao, cụ thể:
  • Trong số các tác phẩm tham gia cuộc thi nhận được trong vòng 1, Ban Tổ chức sẽ mời Ban Giám Khảo chọn 3 (ba) tác phẩm xuất sắc nhất vào Vòng 2. Các tác phẩm được chọn vào Vòng 2, trong thời gian từ ngày 20/5/2017 đến hết ngày 30/6/2017, sẽ phải được hoàn thiện phác thảo với mô hình bằng thạch cao. Các mô hình sẽ được trưng bày trong buổi tiệc gây quỹ tại Misissauga, Canada vào ngày 15 tháng 07, 2017.
  • Tài liệu nộp thi các tác phẩm được chọn vào Vòng 2 của cuộc thi bao gồm:
  • Mẫu tượng có kích thước mỗi chiều trong khoảng từ 1ft đến 1.5ft (dài x rộng x cao), chất liệu thạch cao.
  • Trình bày ý tưởng tạo hình, nội dung tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm (trên khổ giấy A4).
  • Trong 3 (ba) mẫu tượng thu nhỏ này, Ban Tổ chức chỉ chọn 1 (một) tác phẩm được dùng để làm mẫu cho công trình xây dựng Tượng đài Thuyền Nhân mà thôi. Tác giả của tác phẩm được chọn sẽ có thời gian từ ngày 30/6/2017 đến 30/3/2018 để thực hiện mẫu tượng thật với tỉ lệ 1:1, chất liệu bằng thạch cao.

     4.Trên tác phẩm dự thi: không ghi tên hoặc bút danh tác giả / nhóm tác giả trên tác phẩm dự thi.

  • Ban Tổ chức không chịu trách nhiệm với những tác phẩm bị hư hỏng trong quá trình vận chuyển, nộp bài dự thi.
  • Ban Tổ chức không chấp nhận:
  • Các tác phẩm dự thi không theo đúng qui định điều lệ,
  • Các tác phẩm đã sử dụng ở nơi khác,
  • Không trả lại tác phẩm sau khi kết thúc cuộc thi.

Tác phẩm dự thi không vi phạm luật bản quyền tác giả.

     5.Thành viên Ban tổ chức: Ông Dương Thành Lợi, Ông Đàm Trung Phán, Ông Lê Thuần Kiên, Ông Nguyễn Ngọc Duy, Ông Nguyễn Thành Nguyên, Ông Nguyễn Phan Pha, Cô Nguyễn Thị Bích Thi, Bà Thái Quỳnh Trúc, Ông Võ Thành Tân.

6.Ban Giám Khảo: Sẽ được thông báo sau.

    7.QUYỀN LỢI VÀ NHIỆM VỤ CỦA TÁC GIẢ

  • Tác phẩm tham gia cuộc thi phải bảo đảm thực hiện đúng theo luật bản quyền tác giả, tác phẩm chưa tham dự bất kỳ cuộc thi nào trước đó.
  • Ba (3) tác phẩm được chọn vào vòng 2 sẽ được nhận CDN$1,000.00 (Một ngàn Gia Kim) cho mỗi tác phẩm, để trang trải chi phí mua vật liệu để thực hiện mô hình bằng thạch cao.
    • Thời gian thanh toán chi phí cho các tác giả: trong vòng mười ngày sau khi Ban Tổ chức nhận được mô hình bằng thạch cao theo đúng qui định của Thể lệ này.
    • Hình thức thanh toán: ngân phiếu.
  • Tác phẩm xuất sắc nhất được chọn cuối cùng sẽ được nhận CDN$5,000.00 (Năm ngàn Gia Kim), để trang trải chi phí mua vật liệu để thực hiện mẫu tượng thật bằng thạch cao.
    • Thời gian thanh toán chi phí cho tác giả: trong vòng mười ngày sau khi Ban Tổ chức nhận được tác phẩm mẫu tượng thật bằng thạch cao theo đúng qui định của Thể lệ này.
    • Hình thức thanh toán: ngân phiếu.
  • Tác phẩm xuất sắc nhất được chọn sẽ được trao giải Nhất, trị giá CDN$30,000.00 (Ba mươi ngàn Gia Kim).
    • Thời gian thanh toán cho tác giả của tác phẩm được trao giải: sau khi Ban Tổ chức nhận được tác phẩm mẫu tượng thật bằng thạch cao theo đúng qui định của Thể lệ. Giải sẽ được trao vào ngày khánh thành (dự trù là ngày 30/4/2019).
    • Hình thức thanh toán: ngân phiếu.
  • Hai tác phẩm còn lại sẽ được trao giải khuyến khích, trị giá CAD$2,000 (Hai ngàn Gia Kim).
    • Thời gian thanh toán cho tác giả của tác phẩm được trao giải: Giải này sẽ được trao vào ngày khánh thành (dự trù là ngày 30/4/2019)
    • Hình thức thanh toán: ngân phiếu.
  • Tác giả / nhóm tác giả có tác phẩm được chọn cuối cùng để làm mẫu thể hiện tượng đài có thể được mời tham gia trong việc xây dựng tượng đài, nếu không gặp các trở ngại.
  • Tác phẩm cuối cùng được chọn làm mẫu thể hiện tượng đài sẽ thuộc quyền sở hữu, sử dụng, quản lý của Ban Tổ chức. Bản quyền tác giả phải chuyển giao lại vô điều kiện cho Ban Tổ chức để Ban Tổ chức chuyển giao cho thành phố sau khi hoàn tất tượng đài.
  • Tác giả có thể tham khảo các tài liệu có liên quan đến dự án tượng đài.

Ban tổ chức mong nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của các cá nhân, nhóm tác giả hoặc tập thể, họa sĩ, nhà điêu khắc, kiến trúc sư trên toàn thế giới gửi những mẫu sáng tác phác thảo chất lượng cao tham gia cuộc thi để lựa chọn được mẫu phác thảo thích hợp nhất cho việc xây Tượng Đài Thuyền Nhân này.

Thể lệ cuộc thi hoàn toàn có thể có sự thay đổi không cần báo trước. Xin các tác giả dự thi vui lòng liên lạc trực tiếp với Ban Tổ chức ghi ở trên, trước khi nộp tác phẩm dự thi để biết được Điều lệ cập nhật mới nhất.

 

BAN TỔ CHỨC

 

PS:

Youtubes và hình ảnh nơi xây dựng Tượng Đài Thuyền Nhân Việt Nam tại Mississauga:

 

1.YOUTUBES ON VBPMA LAND SITE:

  1. PHOTO ALBUM ON VBPMA LAND SITE:

https://photos.google.com/share/AF1QipNvpoE4EXqbaI_J2gD7bvbURBz5ksvRqMCMe79s_QhAJs8nExpBmEKSqh-DVbwC9Q?key=SEt1X1FoS191cmQxOVFoOU1oTlppSkwxTVBYNzVn

 

 

Feb. 14, 2017

LƯỢC THUẬT GIA PHẢ HỌ ĐÀM (Thận, Quang, Duy, Trung…) TỪ ĐẦU THẾ KỶ 14 ĐẾN THẬP NIÊN 1970

toc-pha-ho-dam

Lời mở đầu.

Người Việt chúng ta khi về già thường muốn tìm về cuội nguồn bằng cách đọc lại gia phả của giòng họ nhà mình. Năm 2011, anh em chúng tôi (Đàm Trung Pháp, Phán) may mắn đã được GS Đàm Quang Hưng tặng cho cuốn Đàm Thận Tộc Phả trong đó có ghi lại tên những người nam họ Đàm theo một thứ tự rất khoa học (theo cặp số đặc trưng). Việc tra tìm tên người (phái nam mà thôi, theo lối các cụ ngày xưa), giống như tra tụ điển vậy. Chúng tôi nhận thấy GS Đàm Quang Hưng (chi họ Đàm Quang ở Quảng Yên), thuộc thế hệ thứ 19, cùng thế hệ với nam giới Đàm Trung (con / cháu của thế hệ Đàm Duy và cha/chú/Bác của thế hệ Đàm Hiếu…) nhưng chi Đàm Quang thuộc chi trưởng cho nên GS Đàm Quang Hưng gọi anh chị em chúng tôi là các cô, các chú. Ngoài đời thì GS Hưng là vị Thầy kính mến của Đàm Trung Phán . Xin chân thành cám ơn GS Đàm Quang Hưng đã ưu ái trao tặng cho chú em / học trò của Thầy cuốn sách quý này.

Tháng 11, 2016 trong lúc tôi mở tất cả các hộc tủ để đi kiếm một cái hóa đơn (bill) mà chẳng thấy. Khi đóng cái hộc tủ cuối cùng, không tài nào tôi đẩy nó vào được, bèn phải kéo nó ra để quan sát tại sao. Hóa ra, ở phía bên trong tủ, trên sàn nhà, tôi thấy có rất nhiều giấy tờ. Kỳ lạ thay, tôi thấy một tập giấy viết tay, khổ dài (legal sized) : đây là bài viết về gia phả của giòng họ nhà chúng tôi bắt đầu từ thế kỷ 14 cho đến đời thứ 19 của họ Đàm (thập niên 1970). Tài liệu này đã được thân phụ chúng tôi, cụ Đàm Duy Tạo (*) , viết vào ngày 16/6/1974 khi cụ đã 79 tuổi, gần 1 năm trước khi cụ di tản sang Hoa Kỳ.

Tôi bàng hoàng ngồi đọc những giòng chữ thân thương đầy chân tình của người cha già viết cho đứa con đang sống xa nhà . Cha già chỉ sợ đứa con đang sỗng ở hải ngoại  không biết rõ về cội nguồn của mình. Cụ không quản khó khăn vì mắt đã mờ, tay đã run nhưng vẫn cố ngồi xuống viết cho tôi 14 trang giấy khổ dài (legal sized) , dùng kính “lúp” để viết và nhờ bạn tôi mang sang Canada đưa cho tôi. Tôi hoàn toàn không còn nhớ gì về lá thủ này vì tôi đã để quên nó trong cái hộc tủ đã quá lâu để rồi không còn biết gì về nó nữa. Tôi có cảm tưởng là Cụ không thục sự đã qua đời vì dường như Cụ luôn luôn ở bên cạnh tôi, nhất là trong những lúc tôi gặp buồn bực hay những khó khăn của cuộc đời.

Năm 2005, vọ chồng anh chị Đàm Trung Pháp và vợ chông tôi đã cùng nhau về thăm quê nội tại Bắc Ninh, Việt Nam và tôi đã chụp được nhiều tấm hình và nhất là đền  thờ của Quốc sư Đàm Thận Huy dưới đây:

dsc00048

Xin mời đọc bài viết về gia phả của cụ Đàm Duy Tạo (*) :

Họ Đàm nhà ta đến định cư tại làng Hương Mặc, tổng Nghĩa Lập, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh, nước Đại Nam, kể đã lâu đời lắm, nhưng vì trải nhiều cuộc loạn ly, nên gia-phả thất lạc hoài và chỉ còn ghi chép lại được từ đời cụ Vô-Tâm, nghĩa là từ hồi  đầu thế kỷ thứ 14 đến nay. Cụ Vô-Tâm sống vào hồi biến loạn liên miên vì cuộc chiến tranh với giặc Minh của nhà Hồ, nhà Hậu Trần và nhà Lê. gia-pha-lang-me-x-dsc00031Bởi những cuộc binh biến kế tiếp, 2, 3 chục năm ấy mà gia-phả họ Đàm nhà ta mất hết cả, cho nên sự tích các Cụ từ xưa đến khi đó đều tiêu tán hoàn toàn. Vì vậy mà Tờ lược kê này đành lấy Cụ Vô-Tâm làm Thủy Tổ, và ghi là đời thứ I.

Đời thứ I.

Cụ ông hiệu Vô Tâm, húy (quên), Cụ bà hiệu Từ-Hạnh, họ, húy (đều quên). Hai cụ sống chừng vào hồi cuối Trần, đầu Lê (cuối thế kỷ 13, đầu thế kỷ 14). Có 2 con trai, ông con trưởng có đỗ Trung Khoa, con cháu suy vi, đến đời Gia Long thì thật hết. Ông con thứ hai là Cụ Minh Đạo.

Đời thứ II.

Cụ Ông hiệu là Minh Đạo, húy (quên) được truy tặng là Thái Bảo, Giáo Nghĩa Hầu. Cụ bà hiệu là Từ Ý, húy và họ (đều quên), được truy phong Thái Bảo, Liệt phu nhân.
Hai cụ được 2 con trai. Ông con trưởng tức là Cụ Tiết. Ông con thứ hai húy là Thận Giản, đỗ Hoàng-Giáp, làm quan đến Thượng thư, hiệu là Minh Huệ, không có con trai.

Đời thứ III.

gia-pha-dsc00038Cụ ông húy là Thận-Huy, hiệu là Mạc Trai, đỗ tiến sĩ triều vua Lê Thánh Tông, được vào Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú, và được Vua Lê Thánh Tông khen là “Thiên hạ đệ nhất danh thi nhân”. Cụ làm quan đến Lễ Bộ Thượng Thư, được phong tước Lâm Xuyên Bá, Cụ khởi nghĩa đánh Mạc trong 4 năm (1522 – 26) không được, rồi uống thuốc độc chết, sau được phong là Tiết Nghĩa Đại Vương, thụy là Trung Hiến.

Cụ Bà họ Nghiêm, húy (quên) người làng Quan-Độ (gần làng Hương Mạc nhà ta), Cụ theo Cụ ông khởi nghĩa rồi mất trong quận, nên sau được phong là Hoàng Hậu Phi Nhân. Hai cụ đều được phong là Phúc Thần lập đền thờ ở làng.
Ông thứ 2 và ông thứ 4 đều mất tích, có lẽ vì trốn nhà Mạc. Ông thứ 3 húy là Uyên Lương đỗ Nho Sinh trúng thức (tức như Cử nhân sau này) làm Tả Tư Mạc, Thừa Chính Sư, tức là tổ chi Cụ Tả ngày nay (Bọn nhà Nha Di đều là con cháu Cụ Tả).

Đời thứ IV.

Cụ ông hiệu là Phúc Thiện, húy (quên) làm Tri phủ phủ Quốc Oai, khi nhà Lê mất, cụ bỏ về. Cụ bà, tên họ quê quán đều quên cả. Hai cụ được 1 con trai tức là Cụ Phúc Lương.

Đời Thứ V.

Cụ ông hiệu là Phúc Lương, húy (quên), Cụ thi đỗ hồi nhà Mạc, nhưng không ra làm quan, chỉ nhận hàm Ấm Thụ là Hiển Huệ đại phu.
Cụ bà họ Nguyễn người làng Hoa Thiều (làng Mộc). Hai cụ đwợc 2 con trai. Ông trưởng húy là Quang Tán đỗ Nho Sinh trúng thức, tức là tổ chi họ Đàm Quang ở Quảng Yên bây giờ. Ông thứ 2 tức là Cụ Phúc Trí.

Đời thứ VI.

Cụ Ông húy là Quang Tán, hiệu là Phúc Trí. Cụ Bà người Phù Khê, con gái ông Giám Sinh họ Quách. Họ này học giỏi đỗ rất nhiều đời Mạc và Hậu Lê. Hai cụ được 1 con trai là Cụ Trực An.

Đời thứ VII.  

Cụ ông húy là Hùng, tự là Quang Minh sinh năm Nhâm Thân 1592, mất năm 1634, vào ngày 21 tháng 7 năm Giáp Tuất. Sinh thời cụ được dân làng mến phục, là người hiền lành, đứng đắn, bầu làm Xã trưởng, sau được phong tặng hàm Thái Bảo, Lễ Bộ Tả Thị Lang. Cụ bà họ Đàm, húy là Quế (có chỗ nói là Khuê), người làng nhà, mất ngày 18 tháng 4 năm Mậu Thân 1668 thọ 67 tuổi. Cụ nội trợ giỏi, ở góa, khéo nuôi dậy con được thành đạt, nức tiếng hiền đức. Hai cụ được 1 con trai tức là Cụ Thuần Nhã.

Đời thứ VIII.

Cụ ông húy là Tung, tự là Lỗ Phu, hiệu là Thuần Nhã, sinh năm Giáp Tý 1624, đỗ thủ khoa thi Hương năm Bính Ngọ 1666, được lục dụng, bổ chức Giáo Thụ dạy Kinh Thư ở Quốc Tử Giám, sau được bổ làm Tri Phủ Kiến Sương. Cụ làm quan rất thanh liêm, dậy học nhiều người thành tài. Cụ mất ngày 17 tháng 3 năm Kỷ Mùi 1679, sau được phong tặng hàm Tham Chính, Đô Ngự Sử, Thái Bảo.  Cụ bà họ Nguyễn, hiệu Từ Tố, người làng Yên Phụ (gần làng Hương Mặc), con gái Ông Nguyễn Khắc Khoan và cháu ngoại Ông Lan Quận Công, Thượng thư Thái Phó Nguyễn Thật, cụ mất ngày 11 tháng 10 năm Kỷ Mão 1699. Cụ là người nhân từ, thích chuyện phúc đức. Hai cụ được 4 con trai. Ông trưởng tức là Cụ Quốc Sư hiệu Trung Vĩ. Ông thứ 2 là Trung Thứ hiệu là Cương Đoán, đỗ Nho sinh trúng thức, tức là tổ chi Ông Lý Thuyết, Ông Thê Huấn vừa rồi. Con cháu Cụ Trung Thứ này có nhiều ông học giỏi như Cụ Huyên Điện Bao tên Bình Cách, Cụ Quốc Tử Giám trợ giáo tên Đoan-Trọng. Ông thứ 3 hiệu là Phúc Dụ, đỗ Nho sinh trúng thức, tức là tổ chi Ông Lý Lô, Ông Đồ Ký vừa rồi. Ông thư 4: thất tryền.

Đời thứ IX.

Cụ húy là Công Hiệu, hiệu là Mai Hiên, thụy là Trung Vĩ. Cụ đõ Sĩ Vọng, trải làm các chức Huấn Đạo, Tri Huyện, Tri Phủ. Sau vì nổi tiếng liêm chính, cương quyết và học giỏi được chúa Trịnh cứ vào trông nom dậy học đích tằng tôn là Trịnh Cương, và được thăng lên nhiều chức to như Bồi Tụng, Thị Lang, Thượng Thư, Tri Trung thư giám, Thiếu bảo Quốc Lão. gia-pha-x-dsc00051Khi Trinh Cương được lên ngôi chúa, quyền vị của cụ thật cao tột đỉnh, nhưng nhà vẫn nghèo, chỉ có mấy mái nhà tranh thấp nhỏ. Khi Cụ mất, cụ được phong là Quốc Sư Đại Vương, cho nên con cháu sau này vẫn gọi vắn tắt là Cụ Quốc. Cụ sinh ngày 24 tháng 10 năm Nhâm Thìn 1652, mất ngày 2 tháng 5 năm Tân Sửu 1721. Cụ bà họ Nguyễn, hiệu Tỉnh Thuyên, nười làng Vân Điềm, dòng dõi Cụ Thái Phó Lan, Quận Công Nguuyễn Thật, sinh năm Quý Tỵ 1653, mất ngày 6 tháng 2 năm Giáp Thân 1704. gia-pha-bia-dam-quoc-su-xx-dsc00044Hai cụ được 2 con trai. Ông trưởng tức Cụ Vụ, hiệu Đôn Hậu. Ông thư 2 húy là Công Vị mất sớm, không con.

Đời thứ X.

Cụ Ông húy là Đình Khanh, tự là Như Gia, hiệu là Đôn Hậu, đỗ Nho Sinh Trúng Thức, chỉ làm quan đến chức Tư Vụ bộ Binh rồi xin về. Cụ mất ngày 6 tháng 11 năm Bính Ngọ 1726. Cụ bà họ Nguyễn, húy Chiêm, người xã Đông Dư, huyên Gia Lâm, mất ngày 13 tháng 6 năm Giáp Dần 1734, tên hiệu là Diệu Đức. Hai cụ được 2 con trai. Ông trưởng tức là Thận Du, đỗ Nho Sinh trúng thức, làm Tri huyện Đông Yên rồi về, tức là tổ chi Cụ Huyện bây giờ, các con cháu đạo vừa rồi rất đông, nhưng ông quen biết nhiều ông Tổng Bẩy, ông Phó Thám, chú Thu, chú Khải.

Đời thứ XI.

Cụ Ông húy Đình Dung, sau đổi là Thận Trưng, tự là Như Bảo, hiệu là Ôn Phác, sinh ngày 7 tháng 6 năm Đinh Sửu 1697, lấy hàm tập ấm được bổ chức Đồng Tri phủ phủ Lạng Giang và phủ Phú Bình, rồi xin về hưu, mất ngày 20 tháng 6 năm Bính Tý 1756.
Cụ Bà họ Nguyễn húy Trương, người làng Dương Húc, huyện Tiên Đa (gần Nội Duệ) là con gái nhỏ họ Tiến Sĩ Thượng Thư Nguyễn Đương Hồ, sinh ngày 15 tháng 7 năm Nhâm Ngọ 1702 và mất ngày 11 tháng 12 năm Bính Dần 1746.
Hai cụ có 4 con trai, và các bà vợ lẽ sinh được 2 trai nữa. Ông trưởng húy là Liêu, đỗ Nho Sinh trúng Thức, làm tri huyện Thanh Hà, con cháu chi này bây giờ hết cả rồi. Ông thứ 2 tức là Cụ Úy, hiệu Cương Mẫn. Ông thứ 3 tên là Thận Phó đỗ Tam Trường (Tú Tài), tức là tổ chi ông Tư Cổn, Năm Cổn, bây giờ có lẽ hết người rồi. Ông thứ 5 tên là Sứng, bây giờ con cháu suy đã lâu, chỉ còn bố con chú Cò Điệt và lũ bố con các chú Toàn, chú Khiêm. Ông thứ 6 húy là Khản, không có con trai.

Đời thứ XII.

Cụ Ông húy là Thận Nghi, hiệu là Cương Mẩn sinh năm Ất Tỵ 1725, đỗ Nho Sinh trúng thức năm 19 tuổi, vì cụ đỗ cao được bổ chức huyện Úy huyện Thọ Sương, nhưng chỉ làm quan ít lâu rồi xin về nghỉ, tính cụ phong lưu, phóng khoáng, thích chơi ngâm vịnh những thú phong cảnh đẹp nơi ruộng vườn cây cảnh. Cụ mất ngày 15 tháng 10 năm Mậu Tuất 1778, tên hiệu là Cương Mẫn.
Cụ bà họ Vũ, húy Loan, người làng Phùng Sá, huyện Thạch Thất, Sơn Tòng, con cụ Tiến Sĩ Vũ Đình Dụng là Đốc thị tỉnh Nghệ An, cụ sinh năm nào mất năm nào đều quên cả. Chỉ nhớ giỗ ngày 22 tháng Giêng. Hai cụ được 3 con trai, và cụ vợ lẽ được 2 con trai nữa. Ông con trưởng tức là Cụ Giáo Hiệu Hoẵng Nghị. Ông thứ 2 là Thân Cử, tức là tổ sinh bọn Ông Điền, và chú Trì, Hoãn vừa rồi là Tổ sinh bọn Ông Điền, và chú Trì, Hoãn vừa rồi. Ông thứ 3 tên là Đảng không con. Ông thứ 4 tên là Súy, nay hết con cháu rồi. Ông thứ 5 tên là Thận Cường, tứ là Tổ sinh ra các ông Tư Sóc, Trương Cánh, Ông Tỉnh, cá chú Cả Thiếu, chi các ông Tự, Biện Sự Đương Tinh, vừa rồi.

Đời XIII.

Cụ ông húy là Thận Vi, hiệu Hoàng Nghị sinh năm Đinh Sửu 1757, đỗ Nho Sinh trúng Thức năm 17 tuổi (khoa Giáp Ngọ 1774), vua Quang Trung bổ Cụ làm chức Thư Ký ở Cao Bằng, cụ đi làm được ít lâu thì cáo bịnh xin về. Cụ học giỏi chữ tốt, mất ngày 22 tháng 9 năm 70 tuổi.
Cụ bà họ Trần húy Nga, người làng Cao Đỉnh, huyện Từ Liêm, con Cụ Trần Hải Liễn làm Hình Bộ Viên Ngoại. Cụ mất ngày 3 tháng 10, năm sinh năm mất đều quên, chỉ biết cụ thọ 105 tuổi. Hai cụ được 3 con trai. Ông Trưởng, húy Thận Đức, tục gọi là Cụ Hàn, vì Tổng Trấn Bắc Thành hồi đó là Ông Nguyễn văn Thành chiêu tập các văn sĩ xứ Bắc làm mục khách goi là Văn Hàn, cụ được mời vào. Cụ Hàn tức là cụ sinh chi các ông Đồ Dưỡng, Đương Từ, Cả Cháu. Ông thứ 2 tức là cụ Đồ hiệu là tỉnh Oa. Ông thứ 3 tên là Hựu, sinh năm Bính Ngọ, đỗ cử nhân Khoa Đinh Mão đời Gia Long, đến cuối năm Đinh Mão đó thì mất ngày 26 tháng 12, không có con.

Đời thứ XIV.

Cụ Ông húy là Trí, sau đổi là Thận Trọng, sinh ngày 15 tháng 6 năm Qúy Mão 1783, đỗ Tú Tài Khoa Đinh Mão đời Gia Long. Vì Tú Tài khi đó quen gọi là Sinh Đỗ, nên vẫn gọi cụ là Cụ Đỗ. Cụ người linh lợi, mắt rất tinh, dậy con cháu rất nghiêm, lễ phép. Cụ mất ngày 5 tháng 9 năm Ât Sửu 1865. Cụ lấy Cụ Trẻ họ Nguyễn húy Giám Trước, hơn 10 năm sau mới lấy Cụ Già họ Nguyễn húy Liễn. Cụ Già người Vân Điềm, con cụ Tri Huyện Nguyễn… Cụ Trẻ người Xã Thanh Liệt, làng Quang, huyện Thanh Oai.
Cụ Già được 3 con trai. Ông Trưởng húy là Thận Dụng, đỗ Tú Tài tục gọi là Cụ Tú Quản, Cụ tài gồm Văn Vũ, đẫ được vua tôi Cai Vàng đón đi làm Quân Sư. Khi Cai Vàng thua chết, Cụ vì cớ là con cháu Cụ Tiết Nghĩa nên được tha. Con cháu cụ nay là chi Cụ Hậu Tảo bây giờ, có những các Ong Chất Miễu, Ông Hai Húc, Tư Kinh, Lý Sáu và chá anh BaĐương, anh Năm Triệu, anh Kính…v..v.. Ông thứ 2 húy là Mô sinh ra ông Đội Mỹ, các cháu là Ônh Vi, bà Giáo Miều, nay hết cả rồi. Ông thứ 3 húy là Đỉnh sinh ra Ônh Lý Thường, các con cháu cụ là bọn Ông Dị, Ông Cát, Ông Viêm. Cụ Trẻ được 1 con trai tức là Cụ Cử nhà ta.

Đời thứ XV.

Cụ Ông húy là Thận Cung, tự là Tư Đạo, hiệu là Lễ Hiên, sinh ngày 27 tháng 10 năm Đinh Sửu 1817, người cao lớn, mặt mày khôi ngô thanh tú, Cụ thông minh có tài học rộng chữ tốt, đỗ Cử nhân thứ 4 năm 25 tuổi, khoa Hội năm sau, cụ thi Hội đỗ thứ 5, nhưng Văn Kỳ thi Đình cụ rất hay mà bị vua xé quyển oan với quyển mấy người, thế là cụ chán sự đối đãi khinh rẻ của vua đối với học trò, cụ nhất định bỏ đường sĩ tiến, chỉ suốt đời chịu cảnh nghèo, đi dạy học ở vùng Sơn Tây, Vĩnh Yên và mất ngày 3 tháng 2 năm Canh Thân 1860. Cụ Bà họ Nguyễn húy Phước, người xã Xuân Lôi, tục gọi làng Dôi, huyên Võ Giòng, con Cụ Nguyễn Huy Bính, Cử Nhân, Đốc Học, sinh năm Kỷ Mão, và mất ngày 25 tháng 5 năm Bính Dần 1866. Hai cụ được 1 con trai, tức Cụ Cố nhà ta.

Đời thứ XVI.

Cụ ông húy là Vĩnh, tự là Bá Dự, sinh ngày 3 tháng 9 năm Nhâm Dần 1842. gia-pha-nghia-dia-x-dsc00026Cụ người cao lớn mạnh mẽ, mặt mày vui tươi, linh lợi, người trên phải yêu quí, tính tình khoáng đạt hào phóng, người dưới phải mến phục. Cụ không những hào hoa, lịch sự, lại còn khảng khái, cương trực, nên trên thì các quan to đều có lòng trọng nể, mà dưới thì cả đến bọn tướng giặc cũng một lòng kính phục, bởi vậy tuy sống vào đời loạn mà vẫn được ung dung. Cụ rất thông minh, nhưng lúc trẻ phải bỏ dở sự học vì gặp cảnh nhà nhiều tai biến và tang tóc, liên miên, nhất là cụ sớm mắc chứng run tay không cầm cầm được bút viết. Năm Thành Thái thứ 10 (1904) cụ được sinh phong hàm Hàn Lâm thị Giảng, mấy ông bạn Thượng thư, Tổng Đốc khuyên cụ ra làm quan thì được bổ Tri Phủ, nhưng cụ không ra. Cụ mất ngày 15 tháng 10 năm Bính Thìn 1916. Cụ lấy Cụ Bà trước họ Nguyễn húy Ý, người Thiết Bình, làng Ngườm, con quan Bố Chính Hà Nội Ngyễn Chu Thuật, được 2 con trai. Ông Trưởng húy Liêm, tức là Cụ Đốc. Ông thứ 2 húy Chuyên ( ông nội của Đàm Thị Đán, Đàm Trung Thao, Pháp, Phán, Thang), tục gọi là Cụ Chắt, Cụ Bà rất hiền đức, lễ phép, tuy con một vị quan lớn và giầu có, nhưng rất kính trọng nhà chồng. Cụ sinh ngày 2 tháng 9 năm Tân Sửu 1841 và mấtt ngày 15 tháng 5 năm Kỷ Tỵ 1869, hiệu là Thục Hạnh.

Cụ Bà Thục Hạnh mất được 5 năm thì Cụ Ông lấy Cụ Kế thất họ Chu húy Lọ (sau đổi là Thọ), người lành Thanh Liệt (làng Quang), huyện Thanh Oai, Tỉnh Hà Đông Ở gần Hà Nội. Cụ Kế mất ngày 6 tháng 2 năm Ât Mão 1915, hiệu là Hậu Trực, Cụ Kế chỉ được 3 con gái là Bà Viên tục gọi là Bà Giáo Từ, Bà Khương, Bà Đổi, tục gọi là Bà Ấm Nành. Bà Viên lấy Ông Đặng Vũ Chiểu, người Hành Thiện Nam Định, được 7 con trai là các chú Giục, Khiêm, Tiềm, Giỏi, Lượng, Vân, Tích. Bà Khương (Bà Cô Tổ/Bà Tổ Cô thường hay phù hộ cho ĐT Phán, xin xem bài viết về Gọi Hồn của ĐT Phán ** ) không lấy chồng mất năm 29 tuổi. Bà Đổi lấy ông Nguyễn Tiến Ân, tục gọi Ông Ấm Cần, người làng Hiệp Phù, làng Nành, con ông Tuần Phủ Nguyễn Tân, được 1 trai là chú Ứng và 3 con gái là các co Nga, Thanh (tục goi là Nghé) và Thuận (tức là cô Cả Cự).
Sau Cụ lại lấy thêm cô Hầu là bà Phạm thị Thủng được 4 con trai là các ông Hanh, Khánh, Kinh (tục gọi là ông Nhỡ), Thứ (tục gọi là ông Tít) và 2 con gái là bà Diễm, tục goi cô Trĩm và bà Gia, tục gọi cô Trĩm con. Bà Diễm lấy ông Lê Đình Phổ, người làng Thụy Lôi (tục gọi làng Nhội), nên còn tên là Bà Đồ Nhội. Bà Gia (trĩm con) lấy ông Nguyễn Châu, người Hiệp Phu, nên còn gọi là Bà Hai Châu.

Sau đây kể rõ các điều về các ông con trai cụ Bá Dự (cụ ông của Đàm Thị Đán, Đàm Trung Ba, Thao, Pháp, Phán, Thang) ghi thứ tự bằng số La mã).

  1. Ông Trưởng:

Húy là Liêm (trước là Bình), tự là Nguyên Lệ, hiệu là My Trang, sinh ngày 22 tnáng 12 năm Tân Dậu 1861. Cụ yếu nhưng rất thông minh, năm lên 10 mới bắt đầu học Tam Tự Kinh (quyển sách vỡ lòng học chữ nho lúc trước), mà năm 15 tuổi đã làm được thơ phú (2 lối văn vần rất khó làm), năm 19, 20 tuổi đã nổi tiếng văn hay. Năm 25 tuổi đỗ Cử Nhân khoa Bính Tuất 1886. Khoa thi Hội Kỷ Sửu 1889 cụ đỗ Á Nguyên kỳ thi Hội, nức tiếng về bài Phú Tam Hòe đường được 7 phân, là bài phú thi Hội hay nhất triều Nguyễn, văn kỳ thi Đình của cụ cũng rất hay đáng lẽ được đỗ đến Thám Hoa, Bảng Nhỡn, nhưng vì ở câu cuối bài văn sách cụ vô ý viết sót mất 1 chữ mà bị hỏng tuột. Năm sau cụ được bổ Giáo Thụ phủ Lý Nhân ở Hà Nam, cụ đã bỏ không thi Hội khoa Nhâm Thìn 1892. Đến khoa Hội Ất Dậu 1895, vì quan Thượng Thư Hoàng Côn, tiếc tài của cụ, khuyên cụ cố thi, cụ mới miễn cưỡng đi. Tuy cụ bỏ nghề văn chương đã lâu, mà khoa này cụ đỗ Tiến Sĩ vẫn dễ dàng lắm. Đỗ Tiến sĩ rồi, cụ xin ra Huế làm quan với Nam Triều, tuy quyền lợi thiệt hơn làm quan ở Bắc Kỳ nhiều, nhưng vì cụ tránh tiếng làm quan với Tây. Năm 1898 cụ được bổ Đốc Học Khánh Hòa. Năm 1906 cụ được đổi về Đốc Học Thanh Hóa. Mấy năm sau đó, phép thi ta đổi mới, bỏ cả thơ phú, kinh nghĩa, là 3 thứ văn quí nhất, cho nên cụ sinh lòng chán nản cho nền Hán học, sắp bị suy tàn, rồi cụ suy yếu dần và đến năm Kỷ Dậu 1909 thì cụ mất vào ngày 29 tháng 2 dư.
Cụ lấy cụ Bà họ Vũ, húy Thực, người làng Hoàng Mai, làng Mơ, con Cụ Tú Vũ như Trân, cháu  cụ Nghè Vũ như Phiên, sinh được 6 con là các ông bà: 1) Thị Hinh, tục gọi là Tú Thanh, vì lấy ông Tú Tài Nguyễn Trinh Đàn, người làng Hương Khê, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoa. 2) Duy Tập. 3) Duy Huyên. 4) Thị Phùng, tục gọi là Bà Sét, vì lấy ông Nguyễn Văn Ngọc, con thứ 3 Cụ Đốc học Nguyễn Nhiếp, người làng Thịnh Liệt, tụ gọi làng Sét. 5) Duy Hân. 6) Thị Nhã, tục gọi Cô  Bẩy, sau gọi Cô Giáo Ngọc, vì lấy ông Nguyễn Văn Ngọc, Thanh Tra tiểu học Bắc Kỳ hồi Pháp thuộc.

Hồi Giáo thụ ở Phú Lý, Cụ lại lấy cụ trẻ họ Nguyễn húy Huân, người làng Bạch San tỉnh Hà Nam, được 1 trai là Duy Trước và 1 con gái là Thị Chức, tục gọi cô Tư Tầu, vì lấy Ông Búc Tầu, con thứ tư Cụ Tuần Phú Bùi Bành ở làng Thịnh hệt.
Dưới đây kể rõ các ông con trai cụ Đốc và các cháu chắt:

A) Ông Duy Tập tự là Bá Canh (1888-1918), đỗ Tú Tài chữ nho, mất ngày 25 tháng 8 ta, lấy Bà Nguyễn Thị Nga ở Nội Duệ được 3 gái: Hạc, Cáp, Tích và 1 trai Tăng. Con trai Ông Tăng là Hiếu Cường, Hiếu Luyện, Hiếu Thiết…B) Ông Duy Huyên, tự là Thúc Hoa (1890-1945) làm Tuần Phủ, lấy bà Nguyễn thị Thi ở Nội Duệ được 9 con trai và 5 con gái là: Trung Trường, Trung Lãng, Trung Thiện, Trung Hào, Trung Đường, Trung Bảo, Trung Lưu, Trung Canh, Trung Đồn, Thị Hải, Thị Quan, Thị Dân, Thị Ninh, Thị Phú.
Ông lại lấy bà vợ lẽ là Nguyễn thị Tiểu dược 3 trai, 2 gái là Trung Phường, Trung Kiên, Trung Cố, Thị An, Thị Đoài.

Ông còn lấy cô hầu là Thị Thái, được 1 trai là Trung Giai.
Các lũ cháu nội là:
Thị Sơn, Thị Hà con anh Trường.
Hiếu Đoán, Hiếu Cẩn con anh Lãng.
Hiếu Chiến, Hiếu Thắng con anh Thiện, Hiếu Hùng, Hiếu Cường, Thị Vân, Thị Dung, Thị Mai, Thị Hạnh, các anh kia con Ông Tuần, đều ở Bắc cả, không biết con cái ra làm sao.

C) Ông Duy Hân tự là Thúc Cảnh, tục gọi ông Ba Hân (1894-1955), lấy bà Nguyễn thị Chuyên ở Nội Duệ, sinh 6 trai là Trung Thản, Trung Đê, Trung Thành, Trung Quân, Trung Kỳ, Trung Sách. Sau khi góa vợ, ông lấy thêm bà vợ lẽ ở Làng Sinh 1 trai là Trung Phụ và 2 gái là Thị Phong, Thị Quý.

Các cháu nội của Ông Ba Hân là:
Hiếu Trung, Thúy Anh, Trân Châu, Thị Ngà, Thị Thanh con anh Thản.
Hiếu Chinh con anh Đê
Hiếu Nhương, Thị Lê con anh Thành.
Hiếu Nhuệ con anh Quân.
Thị Dung, Thị Trà con anh Kỳ.
D) Ông Duy Trước, tự là Thúc Tiềm (1887-1969) tục gọi ông Giáo Sáu, lấy bà Nguyễn thị Thi người làng Đa Ngưu, huyện Văn Giang, Bắc Ninh, sinh 2 con trai và 6 con gái là: Thị Đông, Trung Tường, Thị Hương, Thị Thục, Thị Trinh, Thị Khiết, Thị Túc, Trung Chí.

Các cháu nội ông Giáo Sáu là:
Hiếu Phong, Hiếu Đức, Hiếu Dũng, Hiếu Hạnh, Hiếu Đạo, Thị… con anh Chí.
Các cháu ngoại Ông Giáo con các chị Thục, chị Trinh, chị Hương, chị Khiết, chị Túc, có đến mười mấy người, nhưng không nhớ tên.

2. Ông thứ 2 tức là Cụ Chắt ( Ông nội của Đàm Thị Đán, Đàm Trung Ba, Thao, Pháp, Phán, Thang): Xem đời XVII ở dưới

3. Ông thứ 3 tức là Cụ Cửu Hanh, vì Thủ-Bạ được thưởng hàm Cửu Phẩm, nên gọi là Ông Cửu, lấy bà Lê Thị Dậu ở Nhội (tức là em chồng bà Trĩm) sinh 4 trai và 3 gái là chú Vân, Toại, Sính, Tiêm và các cô Hấp, Cõn, Tường.
Chú Vân chết sớm, chưa vợ con.
Chú Toại lấy vợ họ Nguyễn ở Phù Khê, sinh Trung Tiêu, Trung Khiển.
Bốn chú này đều ở Bắc cả, không biết con cái còn ai nữa.
Cô Hấp không có con. Các con cô Cõn và cô Tường đều ở Bắc, nay quên cả tên.

4. Ông thứ 4 tên là Khánh, lấy vợ họ Nguyễn ở làng Ngọc Lôi (làng Lối, gần làng Me) được 3 trai và 1 gái là các chú Hưu, Khuếch, Phúc và cô Thanh.
Chú Hưu rất hiền lành, nhưng hồi năm 1949 người Pháp tấn công vào làng, bắt đi mất tích.
Chú Khuếch hiện (1974) làm đại úy ngành Cảnh sát ở Saigon, có vợ và nhiều con nhưng không biết tên.
Chú Phúc tục gọi chú Khoác, hiện (1974) làm trung sĩ ở Gia Định có vợ và 3 con gái, không biết tên.
Cô Thanh lấy chồng người làng Phù Ninh cùng huyện với làng Me, nay có vào Nam, chồng đã chết và có nhiều con, nhưng không hỏi tên.

5. Ông thứ 5 tên là Kinh, tục gọi ông Nhỡ lấy vợ người làng Vĩnh Phục (Yên Phong), Bắc Ninh, nay cả 2 ông bà đều đã chết, có 2 con trai là chú Hương, chú Đình đều ở Bắc và 4 con gái là cô Hà, cô Xuân, cô Thu, cô Chi. Cô Xuân hiện (1974) ở Saigon chồng là Đại Úy Hùng, và có 10 con trai gái đều đẹp đẽ khỏe mạnh, và đều quên cả tên.

6. Ông thứ 6 tên là Thứ, tục gọi ông Tít, lấy vợ ở làng Cói Hội phụ (1 làng văn học ở phủ Từ Xa), được 1 gái là cô Phú, và 1 trai là chú Hữu hiện nay (1974) đều ở Bắc cả, và được tin Ông Tít đã mất rồi.

Đời thứ XVII (Ông nội của Đàm Thị Đán, Đàm Trung Ba, Thao, Pháp, Phan, Thang…)

Cụ ông húy là Chuyên, tự là Tỉnh Giả, hiệu là Quả-Nghị, sinh ngày 28 tháng 3 năm Giáp Tý đời Tự Đức (1864) và mất ngày 19 tháng 10 năm Kỷ Tỵ 1929. Cụ rất thông minh và có trí nhớ lạ lùng, nhưng tiếc thay lên đậu hỏng mắt ngay từ lúc lên 7 tuổi. Cụ tuy thất học nhưng được nghe cụ Đốc dạy học ở nhà ít lâu, nên nghĩa lý chữ nho cụ hiểu nhiều và nhớ nhiều, nhất là những thơ và câu đối các quan mừng cụ Đốc giảng cho nghe, cụ đều nhớ, cả mãi đến khi gần mất, cụ đọc lại vẫn không lầm chữ nào. Cụ ăn ở trung hậu, nói năng khúc triết, phải lẽ, gặp việc khó xử, nhiều người phải ý cụ. Cụ có trí rắn rỏi quả quyết, lại có tài định liệu, điều khiển các công việc, tuy cụ xấu mắt, ngồi một chỗ, nhưng công việc trong nhà, trong họ phần nhiều do cụ chủ trương cất đặt và cụ đều quán xuyến đầu duôi, đâu vào đó cả. Khiếu tính toán và tài suy nghĩ mẹo mực về đường công nghệ của cụ cũng khó người bằng. Vì tài tính toán lại nhớ nhiều, kinh nghiêm nhiều nên những công việc làm nhà cửa, nghe kể kích thước rồi, cụ chỉ nhẩm trong nửa giờ là ra ngay số gỗ, gạch vôi ngói và công thợ. Mỗi khi Cụ Đốc nói chuyện với các quan bạn về tài trí thông minh của ông em, cụ thường tỏ vẻ thương tiếc nghậm ngùi. Cụ Đốc đi làm quan vắng, vẫn giao cho cụ phiên xử việc làng, đều được êm thắm cả, ai cũng vui theo. Cụ suốt đời làm ăn cần kiệm, có chí nuôi con cháu nối nghiệp học hành. Cụ thật là một tấm gương cần kiệm, khảng khái, trọng nghĩa, khinh tài.
Cụ bà họ Chu, tên Kim, người làng Thanh Liệt, dòng dõi vị đại nho Chu văn An đời Trần. Cụ sinh năm Giáp Tý 1864, mất đêm hôm ngày 27 tháng 10 năm…gia-pha-y-dsc00054 Cụ hiền lành thực thà, về làm bạn với cụ ông từ hồi 17 tuổi. Lúc mới về làm dâu, cụ vẫn ở với Cụ Kế ở Hà Nội (vì cụ là cháu gọi cụ Kế bằng cô con nhà chú). Sau cụ theo cụ ông về ở quê ngoại ở làng Ngườm với cụ Lớn Ngườm là bà Ngoại. Cụ Lớn thấy cháu dâu hiền ngoan, có lòng yêu lắm, nên sau cụ theo về Me cùng ở với hai vợ chồng cháu, cho mãi đến khi gần mất mới cáng cụ về mất ở nhà thờ cụ Lớn Ông ở Ngườm.
Hai cụ có 3 trai và 2 gái là: Duy Viễn, Duy Quỳ, Thị Tuyết, Duy Tạo và Thị Tề, kể theo thứ tự A B C D E dưới đây.
1.Duy Viễn, tự Cậu Chi, hiệu Cẩn Tín, sinh năm Quý Mùi 1883, mất ngày 25 tháng 5 năm Giáp Thân 1944. Ông tài hoa, văn hay, chữ tốt, vẽ khéo, nhưng tính lười, chậm, nên thi hỏng mãi. Ông lấy bà Ngô thị Lai con cụ Ngô văn Quí ở làng Lộc Hà, Phủ Từ, được 5 con gái là Thị Lưu, Thị Thước, Thị Bằng, Thị Hoàng,Thị Âu.
Thi Lưu, tục gọi chị Ba Thông, vì lấy cậu Đỗ quý Thông, con thứ 3 cụ Tú Tài Đỗ Trúc ở làng Mão Điền, Bắc Ninh, không con.
Thị Thước, tục gọi chị Cả Cói, lấy cậu Đỗ Ngọc Oánh ở làng Cói Thái Đường, được 1 trai là Đỗ ngọc Giao, cử nhân về Nhân Chủng học, hiện (1974) làm việc ở Saigon, con gái là Tiệp, chết lúc trẻ.
Thị Bằng, tục gọi là chị Hai Kiềm, lấy cậu Thẩm trọng Kiềm ở Cự Linh, Gia Lâm, không có con chết năm 1952.
Thị Hoàng, cũng lấy anh Ba Thông, được 4 gái là Uyển Như, Tố Như, Hảo Như và Diễ Như và 4 trai là Nam, Dân, Thiện,…
Thi Âu mất sớm, chưa có chồng.
2.Duy Quỳ, tự là Tử Trung, hiệu là Phác Trực, sinh năm Canh Dần 1890, mất ngày 17 tháng 7 năm Ất Dậu 1945. Ông làm ăn chăm chỉ, khóe những nghề thủ công, tính rất cương trực, được nhiều người tin cậy. Lấy bà Nguyễn thị Phức, người làng Dương Sơn (làng Trõ, cách làng Me độ 3 cây số), sinh được 3 trai là Trung Mộc, Trung Mạc, Trung Giang và 4 gái là Diếu, Minh, Quyên, Oanh.
Những cháu nội của Ông Duy Quỳ: Thị Phương, Thị Dung, Hiếu Nghiệp, Thị Phi, Hiếu Quyên, Hiếu Quả, Hiếu Cảo, Thị Loan (con anh Mộc), Thị Yến, Thị Hằng, Hiếu Bản, Hiếu Bảo, Hiếu Tông, Hiếu Long.

3.Thị Tuyết tức là Cô Tư Sét, lấy ông Tư Sét được 1 gái là Quyến.
4.Thị Tề, tục gọi cô Thừa, lấy ông Phan đình Tiến làm Thừc Phải, người làng Dặng Xá gần đô thành Bắc Ninh. Cô Tề được 2 trai là Đống, Tùng và 1 gái Thị Đào.

5. Đàm Duy Tạo (Thân phụ của Đàm Thị Đán, Đàm Trung Ba, Thao, Pháp, Phán, Thang)

Tạm Kết

Dưới đây xin chép lại bài thơ “Bài Hàng”, mỗi chữ là một chữ đệm (middle name) cho một đời (generation) của con trai giòng họ Đàm.

duy-trung-dsc00007                      duy-duy-tao-_-tho_維      忠        孝        傳         家

                       Duy   Trung   Hiếu   Truyền   Gia

                               尚        勉        思     繼      紹

                         Thượng  Miễn   Tư   Kế   Thiệu

                           

        善       衍    吉       慶         長

 Thiện   Diễn   Cát   Khánh   Trường

                           

                                先      德       有       光         耀

                            Tiên   Đức   Hữu   Quang   Diệu

Các chữ đệm này, với ý nghĩa của chúng, đã được diễn nôm trong bài thơ Bày Hàng dưới đây. Bài thơ này đã được khắc trong tấm bia đá mà chúng tôi đã may mắn chụp hình lại trong chuyến về thăm làng Hương Mặc năm 2005 .

DIỄN NÔM BÀI HÀNG

Nhà ta dòng dõi hiếu trung

Gắng công truyền nối dốc lòng chớ sai

Khéo ăn ở phúc lâu dài

Rõ ràng công đức mọi đời tổ tông

Đàm Duy Tạo

Có nghĩa là họ nhà ta đời nọ truyền cho tới đời kia chỉ có đạo trung hiếu. Ta mong rằng ai cũng nghĩ cách nối dõi cho xứng đáng. Ta phải khóe ăn ở theo đạo ấy thì mới được hưởng phúc lành lâu dài. Các công đức của tổ tiên nhờ đó sẽ được vẻ vang rực rỡ thêm.

Giải Thích:

<1>, <4>Hiệu hay Thụy là tên đặt lúc mất rồi để cúng.

<2> Húy là tên chính đặt từ lúc nhỏ.

<3> Truy phong hay truy tặng là chức tước vua Phong cho sau khi chết rồi.

<5> Ấm Thụ là quan hàm phong cho con cháu một quan to.

<6> Tự là tên đặt để gọi thường thay tên húy.

<7> Câu kết luận ấy là: Tố Ngã triều Liệt Thánh chỉ sở vi, “vô” phi Nghiêu Thuấn, Vũ Thang, Văn Vũ chi đạo giả. Nghĩa là: Xét lại các việc của các vua Triều ta làm không việc gì, là không phải đạo của các vua Nghiêu Thuấn, Vũ Thang, Văn Vũ vậy. Vì cụ bỏ sót chữ “Vô”, thành ra nghĩa ngược lại. Khen hóa chê. Đáng lẽ cụ bị tội to, nhưng vì văn hay lắm, nên được miễn nghị.

Trương Minh Ký, Sài Gòn

Ngày 16-6-1974

Đàm Duy Tạo

(* )     https://kimvankieu.wordpress.com/

(**)   http://chimviet.free.fr/truyenky/damphan/caydaloicu/dtpn051.htm

ANH HÙNG NGUYẾN HUỆ ĐẠI THẮNG QUÂN NHÀ THANH NĂM KỶ DẬU 1789

Lời mở đầu:

Xin cám ơn GS Trần Gia Phụng đã gửi cho chúng tôi bài viết này để chúng ta và con cháu chúng ta biết thêm về  vị anh hùng dân tộc cùng binh lính Việt Nam đã chiến thắng quân lính nhà Thanh như thế nào .

Xin mời đọc

quang-trung-2

TRÒ CHUYỆN VỚI

NHÀ NGHIÊN CỨU SỬ HỌC TRẦN GIA PHỤNG

VỀ CHIẾN THẮNG NĂM KỶ DẬU 1789

1.-   Hồng Phúc (câu hỏi số 1): .Thưa anh Phụng, năm nay là năm Đinh Dậu, chúng ta không sao quên được một năm Dậu trong lịch sử dân tộc, là năm Kỷ Dậu 1789, năm mà Vua Quang Trung đại phá quân Thanh vào ngày Mồng Năm Tết tại Thăng Long.  Trước hết, xin anh cho nghe khái quát về nguyên nhân cuộc chiến vẻ vang này được diễn ra như thế nào?

Trần Gia Phụng (trả lời câu số 1):  Thưa anh Hồng Phúc, trước hết, tôi xin cảm ơn anh Hồng Phúc mở cuộc nói chuyện nhân dịp đầu năm Đinh dậu (2017) chung quanh đề tài rất thích hợp là vua Quang Trung và người Việt đã chiến thắng cuộc xâm lăng của Trung Hoa năm Kỷ dậu 1789, cách đây 228 năm.

Trước khi vào chuyện, theo cách thông thường của người xưa, năm nay gọi là năm con gà, tôi xin mời anh Hồng Phúc và quý thính giả nghe một câu chuyện vui có thật về con gà.  Chuyện có thật trong quá khứ, chứ không phải là chuyện bịa đặt đâu nghe anh Hồng Phúc.  Câu chuyện như sau:

Nguyên khi chiến tranh bùng nổ năm 1946, nhà văn Phan Khôi đang ở Hà Nội  Ông là một nhà văn rất nổi tiếng vào thời đó.  Việt Minh cộng sản sợ ông bỏ về phía Pháp, nên bắt và đưa ông tản cư lên chiến khu Việt Bắc của CS, sống biệt lập ở trên đó suốt 9 năm.

Sau hiệp định Genève năm 1954, nhà văn Phan Khôi bị CS đưa về sống ở Hà Nội để dễ kiểm soát.  Một hôm, có một người bạn mời ông ăn cơm, trong đó có món thịt gà.  Sau khi cầm đũa, Phan Khôi chỉ dĩa thịt gà nói rằng: “Chà chả, chin (9) năm nay, từ khi đi tản cư chạy loạn cho đến bây giờ, tau mới lại gặp mày.”  Như thế nghĩa là trong 9 năm tản cư, Phan Khôi chưa được lần nào thưởng thức món thịt gà, huống gì là thịt heo, thịt bò.  Chuyện nầy được kể lại trong mục về Phan Khôi, sách Trăm hoa đua nỡ trên đất Bắc của Hoàng Văn Chí, xuất bản năm 1959 ở Sài Gòn.

Hồng Phúc:  Vâng, cảm ơn anh, nay chúng ta trở lại với chủ đề cuộc nói chuyện.

Trần Gia Phụng:  Vâng thưa anh, thưa bà con nghe đài, xin bắt đầu với câu hỏi “mở hàng” đầu năm của anh Hồng Phúc.  Nguyên nhân cuộc chiến năm Kỷ dậu 1789 bắt đầu từ việc năm 1788, sau khi bị quân Tây Sơn tấn công, hoàng gia nhà Hậu Lê bỏ chạy khỏi Thăng Long, mỗi người một ngã.  Tháng 7 năm đó, từ Cao Bằng, bà thái hậu tức mẹ của vua Lê Chiêu Thống, đem theo con của nhà vua, cùng một số quan lại, chạy qua Long Châu (Long-Tcheou) cầu cứu với nhà Thanh bên Trung Hoa.  Xin chú ý là thân mẫu Lê Chiêu Thống cầu cứu chứ không phải Lê Chiêu Thống.

Viên tri châu Long Châu là Trần Tốt trình lên thượng cấp của y là Tôn Vĩnh Thanh, tuần phủ Quảng Tây, và Tôn Sĩ Nghị, tổng đốc Lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây).  Tiếp đó, bà thái hậu cùng với cháu nội đến Nam Ninh, trực tiếp gặp hai người nầy cầu viện.  Sau cuộc hội kiến với bà thái hậu nhà Lê, Tôn Sĩ Nghị làm sớ trình với vua Thanh Cao Tông (trị vì 1736-1795), tức vua Càn Long (Ch’ien-lung), xin đem quân lấy cớ khôi phục nhà Lê, rồi nhân đó chiếm luôn nước Đại Việt tức nước Việt Nam sau nầy.  Đây là một cơ hội tốt mà vua Thanh Càn Long đang chờ đợi, vì ba lẽ:

Thứ nhứt lúc bấy giờ dân số Trung Hoa tăng trưởng rất cao.  Đất đai canh tác thiếu; triều đình nhà Thanh phải tìm kiếm thêm đất để di dân.  (Nguyễn Hiến Lê, Sử Trung Quốc tập 2, Tp.HCM: Nxb.Văn Hóa,1997, tr. 197.)

Thứ hai, Thanh Càn Long là ông vua đầy tham vọng đế quốc.  Ông gởi quân mở rộng biên cương phía bắc và phía tây, rất tự hào rằng ông đã lập được nhiều chiến công lẫy lừng.  Gần nhứt, vào năm 1787, ông cử Phúc Khang An đem quân chiếm đảo Đài Loan.  Sau đảo Đài Loan, Thanh Càn Long nhìn xuống Đại Việt và Đông nam Á, chờ đợi thời cơ tiến chiếm vùng nầy.

Thứ ba, năm 1790, Càn Long sẽ làm lễ “bát tuần khánh thọ” (mừng 80 tuổi).  Càn Long muốn tìm kiếm một chiến công ở ngoài biên cương để tăng thêm hào quang rực rỡ của triều đại của mình.

Nhân dịp bà mẹ vua Chiêu Thống cầu viện, Thanh Càn Long liền chụp lấy cơ hội, quyết định cử Tôn Sĩ Nghị làm tổng chỉ huy cuộc viễn chinh, trực tiếp đứng đầu cánh quân Lưỡng Quảng, tiến vào Đại Việt bằng đường Lạng Sơn; còn đề đốc Ô Đại Kinh dẫn quân Vân Nam và Quý Châu vào Đại Việt bằng đường Lào Cai, theo đường sông Hồng thẳng xuống Thăng Long.  Thanh Càn Long còn chuẩn bị cả việc đánh chiếm luôn xuống tới Thuận Hóa tức Thừa Thiên ngày nay.

Quân nhà Thanh xâm lăng, thì quân Đại Việt, lúc đó do nhà Tây Sơn lãnh đạo, tổ chức ứng chiến để bảo vệ đất nước.  Đó là nguyên nhân hết sức khái quát đưa đến cuộc chiến năm 1789.

2.-   Hồng Phúc (câu hỏi 2):  Một vấn đề gây tranh cãi lâu nay là nhà Thanh đưa bao nhiêu quân để xâm lăng Đại Việt?

Trần Gia Phụng (trả lời câu hỏi 2):  Câu hỏi rất hay, anh Hồng Phúc, vì lâu nay nhiều dư luận tranh cãi về việc nầy.  Ở đây, tôi chí xin đưa ra tài liệu.  Rồi xin bà con thẩm định.  Có ba nguồn tài liệu khác nhau:

1)  Thứ nhứt, tài liệu Trung Hoa:  Theo Cao Tông thực lục, bộ sử của triều đình nhà Thanh, thì cánh quân Lưỡng Quảng của Tôn Sĩ Nghị gồm một vạn người (10,000). (Cao Tông thực lục, Hồ Bạch Thảo dịch, quyển thượng, New Jersey: 2004, tr. 47.) (Cao Tông là niên hiệu của vua Càn Long nhà Thanh.)

Cũng theo Cao Tông thực lục, ở phía tây, đề đốc Vân Nam là Ô Đại Kinh đem 5,000 quân qua đường sông Hồng. (Cao Tông thực lục, bản dịch tr. 77.)  Như thế, theo chính sử Trung Hoa, tổng số quân Thanh cả hai cánh là 15,000 người.  Tài liệu nầy không nhắc đến số quân do Sầm Nghi Đống ở Điền Châu lãnh đạo, mà các tài liệu Trung Hoa không biết đi khi nào và bao nhiêu quân.  Ngoài ra, trong cuộc viễn chinh lần nầy của nhà Thanh, Tôn Vĩnh Thanh chỉ huy đoàn tiếp liệu, chuyển vận lương thực cũng rất đông đảo.

Trong sách Thánh vũ ký, Ngụy Nguyên (Wei Yuan, 1794-1857), một sử gia Trung Hoa, chép rằng “Tiếng rằng đại binh có vài chục vạn”, tức vài trăm ngàn người.  (Hoàng Xuân Hãn dịch bài “Càn Long chinh vũ An Nam ký” nghĩa là “Bài ghi việc đánh dẹp An Nam đời Càn Long”, trong sách Thánh vũ ký, đăng trong La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập II, Hà Nội: Nxb. Giáo Dục, 1998, tr. 1342.) [Sách nầy thường được gọi là Hoàng Xuân Hãn toàn tập, tập II.]

2)  Theo tài liệu trong nước:Sách Hoàng Lê nhất thống chí, hồi thứ 13, tóm tắt đại lược hịch của Tôn Sĩ Nghị, có viết rằng họ Tôn: “điều động năm mươi vạn quân thẳng tới La thành [Thăng Long]…” (Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, viết tắt HLNTC, chữ Nho, Hà Nội: bản dịch của Nguyễn Đức Vân, Kiều Thu Hoạch, Nxb. Văn Học, 1987, tập 2, tr. 153.)  Năm mươi vạn nghĩa là 500,000 quân.  Con số nầy lớn quá, do người Thanh tuyên truyền kể thêm, để binh sĩ hăng hái ra đi.

Trong “Tờ chiếu phát phối hàng binh người nội địa” của vua Quang Trung, do Ngô Thời Nhậm soạn có đoạn viết: “Trẫm ứng mệnh trời, thuận lòng người, nhân thời thế làm việc cách mệnh, dùng binh lính bình định thiên hạ.  Viên Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị các người, tài đong đấu ra, nghề mọn thêu may, không biết những điều chủ yếu trong việc dùng binh, vô cớ đem 29 vạn quân ra khỏi cửa quan, vượt núi trèo đèo, vào sâu hiểm địa, xua lũ dân vô tội các ngươi vào vòng mũi tên ngọn giáo.  Đó đều là tội của viên Tổng đốc nhà các ngươi.” (Ngô Thời Nhậm, “Tờ chiếu phát phối hàng binh người nội địa”, trong Hàn các anh hoa, bd trong sách Ngô Thời Nhậm tác phẩm, [chữ Nho], Mai Quốc Liên cùng một số tác giả phiên dịch, Hà Nội: Trung tâm Nghiên cứu Quốc Học, Nxb. Văn Học, tr. 190.)

Con số 29 vạn viết trên đây tuy do Ngô Thời Nhậm, người trong cuộc đưa ra, nhưng trong một văn thư có tính tuyên truyền, thì cũng chưa hẳn sát với thực tế.  Có tài liệu thì viết rằng lực lượng quân Thanh xâm lăng Đại Việt lên khoảng hai mươi vạn tức 200. 000 quân. (Hoa Bằng, Quang Trung Nguyễn Huệ, Đại Nam, Hoa Ky: tái bản không đề năm, tt.159, 185.)

Các số liệu nầy từ hai phía Việt cũng như Trung Hoa đều cần phải nghiên cứu lại.  Theo tâm lý thông thường, do tinh thần yêu nước, sử liệu Trung Hoa thường hạ số liệu quân đội viễn chinh xuống, để khi chiến thắng thì chiến thắng có giá trị, vì đem ít người mà vẫn thắng trận, còn khi thất bại thì thất bại không đáng kể, vì đem ít quân nên mới thất bại. Về phía người Việt cũng thế, tang số quân xâm lăng để chiến thắng thì oai hung, còn thất bại thì chẳng có gì lạ vì quân địch đông quá.

Ngoài ra, có một điều đáng chú ý về số lượng quân Thanh:  Trong “Tám điều quân luật” trước khi  quân Thanh xuất chinh năm 1788, Tôn Sĩ Nghị đã thông báo như sau trong điều thứ 8: “Lần nầy hành quân xa xôi qua biên ải, triều đình thương đến binh lính, đã chu cấp rộng ra ngoài thể lệ, mỗi người lính được cấp một tên phu.  Các viên coi quân cần hiểu dụ trước cho mọi người biết...”  (HLNTC, bản dịch tập 2, sđd. tt. 152, 179.)

Như thế, nếu theo chính sử nhà Thanh, hai cánh quân của Tôn Sĩ Nghị và Ô Đại Kinh sang Đại Việt tối thiểu cộng lại là 15.000 người; và nếu mỗi quân nhân được quyền đem theo một người phu (điều thứ 8 của quân luật Tôn Sĩ Nghị), thì số người Thanh qua Đại Việt tối thiểu là 30,000.  Cần chú ý là các tướng lãnh và sĩ quan Thanh chắc chắn mỗi người đem theo hơn một người phu.  Ngoài ra, còn có đoàn quân tiếp liệu của Tôn Vĩnh Thanh.  Đoàn nầy không thể dưới 10,000 người. (Cao Tông thực lục, bản dịch. tr. 123.)  Ba số liệu nầy cộng lại đã được 40,000 người. Đây là con số tối thiểu, mà thực tế phải cao hơn nữa.

3)  Nguồn tài liệu thứ ba về chiến tranh Việt Hoa năm 1789 do người Tây phương có mặt ở nước ta đưa ra.  Thứ nhứt là Nhật ký của Hội Truyền giáo ở Bắc Kỳ về những sự kiện ở trong địa phận Giáo hội Bắc Kỳ từ tháng 10-1788 đến tháng 7-1789. Theo tài liệu nầy, khi Tôn Sĩ Nghị làm lễ phong vương cho Lê Chiêu Thống (19-12-1788), tức lúc đó quân Thanh đã vào đến Thăng Long, tài liệu nầy cho biết số quân Thanh là 280.000 người (28 vạn), một nửa đóng trong thành phố, một nửa đóng ở bên kia sông. (Đặng Phương Nghi dịch, Nhật ký của Giáo hội Thiên Chúa giáo Bắc kỳ, tập san Sử Địa 9-10, Sài Gòn: 1968, tt. 213, 216.)

Số 28 vạn quân Thanh của tài liệu nầy gần với số 29 vạn mà Ngô Thời Nhậm đã viết trong “Tờ chiếu phát phối hàng binh người nội địa” (đã trình bày ở trên).

Tài liệu Tây phương thứ hai do J. Barrow viết.  Ông nầy đến nước ta năm 1792, ba năm sau chiến tranh.  Trong hồi ký của mình, ông viết rằng số quân Thanh là 100,000 người.  (J. Barrow, A Voyage to Cochinchina in the year 1792 and 1793, London: 1806, tr. 252.)

Tài liệu Tây phương thứ ba của giáo sĩ Pierre-Jacques Lemonnier de la Bissachère (1764-1830) đến Bắc hà khoảng năm 1790, viết trong hồi ký xuất bản ở Paris năm 1812 rằng quân Thanh sang Đại Việt khoảng 40,000 người và bị giết tại trận khoảng 20,000 người.  Giáo sĩ De la Bissachère ở lại Bắc hà cho đến năm 1798, nên có thể ông thu thập được nhiều nguồn tin và lượng định con số quân Thanh sang nước Việt. (M. De la Bissachère, Etat actuel du Tonkin, de la Cochinchine et des autres royaumes de Cambodge, Laos et Lac Tho, Paris: 1872, tt. 169-170.)  Cá nhân tôi nghĩ con số của giáo sĩ nầy là hợp lý nhứt.

3.-  Hồng Phúc (câu hỏi 3):  Thứ đến, xin anh Phụng cho nghe về chiến lược và chiến thuật đã được Vua Quang Trung áp dụng trong trận đánh này ra sao?

Trần Gia Phụng (trả lời câu hỏi 3):  Chiến lược tổng quát lúc đầu của quân đội Tây Sơn chống giặc Thanh xâm lược do các các nhà lãnh đạo Tây Sơn ở Bắc hà vạch ra, đó là đại tư mã Ngô Văn Sở, nội hầu Phan Văn Lân và một cựu quan nhà Lê ra cộng tác với nhà Tây Sơn là Ngô Thời Nhậm.  Khi Nguyễn Huệ rút về Phú Xuân năm 1787, giao cho ba ông nầy cai quản Bắc hà.

Khi được tin quân Thanh sửa soạn tiến vào nước ta, một mặt các ông cấp báo về Phú Xuân cho Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ biết, lúc đó Nguyễn Huệ chưa lên ngôi vua; một mặt khác các ông kiếm cách hoãn binh với quân Thanh.

Để hoãn binh, Ngô Thời Nhậm viết thư cho Tôn Sĩ Nghị.  Ngưòi đứng tên trên thư nầy là đại tư mã Ngô Văn Sở, trần tình với Tôn Sĩ Nghị về tình hình nước Nam, nói rằng Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ chỉ muốn dẹp Nguyễn Hữu Chỉnh, nhưng vua Lê Chiêu Thống bị Chỉnh đưa đi trốn, nay không biết ở đâu, nên lập Lê Duy Cận coi việc nước và xin Tôn Sĩ Nghị dừng binh.  (Ngô Thời Nhậm tác phẩm, sđd. tt. 304-306.)   Tôn Sĩ Nghị trình về triều đình nhà Thanh thư của tướng Tây Sơn.  Thanh Càn Long không chấp thuận, ra lệnh cho Tôn Sĩ Nghị tiếp tục tiến quân.

Lúc đó lực lượng Tây Sơn ở Bắc hà chỉ khoảng 3,000 quân do Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ để lại trước khi rút về Nam.  (Hoa Bằng, Quang Trung Nguyễn Huệ, Đại Nam, Hoa Kỳ, tái bản không đề năm, tr. 151.)

Có thể từ kinh nghiệm lịch sử thời nhà Trần vào thế kỷ 13, khi quân Mông Cổ tấn công ào ạt thì các vua Trần rút lui, rồi sau đó mới tổ chức phản công.  Nhóm lãnh đạo Tây Sơn ở Bắc hà đã theo kế hoạch do Ngô Thời Nhậm đưa ra, quyết định lui binh để bảo toàn lực lượng và cấp báo về Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ ở Phú Xuân.  Ngô Văn Sở cử Phan Văn Lân đem quân cản bước tiến của người Thanh.

Trong thời gian Nội hầu Phan Văn Lân cầm cự, cản trở và làm chậm bước tiến của quân Thanh, Ngô Văn Sở và Ngô Thời Nhậm rút lui toàn bộ lực lượng thủy bộ Tây Sơn được an toàn về núi Tam Điệp (tức đèo Ba Dội) ở Ninh Bình, đóng quân ở những vị trí hiểm yếu then chốt từ vùng đồi núi ra tới bờ biển vùng đảo Biện Sơn, để đề phòng quân Thanh tiến đánh, rồi chờ đợi tin tức Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đang còn ở Phú Xuân.

Về phần Nguyễn Huệ, khi được tin quân Thanh xâm nhập nước ta vào đầu tháng 11 âm lịch năm mậu thân (1788), Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ liền nhân cơ hội nầy, quyết định lên ngôi vua.  Sau khi chuẩn bị triều nghi, sắp đặt việc bảo vệ Phú Xuân, Nguyễn Huệ chính thức lên ngôi vua ngày 25 tháng 11 Mậu thân (22-12-1788), chọn niên hiệu là Quang Trung (có nghĩa là ánh sáng trung tâm).  Lễ đăng quang được tổ chức tại núi Bàn (Bàn Sơn), làng An Cựu, một ngọn đồi thấp, sát bên cạnh và thấp hơn núi Ngự Bình.  Chiếu lên ngôi của vua Quang Trung do Ngô Thời Nhậm soạn, dù lúc đó, Ngô Thời Nhậm đang ở Tam Điệp, Ninh Bình.

Ngay sau lễ đăng quang, vua Quang Trung liền kéo quân bắc tiến, tức cùng ngày 25 tháng 11 âm lịch (22-12-1788).  Chiến thuật hành quân sở trường của vua Quang Trung là tấn công bất ngờ và thần tốc.

Di chuyển trong bốn ngày, lực lượng Tây Sơn dừng quân tại Nghệ An ngày 29 tháng 11 (âm lịch).  Tại đây, vua Quang Trung mời La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp đến hội kiến.  Nguyễn Thiếp là một danh sĩ đất Nghệ An.  Trong cuộc gặp gỡ, nhà vua bàn luận với Nguyễn Thiếp kế hoạch hành quân.  Nguyễn Thiếp nói: “Người Thanh ở xa tới, mệt nhọc, không biết tình hình khó dễ thế nào, thế nên chiến thủ thế nào.  Và nó có bụng khinh địch.  Nếu đánh gấp đi thì không ngoài 10 ngày sẽ phá tan.  Nếu trì hoãn một chút thì khó lòng mà được nó.” (Hoàng Xuân Hãn toàn tập tập II, tr. 1052.]

Lời bàn của Nguyễn Thiếp rất hợp ý với vua Quang Trung.  Lo việc tuyển quân mười ngày ở Nghệ An và Thanh Hoa (sau nầy là Thanh Hóa), vua Quang Trung lại tiếp tục dẫn quân ra đi ngày mồng 10 tháng chạp (5-1-1789).  Ngày 20 tháng chạp (15-1-1789), nhà vua đến Tam Điệp.

Nơi đây, lực lượng Tây Sơn ở Bắc hà do đại tư mã Ngô Văn Sở chỉ huy đang đợi nhà vua.  Nghỉ ngơi tại Tam Điệp thêm mười ngày, vua Quang Trung mở cuộc tấn công ào ạt gấp rút trong tối 30 Tết, liên tiếp trong năm ngày sau đó để thanh toán chiến trường, chứng tỏ vua Quang Trung đã được tin tình báo từ Thăng Long cho biết cáo thị của quân Thanh về việc động binh xuất hành năm mới vào ngày mồng 6 Tết.

Hồng Phúc:  Anh nói sao? Quân Thanh cáo thị cho biết sẽ xuất quân mồng 6 Tết à?

Trần Gia Phụng:  Vâng thưa anh, Tôn Sĩ Nghị công khai cáo thị tại Thăng Long mời dân chúng đến xem quân Thanh sẽ ra quân tiêu diệt lực lượng Tây Sơn bắt đầu vào mồng 6 Tết Kỷ Dậu. (Nhật ký của Giáo hội Thiên Chúa giáo Bắc Kỳ, Sử Địa số 9-10, tt. 223-224.)  Kể cũng lạ.  Hành quân mà còn xem bói, coi quẻ ngày tốt xấu, như người ta làm lễ động thổ, rồi báo cho dân chúng biết.

4.-  Hồng Phúc (câu hỏi 4):  Thưa anh Phụng.  Tôi được biết trong chiến thắng Kỷ Dậu, vua Quang Trung đã phối hợp giữa tượng binh và pháo binh.  Đây là một lối đánh khá mới lạ vào thời đó  Anh vui lòng trình bày rõ hơn về chiến thuật nầy và cho biết hiệu quả nó ra sao?

Trần Gia Phụng (trả lời câu hỏi 4):  Vâng, thưa anh Hồng Phúc, thưa quý thính giả.  Trong trân đánh đuổi quân Thanh năm Kỷ Dậu, vua Quang Trung đã phối hợp  tượng binh và pháo binh để công thành.  Đây là một chiến thuật mới lạ vào thời đó và là một chiến thuật bất ngờ với quân Thanh.

Chúng ta biết được chiến thuật phối hợp giữa tượng binh (quân voi) và pháo binh của vua Quang Trung là do chính tài liệu của sử gia nhà Thanh là Ngụy Nguyên viết ra năm 1842 trong sách tựa đề là Thánh vũ ký, kể về những chiến trận thời vua Càn Long.  Trong sách nầy, quyển thứ sáu, có chương “Càn Long chinh vũ An Nam ký” (Bài ghi việc đánh dẹp An Nam đời Càn Long), có đoạn ghi về trận Ngọc Hồi được Hoàng Xuân Hãn dịch ra như sau: “Đang đêm thình lình có tin báo rằng quân Nguyễn tới đông.  Bấy giờ mới thảng thốt ngăn địch.  Giặc đều chở đại bác bằng voi mà xông trận.  Quân ta ít chống nhiều, không địch nổi.  Trong đêm tối, tự dày xéo lẫn nhau.”  (Hoàng Xuân Hãn toàn tập tập II, tr. 1344.)

Tác giả Ngụy Nguyên không viết nhiều và không đi sâu vào chiến thuật phối hợp tượng binh và pháo binh của nhà Tây Sơn vì Ngụy Nguyên là một người viết sử của nhà Thanh, nên ông không muốn đề cao chiến thắng của quân Đại Việt.

Không có tài liệu nào đặc biệt về võ khí của quân Thanh.  Trong “Tám điều quân luật” trước khi quân Thanh lên đường viễn chính, Tôn Sĩ Nghị tự tin súng ống của quân Thanh hơn hẳn súng “phun lửa” của quân Tây Sơn (điều thứ 5), nhưng họ Tôn tỏ ra rất sợ tượng binh (voi trận) của quân Tây Sơn.  Điều nầy chứng tỏ ông ta có nghiên cứu về quân đội Tây Sơn.  Ông đã dạy cho lính Thanh cách đối phó với tượng trận (điều thứ 4). (HLNTC, tập 2, tr. 148-150.)

Quân Thanh có đoàn kỵ binh thiện chiến nhưng không có tượng binh vì không thể đưa voi trận từ Trung Hoa qua Đại Việt.  Đội tượng binh ở Thăng Long của vua Lê và chúa Trịnh đã bị Nguyễn Huệ đưa về nam sau cuộc bắc tiến lần thứ nhất năm 1786. (Gabriel Devéria, Histoire des relations de la Chine avec l’Annam-ViệtNam, Paris: Ernest Lebroux, Éditeur, Librairie de la Société Asiatique de l’École des Langues Orientales Vivantes, 1880, tr. 17)

Về phần lực lượng Tây Sơn, theo sách Lê quý dật sử, đội tượng binh Tây Sơn được đem từ Thuận Hóa ra Thăng Long. Lương thực hàng tháng của các thớt voi tùy theo trọng lượng từng thớt voi lớn nhỏ. (Lê quý dật sử [chữ Nho], khuyết danh, Phạm Văn Thắm dịch, Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội, 1987, tr. 87, 96.)  Các khẩu đại bác đã được di chuyển theo quân đội Tây Sơn cũng từ Thuận Hóa, vì tại đây Nguyễn Hoàng đã lập đội pháo binh mạnh me, đã từng đem ra Thăng Long giúp vua Lê dẹp loạn năm 1593. (Đại Việt sử ký toàn thư, Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội, 1998, bản dịch. tập 3, tr. 185.)  Sau đó các chúa Nguyễn đã tổ chức lò đúc súng tại Phường Đúc, làng Dương Xuân Thượng, Phú Xuân (Huế ngày nay).

5.-  Hồng Phúc (câu hỏi 5):  Vào thời đó, có nước nào biết phối hợp tượng binh và pháo binh chưa anh Phụng?

Trần Gia Phụng (trả lời câu hỏi 5):  Thưa anh Hồng Phúc, thưa quý thính giả, việc phối hợp tượng binh và pháo binh đã có từ nhiều thế kỷ trước ở  Miến Điện, hay ở Thái Lan.  Quân đội hai nước nầy đã dùng voi chở đại bác ra chiến trường.  Điều nầy chúng ta dễ thấy trong các sách về voi trên thế giới, hay voi ở Miến Điện hay ở Thái Lan.

Một câu hỏi đặt ra mà cho đến nay tôi vẫn chưa tìm ra được câu trả lời là vua Quang Trung học được chiến thuật nầy khi nào, và từ đâu.  Trong sự nghiệp quân sự của vua Quang Trung, đây là lần đầu tiên nhà vua phối hợp giữa tượng binh và pháo binh.  Trong cuộc nội chiến với người anh là Nguyễn Nhạc sau khi ra bắc trở về năm 1787,  Nguyễn Huệ đã đặt đại bác trên các mô đất cao ngoài Hoàng đế thành, tức thành Quy Nhơn, bắn vào khiến Thái Đức Đế Nguyễn Nhạc lung túng, chịu nhượng bộ.  Như thế là lúc đó, Nguyễn Huệ chưa đặt đại bác lên lưng voi mà đặt đại bác trên các mô đất để tấn công.  Vua Quang Trung chỉ sử dụng đại bác trên lưng voi lần đầu trong trận đánh vào đầu năm 1789.

Ngoài ra, vua Quang Trung học chiến thuật nầy từ ai, thì hoàn toàn không thể biết được.  Phải chăng từ người Xiêm (tức người Thái) trong trận đánh Rạch Gầm – Xoài Mút gần Mỹ Tho (Định Tường) năm 1784? [Nước Xiêm chính thức đổi thành quốc hiệu Thailand tức Thái Lan năm 1939.]  Hay là vua Quang Trung học được từ những người Âu Châu mà nhà vua đã từng liên lạc ngoại giao?  Cũng hoàn toàn không có tài liệu gì về việc nầy.

6.-  Hồng Phúc (câu hỏi 6):  Chúng tôi còn nghe Vua Quang Trung có sáng kiến làm những lá chắn bằng gỗ và rơm để che chắn cho binh sĩ khi xông trận. Mời anh trình bầy lại việc này.

Trần Gia Phụng (trả lời câu hỏi 6):  Vâng thưa anh Phúc, chuyện đó là chuyện thật, nhưng có hai cách giải thích khác nhau.  Theo Hoàng Lê nhất thống chí, khi tấn công đồn Ngọc Hồi sáng mồng 5 Tết, vua Quang Trung cho lấy 60 tấm ván, ghép ba tấm thành một bức lớn, bện rơm (ngọn cây lúa bị cắt khi gặt) thấm nước bao bọc ở ngoài, 10 người khiêng một bức, tất cả có 20 bức đi trước. (HLNTC, bản dịch tập 2, sđd. tr. 183.)  Tiếp theo mỗi bức ván lớn làm mộc che là 20 quân sĩ mang đầy đủ võ khí, dàn hàng ngang tiến tới để xâm nhập vào thành đánh cận chiến.

Tuy nhiên, theo tài liệu của Trung Hoa, vua Quang Trung không dùng ván, mà dùng rạ (thân cây lúa còn lại sau khi gặt), bó thành bó tròn lớn làm mộc, lăn chạy trước, theo sau là khinh binh tấn công rất dũng mãnh.  (Cao Tông thực lục, bản dịch đã dẫn, tr. 144,)

Giữa hai cách giải thích trên đây thì cá nhân tôi tin ở Hoàng Lê nhất thống chí, vì sách nầy do người trong gia đình Ngô gia văn phái viết lại, tức người trong gia đình của Ngô Thời Nhiệm tường thuật.  Ngô Thời Nhiệm là người tham mưu cho vua Quang Trung và đã tham dự trực tiếp cuộc chiến nầy.  Hơn nữa, rơm dễ kiếm hơn rạ, và tấm ván mới đủ cứng cáp làm thành cái khiên để che chắn cho binh sĩ tiến lên.

7.-  Hồng Phúc (câu hỏi 7)  Và bây giờ thì mời anh cho nghe toàn bộ cuộc hành quân này của Vua Quang Trung từ Phú Xuân ra Bắc diễn tiến ra sao?

Trần Gia Phụng (trả lời câu hỏi 7):  Thưa anh Hồng Phúc, thưa quý thính giả, tôi xin chia thành ba phần để trả lời, đó là: 1) Lực lượng quân Tây Sơn. 2) Kế hoạch hành quân.3) Diễn tiến trận đánh.

1) Về lực lượng quân Tây Sơn:  Khi vua Quang Trung kéo quân ra đi sau lễ đăng quang ngày 25 tháng 11 năm mậu thân (22-12-1788), thì lực lượng không được rõ.  Ông đến Nghệ An ngày 29 tháng 11 (26-12-1788).  Nhà vua dừng quân tại đây để tuyển thêm tân binh ở vùng Thanh Hoa, Nghệ An và sắp đặt lại đội ngũ.  Trong cuộc tuyển binh cấp tốc nầy, cứ ba suất đinh lấy một người.  Theo Hoàng Lê nhất thống chí thì “… chưa mấy lúc, đã được hơn một vạn quân tinh nhuệ.”(HLNTC, bản dịch tập 2, sđd. tr. 179.).  Theo Cương mục, bộ sử của Quốc sử quán triều Nguyễn, thì “khi qua Nghệ An và Thanh Hoa, [Quang Trung] lấy thêm quân lính đến 8 vạn người...” (Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Hà Nội: bản dịch tập 2 của Viện Sử học, Nxb. Giáo Dục, 1998. tr. 845.)  Theo một bộ sử khác, cũng của nhà Nguyễn, tổng cộng số lính trước sau khoảng hơn mười vạn quân (100.000) và mấy trăm con voi chiến. (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam chính biên liệt truyện, Huế: bản dịch tập 2 của Nxb. Thuận Hóa, 1993, tr. 517.)

Các số liệu nầy có thể đã được thổi phồng đôi chút, nhưng ở mức độ nào thì cũng không có cơ sở để xác minh.  Cần chú ý là lúc đó dân số vùng từ Quảng Nam ra Thanh Hoa trong vùng cai trị của vua Quang Trung khoảng gần một triệu người (và riêng Bắc hà khoảng năm triệu rưỡi người). (Li Tana, Nguyễn Cochinchina, Southern Vietnam in the Seventeenth and Eighteenth Centuries, New York: Cornell University, 1998, tr. 159.)

Vua Quang Trung chia quân làm hai hạng: hạng thiện chiến gồm lính Thuận Quảng đã được huấn luyện lâu ngày và nhiều trận mạc; hạng tân tuyển gồm tân binh Thanh Nghệ.  Quân Thuận Quảng chia làm 4 doanh: tiền, hậu, tả, hữu, và dùng quân Thanh Nghệ làm trung quân.

Về võ khí và sắc phục quân Tây Sơn được một tác giả đồng thời với sự kiện mô tả lại trong Lê quý dật sử như sau: “Tây Sơn cho quân mặc áo màu, phần nhiều là màu đỏ tía, trên đỉnh nón mũ đính lông chiên đỏ, lại thường mặc áo gấm màu.  Binh khí của họ thường dùng hỏa tiễn hỏa sào buộc trên đầu ngọn giáo, gọi là hỏa hổ [tức súng phun lửa]…” (Lê quý dật sử, bản dịch đã dẫn, tr. 77.)  Điểm đặc biệt của quân đội Tây Sơn, được sách Thánh vũ ký của Ngụy Nguyên (Trung Hoa) ghi lại là “đại bác chở bằng voi mà xông vào trận”. (đã nói ở trên)

Trong chiến công năm 1789, có một điểm không thể thiếu sót là ngành tình báo chiến lược.  Sau khi rút lui khỏi Thăng Long, đại tư mã Ngô Văn Sở để lại nhiều điệp viên theo dõi tình hình tiến quân của lực lượng Tôn Sĩ Nghị và báo cáo đầy đủ lại cho các chủ tướng Tây Sơn.  Trong khi đó, ngược lại, quân Thanh không có đường dây tình báo, nên có thể nói là ít hiểu biết về quân đội Tây Sơn, cũng như không nắm vững các cuộc chuyển quân của lực lượng vua Quang Trung.  Chẳng những thế, quân Thanh lại còn kiêu căng, xem thường sức mạnh đối phương.

2) Về kế hoạch hành quân:  Ngay sau lễ đăng quang và duyệt binh ngày 25 tháng 11 năm mậu thân (22-12-1788), nhà vua tức tốc dẫn quân bắc tiến.  Di chuyển trong bốn ngày, Tây Sơn dừng quân tại Nghệ An ngày 29 tháng 11 (âm lịch).  Lo việc tuyển quân mười ngày ở Nghệ An và Thanh Hoa, vua Quang Trung lại tiếp tục dẫn quân ra đi ngày mồng 10 tháng chạp (5-1-1789).  Ngày 20 tháng chạp (15-1-1789), nhà vua đến Tam Điệp.

Nơi đây, lực lượng Tây Sơn ở Bắc hà do đại tư mã Ngô Văn Sở chỉ huy đang đợi nhà vua.  Nghỉ ngơi tại Tam Điệp cũng mười ngày, được tin tình báo cho biết quân Thanh sẽ  xuất hành năm mới vào ngày mồng 6 Tết, nên vua Quang Trung mở tiệc khao quân tại Tam Điệp ngày 30 tháng chạp (25-1-1789), tuyên bố ăn Tết trước khi lên đường, hẹn ngày mồng 7 năm mới, sẽ vào thành Thăng Long mở tiệc mừng chiến thắng.  (HLNTC sđd. tr. 182.)

3) Diễn tiến các trận đánh: Có thể ngắn gọn như sau:

  1. a) Trận Sơn Nam: Tối hôm đó (30 Tết), quân Tây Sơn vượt sông Giản ở Ninh Bình.  Đến Sơn Nam, trấn thủ Hoàng Phùng Nghĩa (có sách chép Lê Phùng Nghĩa), tướng của vua Lê Chiêu Thống, bỏ chạy.  Các toán thám tử của quân Thanh đều bị quân Tây Sơn chận bắt giết sạch. (Cao Tông thực lục, 143.)  Vì vậy, tin tức trận Sơn Nam không lọt về Thăng Long.
  1. b) Trận Hà Hồi: Vua Quang Trung thúc quân tiếp đến Hà Đông.  Đêm mồng 3 Tết Kỷ Dậu (28-1-1789), nhà vua cho quân vây kín đồn Hà Hồi (Hà Đông), rồi ra lệnh các tướng đặt loa hô lớn; quân sĩ đồng thanh đáp ứng vang trời.  Quân trong thành nghe lớn tiếng, sợ hãi xin hàng.
  1. c) Trận Ngọc Hồi: Sau Hà Hồi, lực lượng Tây Sơn tiến đến Ngọc Hồi (huyện Thanh Trì) sáng sớm mồng 5 Tết (30-1-1789). Đây là phòng tuyến chính của quân Thanh để bảo vệ Thăng Long.  Vua Quang Trung biết quân Thanh phòng thủ ở đây khá kiên cố, trên thành có đại bác và chung quanh thành có địa lôi (mìn = landmine) bảo vệ.

Nhà vua sắp đặt cách tấn công như sau: Đi đầu là tượng binh gồm 100 thớt voi to khỏe (theo Cao Tông thực lục), trong đó có một số voi trang bị súng thần công (theo Thánh vũ ký), vừa bộ chiến tấn công, vừa phá thế trận địa lôi bao quanh thành Ngọc Hồi, vừa dùng thần công trực xạ phá thành.  Sau tượng binh là toán cảm tử xung phong. Nhà vua cho dùng những tấm ván làm mộc che chắn, để quân sĩ mang đầy đủ võ khí, dàn hàng ngang tiến tới.

Cuộc tấn công đồn Ngọc Hồi khai diễn sáng sớm mồng 5 Tết Kỷ Dậu (30-1-1789).  Trong thành, quân Thanh bắn súng ra dữ dội, nhưng quân Tây Sơn nhất quyết thúc voi tiến tới, dùng súng đại bác đặt trên lưng voi, phía đuôi voi, bắn trực xạ, phá hủy thành.  Kỵ binh của quân Thanh tiến ra khỏi thành gặp tượng binh của Tây Sơn, liền hoảng sợ bỏ chạy.  Thành bị phá, quân Tây Sơn tràn vào thành đánh cận chiến.  Quân Tây Sơn giỏi võ, rất thiện nghệ về cận chiến, chia quân Thanh thành từng toán nhỏ, rồi tiêu diệt.  Quân Thanh chết rất nhiều.  Số quân Thanh bỏ chạy bị chính địa lôi của họ nổ làm cho thiệt mạng.

Dưới đây là hình ảnh vua Quang Trung trong trận chiến Ngọc Hồi ngày mồng 5 tháng giêng năm kỷ dậu do một người Tây phương lúc đó chạy loạn vì chiến cuộc, chứng kiến và kể lại.

Ngày 30-1 [mồng 5 tháng giêng âm lịch], Quang Trung rời Kẻ Vôi [Hà Hồi] trên lưng voi và đến chung sức, khuyến khích đội ngũ ông, nhưng khi thấy họ chiến đấu không hăng hái lắm, ông liền bỏ voi và dùng ngựa.  Theo lời đồn, ông đeo hai cái đoản đao (gươm) và chạy ngang dọc chém rơi đầu nhiều sĩ quan và binh lính Trung Hoa làm rất nhiều người chết về tay ông.  Ông luôn mồm hô xung phong và lúc nào cũng ở trận tuyến đầu.” (Đặng Phương Nghi dịch, Nhật ký của Giáo hội Thiên chúa giáo Bắc kỳ tập san Sử Điạ số 9-10, tr. 224.)

Sau khi hạ đồn Ngọc Hồi, quân Tây Sơn tiếp đánh các đồn quân Thanh ở Văn Điển (Thanh Trì, Thường Tín, Hà Đông), Yên Quyết (ngoại thành Hà Nội).  Quân Thanh thiệt hại nặng,  đề đốc Hứa Thế Hanh, tổng binh Trương Triều Long, Thượng Duy Thanh đều tử trận.

Ngoài ra, một cánh quân Tây Sơn khác đến vây Sầm Nghi Đống tại Loa Sơn (gò Đống Đa) ở Khương Thượng (ngoại ô Thăng Long).  Sau một hồi chống cự quyết liệt, thế quân Thanh yếu dần, lại không được tiếp ứng; Sầm Nghi Đống biết không có cách gì thoát thân, liền thắt cổ tự tử trên cây đa.  Binh sĩ dưới quyền Sầm Nghi Đống đều tử trận.  (Nhật ký của Giáo hội Thiên Chúa giáo Bắc kỳ, Đặng Phương Nghi dịch, Sử Địa 9-10, tr. 225.)

Trong khi đó, được tin đồn Ngọc Hồi thất thủ sáng mồng 5 Tết Kỷ Dậu, Tôn Sĩ Nghị sai lãnh binh Quảng Tây là Thang Hùng Nghiệp cùng Phan Khải Đức (người Việt, trấn thủ Lạng Sơn đầu hàng quân Thanh) đi quan sát tình hình.

Liền trưa hôm đó tức trưa mồng 5 Tết, quân Tây Sơn xuất hiện tại Thăng Long.  Tôn Sĩ Nghị không kịp mặc giáp và thắng yên cương, đã vội lên ngựa bỏ trốn cùng vài kỵ binh, bỏ lại lại ấn quân, sắc thư, cờ tiết…(Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Sài Gòn, Nxb. Tân Việt, in lần thứ 7, tt. 374-375.)

Sau khi qua khỏi cầu nổi Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị ra lệnh chặt đứt cầu nổi.  (Cao Tông thực lục, bản dịch. tr. 145.), chận đường qua sông.  Đây là lời người Thanh tự thú, còn tài liệu Việt Nam thì cho rằng cầu phao bị gãy.  Số người chết đuối trên song Hồng nhiều không thể đếm hết được.

Lê Chiêu Thống, lúc bấy giờ có mặt trong doanh trại Tôn Sĩ Nghị, liền chạy theo họ Tôn, chỉ kịp sai người về cung, hộ vệ thái hậu cùng hoàng tử vượt sông.  Em vua là Lê Duy Chỉ đưa hoàng phi và cung tần đến bến sông thì cầu đã bị chặt đứt, không qua sông được, phải bỏ trốn về hướng tây.

Đề đốc nhà Thanh là Ô Đại Kinh đóng bản doanh ở Phú Thọ (lúc đó thuộc Sơn Tây), được tin Tôn Sĩ Nghị thất trận, nhờ một cựu quan nhà Lê tên là Hoàng Văn Thông hướng dẫn, rút lui trở về lại Vân Nam.

8.-   Hồng Phúc (câu hỏi 8):  Còn kết quả trận đánh thì thế nào anh Phụng?

Trần Gia Phụng (trả lời câu hỏi 8):  Theo Thánh vũ ký, Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy về hướng Kinh Bắc (Bắc Ninh và Bắc Giang). Khi chạy về tới Trấn-nam quan [ải Nam Quan], Tôn Sĩ Nghị “bỏ hết ngoài cửa quan lương thực, khí giới thuốc súng vài mươi vạn (cân).  Quân ta [Thanh] và ngựa trở về không đầy một nửa.” (Thánh vũ ký trong Hoàng Xuân Hãn toàn tập, tập 2, sđd. tr. 1344.)  Đó là sự ghi nhận của sử liệu Trung Hoa.  Chắc chắn số được trở về nầy có thể thấp hơn, nhưng Thánh vũ ký nâng cao lên đôi chút vì thể diện của nhà Thanh.

Như thế, nếu cánh quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị lãnh đạo đi vào từ biên giới Cao Bằng – Lạng Sơn thấp nhất khoảng 10,000 cùng 10,000 trợ thủ theo sử liệu Trung Hoa, và quân Thanh trở về không đầy một nửa, thì người Thanh (quân và phu) thiệt hại tối thiểu khoảng 10,000 người kể cả một số tướng lãnh nổi tiếng là Hứa Thế Hanh, Trương Triều Long, Thượng Duy Thanh, Sầm Nghi Đống. Đây là theo số iệu của tài liệu nhà Thanh.

Theo ghi nhận trong Nhật ký của Giáo hội Thiên chúa giáo Bắc kỳ về những sự kiện đáng ghi nhớ xảy ra trong địa phận giáo hội từ tháng 10-1788 đến tháng 7-1789, thì riêng trận Ngọc Hồi – Thăng Long, quân Thanh chết khoảng 10,000 người, trong đó ít nhất một phần ba bị chết đuối vì chen nhau qua cầu khi bỏ chạy và sau đó cầu bị chặt gãy. (Nhật ký của Giáo hội Thiên Chúa giáo Bắc kỳ…, Đặng Phương Nghi dịch, Sử Địa 9-10, tr. 224.) Số liệu nầy trùng hợp với số liệu của Ngụy Nguyên, người nhà Thanh, trong sách Thánh vũ ký. (trong Hoàng Xuân Hãn toàn tập, tập 2, sđd. tr. 1344.)  Ngoài ra, tại Đống Đa, quân Thanh tử trận khoảng 1,000 người. (Nhật ký của Giáo hội Thiên Chúa giáo Bắc kỳ, bđd. tr. 225.)

Trong số quân Thanh mất tích hay tử trận, có một số đã bỏ trốn, trong đó khoảng 800 người ra trình diện với Tây Sơn hay bị quân Tây Sơn bắt, và về sau được vua Quang Trung ra lệnh trả về Trung Hoa.  (Theo thư của vua Quang Trung do Hô Hổ Hầu đem sang nhà Thanh, ĐNCBLT, bd. tập 2, tr. 521.)

Về phía Đại Việt, không có sử liệu Việt nào viết về sự thiệt lại của lực lượng Tây Sơn.  Cũng theo Nhật ký của Giáo hội Thiên Chúa giáo Bắc kỳ, thì lực lượng Tây Sơn thiệt mất khoảng 8,000 quân trong trận Ngọc Hồi -Thăng Long, trong đó có một vị chỉ huy cao cấp là Đô đốc Lân (nhưng không phải nội hầu Phan Văn Lân) mà vua Quang Trung rất thương tiếc.  Nhà vua đã cử hành tang lễ vị đô đốc nầy rất trọng thể trong khi cuộc chiến còn tiếp diễn.

9.-   Hồng Phúc (câu hỏi 9):  Thưa anh Phụng, theo quan điểm của một người viết sử, cuộc đại thắng này đã đem lại cho dân tộc Việt chúng ta những gì?

Trần Gia Phụng (trả lời câu hỏi 9):  Thưa anh Hồng Phúc, thưa quý thính giả, bất cứ một sự kiện lịch sử nào cũng đều để lại cho hậu thế một bài học, huống gì là chiến công lẫy lừng năm Kỷ Dậu 1789.

Xin hãy nói về bài học tích cực tức bài học tốt trước.  Đầu tiên phải ghi nhận đây là một chiến công lẫy lừng trong lịch sử.  Và xin chú ý đây không phải chỉ là chiến thắng của vua Quang Trung trước Tôn Sĩ Nghị mà là chiến thắng của dân tộc Việt Nam đối với quân xâm lược Trung Hoa.  Vua Quang Trung là người lãnh đạo tài ba, đã biết huy động tổng lực dân tộc để chống ngoại xâm  Tôi nhấn mạnh là tổng lực dân tộc vì ngay cả những cựu thần nhà Lê cũng hợp tác với vua Quang Trung chống quân Thanh, từ Nguyễn Thiếp, đến Ngô Thời Nhậm, và các quan chức khác của nhà Lê ít nổi tiếng hơn.  Ngay cả tin tức tình báo cũng phải nhờ dân chúng mách bảo, vua Quang Trung mới có thể định ngày tấn công quân Thanh.

Thứ hai là những nhà lãnh đạo Tây Sơn, từ vua Quang Trung đến các tướng lãnh đều sống chết với quân đội, cùng chiến đấu và cùng chiến thắng.  Phải ghi nhận rõ, thật rõ, là vua Quang Trung và lãnh đạo Tây Sơn đã thực hiện đúng tinh thần binh thư của Trần Hưng Đạo xưa kia, trên dưới một lòng đánh giặc và thắng giặc.

Bài học tiêu cực là bà thái hậu, mẹ của vua Lê Chiêu Thống, đã qua Trung Hoa cầu viện.  Nhà Thanh lợi dụng cơ hội, đem quân xâm lăng Đại Việt.  Sau đó, triều đình vua Lê Chiêu Thống lại hợp tác với Tôn Sĩ Nghị để tái lập vương quyền nhà Lê, vốn đã bất lực.  May mà nhở vua Quang Trung và quân dân Đại Việt đã chiến thắng vẻ vang năm 1789, đánh đuổi quân xâm lược.  Nếu không, người Việt đã bị quân Thanh đô hộ thêm một lần nữa.

Bây giờ, chúng ta hãy đối chiếu với tình hình Việt Nam hiện tại.  Nếu năm 1788, bà thái hậu nhà Lê qua Trung Hoa cầu viện nhà Thanh, thì năm 1950, Hồ Chí Minh cũng qua Trung Hoa cầu viện đảng Cộng Sản Trung Hoa chống Pháp.  Không biết ngày xưa, bà thái hậu đã nói những gì để rước quân Thanh.  Còn ngày nay, khi qua Trung Hoa cầu viện, việc đầu tiên là Hồ Chí Minh đã phải làm kiểm điểm trước Lưu Thiếu Kỳ, xử lý thường vụ đảng CSTH vì lúc đó Mao Trạch Đông qua Liên Xô chúc mừng sinh nhật thứ 70 của Stalin.  Tức là HCM khấu đầu cầu xin quan thầy Trung Cộng giúp đỡ.

Việc Hồ Chí Minh làm kiểm điểm không phải do tài liệu “Mỹ ngụy” bịa đặt ra để bôi lọ Hồ Chí Minh đâu nghe anh Hồng Phúc, mà do Trần Đĩnh, một người trong vòng thân cận với Hồ Chí Minh, đã được một tờ báo ở Nam Cali quảng cáo là người đã “từng viết tiểu sử Hồ Chí Minh”, gần đây viết ra.  Trần Đĩnh nói rõ rằng Hồ Chí Minh đã  “kiểm thảo, trình bày các cái ta chủ trương và làm, Lưu Thiếu Kỳ nhận xét…chính sách tiêu thổ kháng chiến toàn bàn của Việt Nam là không cần thiết và lãng phí...” (Trần Đĩnh, Đèn cù, California: Người Việt Books, 2014, tr. 49.)

Đường đường là chủ tịch một nước, mà lại khấu đầu làm kiểm điểm trước một người vốn thuộc loại kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt.  Thật là nhục hết chỗ nói.  Trong lịch sử, chưa có một ông vua nào qua Tàu, rồi khấu đầu làm kiểm điểm trước một lãnh đạo Tàu cả.  Thế mà nay Hồ Chí Minh, cam tâm làm việc bẩn thỉu nầy.

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy quân Trung Hoa qua cứu viện thì lợi dụng cơ hội ở lại luôn Đại Việt.  Ngày nay, Trung Cộng cũng vậy, qua giúp CSVN, rồi cài luôn người trong bộ máy của đảng CSVN, dần dần, đưa Việt Nam vào quỹ đạo Trung Cộng và làm tay sai cho Trung Cộng. Thực dân Pháp đàn áp bóc lột, nhưng không ở luôn Việt Nam.  Trái lại, Tàu cộng qua Việt Nam là kiếm cách ở luôn tại nước ta.  Vì vậy, cầu viện Trung Cộng chống Pháp là một sai lầm nghiêm trọng, nều không muốn nói là ngu xuẩn.  Hậu quả việc cầu viện của Hồ Chí Minh di căn cho đến ngày nay, và dân tộc Việt phải gánh lấy khổ nạn nầy.

Ngoài ra, người Việt Nam và quân đội Việt Nam vốn có truyền thống chống xâm lăng.  Thế mà ngày nay, từ nhà nước CSVN đến quân đội nhân dân CSVN, tự sướng là đã chiến thắng hai đế quốc sừng sỏ Pháp và Mỹ, mà lại im khe, nhục nhã nhìn đất nước đang bị bọn xâm lược Trung Cộng dày xéo, chiếm đảo, chiếm biển, chiếm ải, chiếm đất …

Nói nữa cũng thêm buồn.  Trở lại với chiến công năm 1789, tôi xin thưa với anh Hồng Phúc và quý thính giả nghe đài, chiến công năm 1789 cho thấy dân tộc Việt Nam đủ sức đề kháng chống quân xâm lược Bắc phương nếu nhà cầm quyền Việt Nam quyết tâm và biết cách vận động tổng lực của toàn dân chiến đấu chống xâm lược.

Thưa anh Hồng Phúc, thưa quý thính giả nghe đài, mở đầu câu chuyện hôm nay, tôi đã kể hầu quý vị nghe một chuyện có thật về con gà.  Bây giờ, để kết thúc buổi nói chuyện hôm nay, tôi xin kể hầu quý vị nghe một chuyện cổ tích ngoại quốc về con gà.  Chuyện kể rằng có một đám cháy rừng xảy ra.  Một con gà thấy thế, chạy ra cái ao gần đó, ngậm từng ngụm nước chạy đến phun để chữa cháy, hết ngụm nầy đến ngụm khác.  Có kẻ bảo con gà điên, vác đá ném trời.  Con gà trả lời: “Tôi biết tôi chẳng chữa được đám cháy, nhưng không lẽ tôi đứng nhìn đồng loại bị thiêu trong đám cháy, mà không làm gì.  Tôi cố gắng hết sức mình, được chừng nào thì được.”

Vâng, nhân dịp năm mới, năm con gà Đinh dậu, chúng ta hãy làm những công việc dù nhỏ nhoi như con gà cổ tích kia, nhưng thiết thực tiếp tay với phong trào tranh đấu đòi hỏi dân chủ ở trong nước, góp phần được chừng nào hay chừng ấy ủng hộ đồng bào quốc nội, nhằm giải thể chế độ CSVN.  Chẳng những đàn áp dân chủ, CSVN đang càng ngày càng lệ thuộc Trung Cộng.  Không lẽ chúng ta vô cảm làm ngơ, ngồi nhìn đất nước suy vong.  Tôi tin rằng nếu chúng ta cùng nhau hợp lực, thì chúng ta sẽ làm được nhiều việc hơn con gà cổ tích.  Điều chắc chắn là chúng ta sẽ làm giảm tuổi thọ của CSVN, sớm giải thể chế độ độc tài đảng trị, và chống lại hiểm họa Trung Cộng xâm lăng, để tương lai dân tộc chúng ta sớm được tươi sáng hơn.

Xin cảm ơn anh Hồng Phúc đã phỏng vấn, xin cảm ơn quý vị thính giả đã theo dõi.  Xin kính chào và kính chúc toàn thể quý vị một NĂM MỚI AN VUI.

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 26-01-2017)

HỘI CHỢ TẾT ĐINH DẬU – JAN. 14, 2017 TẠI TORONTO, CANADA

Năm Mới, kính chúc Quý Vị luôn luôn được an vui, khỏe mạnh

***

Măc dù thời tiết khắc nghiệt (- 6 độ C năm nay thay vì -12 độ C năm 2016), một số các ACE thiện nguyên viên đã tới làm việc trong 2 ngày liền tại hậu trường với sức chứa 10,000 khách. Ngày hôm trước (Tiền Hội Chợ – Pre TET -) thiên hạ lái xe thẳng vào 2 cái “Exhibition Halls” để khuân đồ ra vì chúng tôi dựng chùa Một Cột, Cổng Làng, dựng sân khấu…Chúng tôi phải dời nơi đó trước nửa đêm, vì vấn đề an ninh cho Hội Chợ ngày hôm sau.

dsc06247a

Nhân dịp Tết Đinh Dậu, kính mời mời Quý Vị vào xem hình ảnh và Videos dưới đây tại miền “Đất Lạnh Tình Nồng”:

HÌNH ẢNH VÀ VIDEOS CỦA

A . PHAN DAM/ĐÀM TRUNG PHÁN

dsc06152a

  1. TIẾP TÂN – QUAN KHÁCH / RECEPTION AND SPECIAL GUESTS
  2. https://plus.google.com/photos/110033572606660377857/album/6376231454797045457/6376231499752501970?authkey=CMbUjKyrveWS6AE

(TẾT ĐINH DẬU – TIÊP TÂN – JANJ 14, 2017 – VIETNAMESE LUNAR NEW YEAR FESTIVAL)

dsc06059aa

  1. DIỄN HÀNH

https://plus.google.com/photos/110033572606660377857/album/6376280298128525473/6376280294775006114?authkey=CN-Aq62qqLezGA

(DIỄN HÀNH CỦA CÁC HỘI ĐOÀN VÙNG ĐẠI ĐÔ THỊ TORONTO – PARADE Ò VIETNAMESE ASOCIATIONS Parade of Vnse Associations – Public)

dsc06323a

  1. BIG CROWD IN HALLS 2 AND 3 : GIAN HÀNG VÀ QUAN KHÁCH

https://plus.google.com/photos/110033572606660377857/album/6376350865001800001/6376350882620666690?authkey=COm84JnD1KzPKQ

(VIETNAMESE LUNAR NEW YEAR –TORONTO – 2017-01-14 – TET DINH DAU – BIG CROWD IN HALLS 2 & 3)

dsc05744a

  1. PRE TET PREPARATION – 2017-01-13 – TORONTO – SỬA SOẠN HỘI CHỢ XUÂN ĐINH DẬU 2017

https://plus.google.com/photos/110033572606660377857/album/6376617261785985697/6376617303907845234?authkey=CIPqqIP-nu21zgE

(PRE TET PREPARATION – 2017-01-13 – TORONTO – SỬA SOẠN HỘI CHỢ XUÂN ĐINH DẬU – Public)

***

dhs-tha-tho

B. ĐẶNG HOÀNG SƠN (Photos & Videos):

http://thuduc-ontario.ca/hct-dinhdau/index.html

***

dhs-den-tho-anh-thu

C. VBS TV – DIỄM HƯƠNG – HCT 2017

https://www.youtube.com/watch?v=yIScOk-nYlA&feature=youtu.be

dsc06322a

D. SBTN – Thanh Tam – HCT 2017

https://www.youtube.com/watch?v=Snu-OASqHJs&feature=youtu.be

Hội Chợ Tết Cộng Đồng Xuân Đinh Dậu 2017 (Behind The Scenes)

https://www.youtube.com/watch?v=wWOcUV9UMFE

Hội Chợ Tết Cộng Đồng Toronto Xuân Đinh Dậu 2017

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

ĐÀM TRUNG PHÁN

CỬA KHỔNG, CÁI NÔI CỦA GIÁO DỤC NHÂN BẢN*

confucius-photo-1

ĐÀM TRUNG PHÁP

 

 

VẠN THẾ SƯ BIỂU PHƯƠNG ĐÔNG

 

Từ trên hai ngàn năm nay, người Trung Hoa và các dân tộc Á Châu khác chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa như Nhật Bản, Triều Tiên, và Việt Nam đã từng sống trong trong một trật tự xã hội lấy triết lý Khổng giáo (孔教) làm nền tảng. Triết lý nhân bản ấy chú trọng đến mối giao hảo giữa con người và con người, và dạy dỗ con người cung cách sống trong đạo lý, hòa hợp, và thái bình. Vì những công đức vĩ đại đó, người Trung Hoa đã tôn vinh Khổng Phu Tử (孔夫子) là Vạn Thế Sư Biểu (萬世師表), một danh hiệu lớn lao đã làm lu mờ cả những thánh nhân và minh quân đã ra đời trước ngài như Phục Hy, Thần Nông, Nghiêu, Thuấn, Văn Vương, và Vũ Vương.

 

CỬA KHỔNG DƯỚI MẮT PHƯƠNG TÂY

 

Tuy nhiên, ta ít khi nghe đến thế giới phương Tây nghĩ gì về thánh nhân họ

Khổng. Trong tập khảo luận xuất bản năm 1976  mang tên Why Confucius has been reverenced as the model teacher of all ages, tác giả Li-fu Chen cho biết một số nghiên cứu gia gồm các sắc dân Anh, Đức, Ý, Mỹ, Nga, Pháp đã viết về thân thế và sự nghiệp Khổng Tử kể từ năm 1688 trở đi, với các tác phẩm sau đây viết về ngài được coi là đáng kể hơn cả: Confucius und seine Lehre (Khổng Tử và triết lý giảng huấn) do Von Der Gabelentz viết năm 1888 tại Đức Quốc), The great teacher (Nhà giáo vĩ đại) do G. G. Alexander viết năm 1890 tại Anh Quốc), và Confucianism and Taoism (Khổng giáo và Lão giáo) do R. K. Douglas viết năm 1895 tại Anh Quốc). Tóm lại, phương Tây mới chỉ chánh thức biết đến vị Thầy Học Vạn Đời của phương Đông từ cuối thế kỷ XVII trở đi.

 

Giới trí thức phương Tây khi nghiên cứu về Khổng giáo thường dùng phương tiện phiên dịch Tứ Thư (四書) và Ngũ Kinh (五經) sang ngôn ngữ của họ, hoặc viết về cuộc đời Khổng Tử như một hiền triết của nhân loại, hoặc so sánh triết lý Khổng Tử với các nền triết lý nhân bản khác trên thế giới. Theo cặp vợ chồng sử gia Hoa Kỳ Will Durant và Ariel Durant trong cuốn sách The age of Voltaire xuất bản năm 1965 của họ thì triết gia Francois Marie Arouet Voltaire (1694-1778) người Pháp đã rất ngưỡng mộ hiền triết họ Khổng và đã có công truyền bá tư tưởng Khổng giáo vào giới trí thức nước Pháp thời đó.

 

Triết gia kiêm bách khoa tự điển gia Voltaire ca ngợi Trung Hoa là quốc gia cổ nhất, đông dân nhất, và được cai trị hoàn hảo nhất trên trái đất này. Điều mà Voltaire ngưỡng mộ hơn cả về Khổng giáo chính là ý niệm đạo đức có thể khả thi mà không phải tùy thuộc vào một tôn giáo siêu nhiên. Vẫn theo lời hai sử gia Durant, triết gia Voltaire và một vài triết gia người Pháp khác nữa đã sẵn sàng “phong thánh” cho Khổng Tử, nhà hiền triết đã dạy cho dân chúng những nguyên lý đạo đức 500 năm trước khi Thiên Chúa giáo ra đời.

 

Triết gia kiêm toán học gia Gottfried Wilhelm von Leibniz (1646-1716) lẫy lừng tên tuổi của nước Đức –người đã từng dùng toán và siêu hình học để chứng minh Thượng Đế chính là Đấng Vô Cùng đã tạo ra vũ trụ– rất cảm phục lý thuyết về vũ trụ mà Kinh Dịch (易經) đã làm sáng tỏ. Leibniz cho rằng vũ trụ quan trong cuốn sách ấy hoàn toàn hòa hợp với thực thể của vũ trụ, trong đó tất cả mọi vật đều biến đổi không ngừng. Chính Leibniz cũng đã đề nghị xã hội  phương Tây nên mở cửa ra để đón lấy những luồng gió triết lý Á Đông đầy nhân tính và bắt đầu một cuộc trao đổi văn hóa giữa Đông và Tây.

 

Trong lịch sử cận đại Hoa Kỳ, có lẽ cố ngoại trưởng John Foster Dulles (1888-1959) là người Mỹ đầu tiên chánh thức tỏ lòng ái mộ Khổng Tử. Giữa thập niên 1950, Dulles đã tuyên bố rằng một trong những mục tiêu ngoại giao của nước Mỹ là phải bảo toàn nền văn hóa Trung Hoa mà tinh túy là Khổng giáo, và ông cũng tố cáo cái manh tâm của chế độ Mao Trạch Đông (1893-1976) muốn diệt trừ Khổng giáo để thay vào đó bằng giáo điều Mác-Lê.

 

GIÁO DỤC NHÂN BẢN XƯA VÀ NAY

 

Riêng trong lãnh vực giáo dục, mấy ai có thể ngờ rằng Cửa Khổng hơn hai ngàn năm về trước đã là cái nôi cho những nguyên tắc giáo dục nhân bản mà nước Mỹ giờ đây đang hô hào thực hiện?  Thực vậy, học giới nước Mỹ ngày nay ngưỡng mộ triết lý giáo dục Khổng Tử vì các nền tảng nhân bản và đạo đức sau đây:

 

  • Giáo huấn không phân biệt giai cấp

 

Khổng Tử có một niềm tin vững mạnh vào sự bình đẳng và bản chất có thể dạy dỗ được của tất cả mọi người. Trong sách Luận Ngữ (論語), ngài nói “Trong giáo dục, không hề có phân biệt giai cấp” (Thiên Vệ Linh Công, Tiết 38), và “Từ người chỉ có thể mang cho ta gói nem khô trở lên, ta chưa hề từ chối giáo huấn một ai” (Thiên Thuật Nhi, Tiết 7). Hành động đầy nhân nghĩa này của ngài như thể đã xác định căn nguyên cho nền giáo dục đại chúng của nhân loại. Ngài cũng chủ trương một học đường lúc nào cửa cũng mở để đón nhận học trò, và điều kiện duy nhất để được nhập học là phải có lòng hiếu học.

 

Trong mọi đệ tử, ngài đều tìm thấy một tiềm năng học vấn, và ngài nhất quyết giúp mọi môn sinh trở thành con người toàn diện. Hiện nay, một trọng trách của giáo chức Mỹ là phải có “ước vọng cao” (“high expectations”) cho từng học trò và phải tin tưởng rằng “học trò nào cũng có thể học được” (“every student can learn”). Đó chính là điều Khổng Tử đã làm 25 thế kỷ về trước để mong xây dựng lại một nước Trung Hoa đang phân hóa và bạc nhược.

 

  • Học vấn đồng hành với phong cách xử thế

 

Theo Khổng Tử, kiến thức đồng nghĩa với sự thông thái về cách xử thế, một đức tính cần thiết để mang lại một đời sống tốt đẹp cho cá nhân và xã hội. Do đó, mục đích chính của nền giáo dục Cửa Khổng là huấn luyện cho con người cách xử thế để có thể sống hòa hợp với đồng loại, bất kể ở gần hay xa, cao hơn hay thấp hơn mình trong giai tầng xã hội.

 

Trách nhiệm của người thầy không phải chỉ để truyền bá kiến thức mà còn phải có một tiêu chuẩn lý tưởng về đạo đức để còn có thể trau giồi tư cách cho học trò mình. Trong sách Trung Dung (中庸) Khổng Tử viết “Trí, nhân, và dũng là ba đức tính có thể ràng buộc con người khắp nơi vào với nhau” (Chương 20, Tiết 8). Triết lý giáo dục nhân bản cao thượng này đang vang lên như một sứ điệp thiêng liêng cho các xã hội tân tiến đang bị các tệ đoan vật chất đe dọa và đang tìm cách dạy dỗ thanh thiếu niên trở về với bản chất thiện tâm qua nỗ lực “giáo huấn tư cách” (“character education”).

 

  • Cá nhân hóa phương thức giảng huấn

 

Các xã hội tân tiến ngày nay đều đồng ý là muốn thăng tiến giáo dục, phương thức giảng huấn phải được “cá nhân hóa” (“individualized”) để giúp mọi học trò thành công.  Trong sách Luận Ngữ, Khổng Tử xác định “Đối với những người có tư chất từ bậc trung trở lên thì mới có thể nói đến những điều cao xa; đối với những người có tư chất từ bậc trung trở xuống thì không thể nói những điều cao xa” (Thiên Ưng Dã, Tiết 19).

 

Nhà giáo Dương Quảng Hàm (1898-1946) trong cuốn Việt Nam Văn Học Sử Yếu (1968) đã viết như sau về khoa sư phạm của Khổng Tử: “Trong các lời khuyên dạy, chuyện trò với học trò, Ngài tỏ ra là một ông thầy hiểu thấu tâm lý học trò và khéo làm cho lời dạy bảo của mình thích hợp với trình độ cảnh ngộ của mỗi người. Có khi cùng là một câu hỏi mà ngài trả lời khác, tùy theo tư chất và chí hướng của từng người” (trang 38). Phương cách giảng huấn nhân bản thực tiễn này có thể được coi là tiền thân của các chương trình học đặc biệt căn cứ vào từng khả năng cá biệt của từng học trò mà ngày nay học đường Hoa Kỳ mệnh danh là independent study, self-paced instruction, talented/gifted program, laureate program, vân vân.

 

  • Suy tư chín chắn

 

Giáo giới các cấp nước Mỹ ngày nay đều ao ước các học sinh và sinh viên có được “khả năng suy tư chín chắn” (“critical thinking skills”) để thấu đáo, quán triệt việc học. Khổng Tử luôn luôn đòi hỏi các môn sinh của ngài làm việc đó. Ngài dạy điều gì cũng để cho học trò phải cố sức suy nghĩ tìm tòi lấy, khi nào xem chừng đã gần hiểu được thì ngài mới chỉ bảo cho.

 

Lời ngài cho môn sinh, ghi trong sách Luận Ngữ, là “Ta không mở sự thực cho kẻ không hăng hái học, không giúp kẻ không sốt sắng tự giải. Khi ta trình bầy một góc cạnh của một vật cho ai mà người đó không thể từ đó học ba góc cạnh kia, ta không nhắc lại bài học nữa” (Thiên Thuật Nhi, Tiết 8).

 

Cũng trong sách Luận Ngữ, ngài nói “Học mà không suy nghĩ thì như không có học; suy nghĩ mà không có học thì nguy” (Thiên Vi Chính, Tiết 15), và ngài đòi hỏi môn sinh phải có một thành tín trí thức, tức là “Điều gì biết được thì nói là mình biết, điều gì không biết được phải nhận là không biết; đó là biết vậy” (Thiên Vi Chính, Tiết 17).

 

NHẬN ĐỊNH CỦA NGƯỜI VIẾT

 

Nhìn từ phương Tây, Khổng Phu Tử là một hiền triết vĩ đại, một nhà giáo vượt thời gian và không gian. Không ai có thể phủ nhận được những tương đồng thần kỳ giữa những điều mà ngài áp dụng cho môn sinh 25 thế kỷ về trước và những mục tiêu giáo dục hiện đại tại Hoa Kỳ cũng như tại các xã hội tiền tiến khác. Sự thực hiển nhiên này lại càng làm tăng thêm uy danh cho tước hiệu cao quý Vạn Thế Sư Biểu mà người phương Đông đã dùng để tôn vinh và tri ân ngài.

 

 

THƯ TỊCH CHỌN LỌC

 

Chen, Li-fu (1976). Why Confucius has been reverenced as the model teacher of all ages. New York: St. John’s University Press.

Dương, Quảng Hàm (1968). Việt-nam văn-học sử-yếu. Saigon: Trung Tâm Học Liệu, Bộ Giáo Dục.

Durant, Will & Ariel (1965). The story of civilization vol. 9The age of Voltaire. New York: Simon & Schuster.

Nguyễn, Hiến Lê (1994). Luận ngữ. Westminster, CA:  Nhà Xuất Bản              Văn Nghệ.

Waley, Arthur (1989). The analects of Confucius. New York:  Vintage                Book.

 

*Bản dịch sang Việt ngữ từ bài khảo luận “Confucian pedagogics, the cradle of humanistic education” do Tiến sĩ Đàm Trung Pháp thuyết trình trong kỳ Hội thảo thường niên của The Texas Association for Muticultural Education (TAME) ngày 27-3-2010 tại University of North Texas.

HÌNH ẢNH CUBA VÀ THÀNH PHỐ HAVANA

dsc02697dsc02565

Đã nhiều lần, vợ chồng chúng tôi dự định đi sang Cuba thăm một chuyến nhưng rồi …”duyên chưa đến”. Nhưng tháng 10, 2016, chúng tôi đã có dịp qua thăm Cuba và nhất là thành phố Havana trước khi Cuba tràn ngập với những hotel sang trọng.

Thành phố Havana làm tôi liên tưởng đến Ha Noi, Saigon của thập niên 1950 với các xe hơi Hoa Kỳ “to lớn” khi tôi còn đang học tiểu học và trung họcvới kiến trúc Âu Châu thời xua và thiếu tiền để trùng tu.

Tôi đã ngồi viết một bài về Cuba trong bóng mát với gió hiu hiu, hy vọng sẽ cố gắng “edit” nó và cho lên mạng trong tương lai gần đây.

Khi “Cu Ba thức …lâu, thì Việt Nam ngủ…lâu“, hình như tôi đã nghe một đại hiền Triết nào đó đã thốt ra như vậy …?

https://plus.google.com/photos/110033572606660377857/albums/6345958878019989569

DEMAIN, DÈS L’AUBE: MỘT TUYỆT TÁC CỦA VICTOR HUGO

 

ĐÀM TRUNG PHÁP

 

 

Tuyển tập Les Contemplations của Victor Hugo (1802-1885) chứa đựng 158 bài thơ ghi lại các kỷ niệm của ông về những chuyện vui buồn trong đời sống thường nhật, gồm cả nỗi đớn đau khôn lường do cái chết mang lại.  Tất cả được thi hào sáng tác trong khoảng thời gian từ 1830 đến 1855 và cho xuất bản năm 1856.

 

Trong số những bài ghi lại nỗi đớn đau vì tử biệt trong Les Contemplations, vô số độc giả trong cũng như ngoài nước Pháp đã coi bài Demain, dès l’aube như một tuyệt tác mà có người đã học thuộc lòng ngay sau lần đọc đầu tiên.

 

Victor Hugo viết bài ấy trong dịp tưởng niệm hàng năm lần thứ tư sự qua đời quá sớm của cô con gái đầu lòng Léopoldine. Tuyệt tác chỉ gồm 12 dòng thơ chia làm 3 đoạn (strophes) giản dị trong sáng nhưng đậm nét sầu thương dùng để dựng lên trong tâm trí thi hào một chuyến sắp đi thăm mộ cô con gái thương yêu nhất của ông.

 

Mời quý bạn đọc thưởng lãm bài thơ Demain, dès l’aube song hành với bản dịch hết sức cố gắng của tôi sang tiếng Việt. Khi làm công việc liều lĩnh này tôi biết mình có cơ nguy bị lên án là dám “phản bội” một tuyệt tác, như lời cảnh cáo chí lý từ lâu của dân tộc Pháp: “Traduire, c’est trahir” (Dịch, đó là phản bội).

 

Demain, dès l’aube, à l’heure où blanchit la campagne,                                    

Ngày mai, ngay lúc rạng đông, khi vùng quê bừng sáng,

 

Je partirai. Vois-tu, je sais que tu m’attends.

Cha sẽ lên đường. Con ơi, cha biết con nóng lòng chờ đợi.

 

J’irai par la forêt, j’irai par la montagne.

Cha sẽ đi qua rừng, cha sẽ đi qua núi.

 

Je ne puis demeurer loin de toi plus longtemps.

Cha không thể nào lâu hơn nữa ở xa con.

 

o o o o o

 

Je marcherai, les yeux fixés sur mes pensées,

Cha sẽ bước đi, mắt chìm sâu trong suy nghĩ,

 

Sans rien voir au dehors, sans entendre aucun bruit,

Không nhìn quanh, chẳng nghe động tĩnh chi,

 

Seul, inconnu, le dos courbé, les mains croisées,

Cô đơn, lạc lõng, lưng khòm, tay chắp,

 

Triste, et le jour pour moi sera comme la nuit.

Lòng sầu đau, với cha ngày sẽ tối như đêm.

 

o o o o o

 

Je ne regarderai ni l’or du soir qui tombe,

Cha sẽ không ngắm ánh chiều vàng rơi xuống,

 

Ni les voiles au loin descendant vers Harfleur,

Cũng như cánh buồm xa thẳm hướng Harfleur,

 

Et quand j’arriverai, je mettrai sur ta tombe

Và khi tới, cha sẽ đặt cho con trên mộ

 

Un bouquet de houx vert et de bruyère en fleur.

Chùm ô rô xanh lá và thạch thảo trổ hoa.

 

Bài thơ dẫn người đọc đi xuyên qua miền đồng quê vùng Normandie phía tây bắc nước Pháp, nhưng tác giả chưa cho biết chuyến đi sẽ dẫn tới nơi nào. Rồi lần lượt người đọc thấy tác giả thì thầm những lời âu yếm với một người nào đó đang chờ mong ông, tiếp theo là một hình ảnh đăm chiêu của ông với lưng khom và đôi tay khoanh trước ngực như đang cầu nguyện một điều gì trên đường đi hành hương đến một nơi nào chưa rõ.

 

Qua nguyên tác bằng tiếng Pháp, cho đến hết 10 dòng thơ đầu, người đọc tốt phần sẽ đoán đây là một cuộc hẹn hò của hai tình nhân, vì hai đại từ nhân xưng thân mật “je” và “tu” rất hợp cho hoàn cảnh này.

 

[Buồn thay, bản dịch của tôi đã làm mất đi lời đoán thú vị đó, chỉ vì hai đại từ nhân xưng “cha” và “con” của tiếng Việt không thể nào áp dụng cho hai tình nhân được! Mỗi dịch giả chỉ còn có nước “đổ tội” cho sự khác biệt trong cách sử dụng đại từ xưng hô giữa tiếng Pháp và tiếng Việt mà thôi!]

 

Mãi tới khi bàng hoàng với 2 dòng thơ chót, người đọc mới thấy được cuộc hẹn hò lạ thường này thiêng liêng và cận kề trái tim Victor Hugo bội phần hơn bất cứ một cuộc hò hẹn nào khác trong đời của vị đệ nhất văn thi sĩ nước Pháp.

 

Léopoldine là trưởng nữ và cũng là cô con gái yêu dấu nhất (có thể so với “con gái rượu” trong nếp sống dân Việt) của Victor Hugo. Bốn năm về trước, khi cô 19 tuổi và người chồng mới cưới đã chết đuối trong dòng sông Seine ở khúc gần thị trấn  nhỏ Villequier vì chiếc thuyền của họ bị lật. Ông bố Victor lúc ấy đang du lịch với tình nhân ở miền nam nước Pháp và chỉ được biết muộn màng về cái chết thảm của con gái khi ông ngồi xem nhật trình trong một quán cà phê!

 

Nỗi đoạn trường ấy đã được Victor Hugo thổ lộ trong bài thơ À Villequier cũng trong tuyển tập Les Contemplations. Bên mộ Léopoldine tại Villequier sát bờ sông Seine thơ mộng, nơi cô tử nạn 4 năm về trước, thi hào đã than thân với Đấng Vô Cùng:“Ô mon Dieu! cette plaie a si longtemps saigné / L’angoisse dans mon âme est toujours la plus forte / Et mon coeur est soumis, mais il n’est pas résigné” (Thượng Đế hỡi! vết thương này rướm máu đã quá lâu / Trong hồn tôi nỗi xót xa mỗi lúc chỉ thêm sâu / Và trái tim tôi chịu thua, nhưng chưa hề cam phận).

 

Demain, dès l’aube là bài thơ trữ tình chất ngất nỗi tiếc thương mà người cha Victor Hugo viết cho cô con gái yêu dấu nhất của mình đã phải lìa đời quá  trẻ. Câu kết tuyệt chiêu của bài thơ là một ước ao bất tử hóa cuộc đời tươi đẹp nhưng vắn số của ái nữ Léopoldine. Còn gì khác có thể đóng vai một ẩn dụ toàn bích hơn là chùm ô rô lá mãi xanh màu và cụm thạch thảo hoa muôn đời nở đã được người cha lẫy lừng tên tuổi âu yếm đặt trên mộ để người đời không bao giờ quên được nàng?

 

Nếu như khẳng định của thi hào Alfred de Musset (1810-1857) rằng “Les plus désespérés sont les chants les plus beaux” (Những bài ca tuyệt vọng nhất là những bài ca đẹp nhất) lúc nào cũng đáng tin cậy, thì Demain, dès l’aube của Victor Hugo là một minh chứng hùng hồn vô song.

 

ĐÀM TRUNG PHÁP

Viết cho Diễn Đàn Thế Kỷ trong một ngày

mưa dầm dề cuối năm 2016 tại

California

CHÚC MỪNG GIÁNG SINH VÀ NĂM MỚI

merry-christmas-happy-new-year-2016-1800

Đầu tháng 2 năm 2016, Hội Đồng Nghị Viên thành phốMississauga đã báo tin mừng cho chúng tôi: họ quyết định dành riêng  cho Cộng Đồng Việt Nam vùng Đại Đô Thị Toronto một miếng đất để xây Tượng Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân tại số 3650 Dixie Road, Mississauga, Ontario.

arial-view-dsc08465

Miếng đất này nằm ngay trước thư viện Burnhamthorpe (góc SW của Dixie và Burhamthorpe) có rất nhiều chỗ đậu xe và có 2 đường xe bus khác nhau (Dixie và Burnhamthorpe) đậu ngay trước địa điểm này.

tuong-dai-monument-text-dsc08588

Bắt đầu từ mùa thu năm 2016, các hội đoàn VN vùng Đại Đô Thị Toronto đã chuẩn bị tổ chức Hội Chợ Tết ĐInh Dậu 2017. Kính mời Quý Vị vào đọc bài viêt và xem hình ảnh cùng Youtubes của HCT 2016 trong link dưới đây .

http://www.vwat.org/hoi-cho-tet-binh-than-toronto-jan-16-2016/

Xin kính chúc Quý Vị và gia đình mùa Giáng Sinh đầm ấm và Năm Mới 2017 được an vui, khỏe mạnh.

Đàm Trung Phán

Dương Bích Nga

APP.ClickBank Radio

iBook and Digital products.

Công phu Trà Đạo

Trà Đạo là một nghệ thuật đòi hỏi ít nhiều công phu

tranlucsaigon

Trăm năm trong cõi người ta...

Nhạc Nhẽo

Âm thanh.... trong ... Tịch mịch !!!

~~~~ Thơ Thẩn ~~~~

.....Chỗ Vơ Vẩn

Nguyễn Đàm Duy Trung's Blog

Trang Thơ Nguyễn Đàm Duy Trung

%d bloggers like this: