Đàm Trung Phán

Những bài viết …..

Hồng Vân diễn ngâm thơ Đàm Trung Phán

KÍnh mời Quý Vị mở speaker của PC, rồi  bấm vào link dưới đây để nghe nghệ sĩ Hồng Vân diễn ngâm 32 bài thơ của Đàm Trung Phán:

Phần 1

Phần 2

ĐTP

 

LỜI NÓI ĐẦU

Sau khi viết xong loạt bài Cây Đa Lối Cũ, Gọi Hồn Người Xưa”, người viết đã có dịp đọc thêm nhiều bài viết về Tâm Linh của các tác giả Tây Phương và Ðông Phương. Tôi đọc say mê vì có nhiều khoa học gia và nhà ngoại cảm Tây Phương đã mô tả một số hiện tượng khá giống với những gì tôi đã cảm nhận được khi đang thức cũng như khi đang ngủ

Đây là một đề tài vừa rộng lớn, vừa mơ hồ vì còn nhiều vấn đề chưa có thể chứng minh một cách cụ thể được dựa theo nền tảng khoa học hiện tại của loài người. Tôi có cảm tưởng là mình giống như là một ông thầy bói mù đang sờ chân một con voi khổng lồ để mà “đoán quẻ” về hình dáng, kích thước và cuộc đời, số mạng của con voi đó.
Vì vậy mà cứ chần chờ trước khi viết loạt bài này về Tâm Linh

Dựa theo một số những kinh nghiệm tâm linh của chính bản thân và những gì mà tôi đã đọc được trong những tài liệu của phương Ðông và phương Tây về linh hồn, vong linh, cõi vô hình, tái sinh, luân hồi, gọi hồn… tôi mạo muội viết ra loạt bài này. Bài viết còn có nhiều thiếu sót, nhiều chỗ chưa hiểu rõ hay hiểu lầm… xin qúy vị rộng lòng thứ lỗi cho. Người viết sẽ rất hoan hỉ khi nhận được những ý kiến xây dựng của quý vị độc giả những mong học hỏi thêm được và để cải tiến bài này trong tương lai. Xin Quý Vị viết email về phandam99@yahoo.com cho người viết.

Xin cứ coi như đây là bài viết mở đầu để chúng ta cùng học hỏi thêm trong tương lai. Trong tinh thần “vạn sự khởi đầu nan”, xin mời quý vị vào đọc…

Nhiều Học Trò Ngoại Quốc Nói Và Viết Tiếng Anh Quá Kém: Lỗi Tại Ai?

Đàm Trung Pháp

Giáo Sư Thực Thụ (Ngữ Học)

Texas Woman’s University

LỜI PHI LỘ CỦA TÁC GIẢ:  Một buổi hội thảo giáo dục mang chủ đề “Academic Success for All Limited-English-Proficient Students” đã được Oklahoma State Department of Education tổ chức ngày 22-2-2002 tại University of Central Oklahoma. Trong bài thuyết trình chủ đề (keynote address) khai mạc cuộc hội thảo, tôi đã gửi đến người nghe một cảnh giác khẩn trương chứa đựng những điều có thể làm buồn lòng một số thính giả trong buổi hội thảo nhưng vẫn phải nói ra. Xin gửi đến bạn đọc bốn phương bản dịch sang tiếng Việt của bài thuyết trình đó.

*********

Phần trình bầy của tôi hôm nay với quý đồng nghiệp tại Oklahoma được hứng khởi bởi một bài viết mang tên “What Teachers Need to Know about Language” phổ biến vào mùa hè năm 2000 của Giáo sư Lily Wong Fillmore thuộc University of California at Berkeley và Giáo sư Catherine Snow thuộc Harvard University. Đọc xong bài viết ấy, tôi thấy như nỗi ưu tư của chính tôi (và có lẽ của nhiều nhà giáo dục ngôn ngữ khác nữa) đã được hai tác giả nói dùm lên một cách rất hùng hồn. Đó là một tiếng chuông cảnh tỉnh cho nghề nghiệp chúng ta.

Hai vị giáo sư nêu trên nhận thấy hình như các học trò mà tiếng mẹ đẻ không phải là Anh ngữ càng ngày càng bị khó khăn trong việc học hỏi ngôn ngữ này. Có những em khi ghi danh học mẫu giáo được xếp loại “khả năng Anh ngữ hạn chế” và 13 năm sau đó khi tốt nghiệp trung học vẫn thuộc loại “khả năng Anh ngữ hạn chế”! Ngay cả những em rất chăm chỉ học hành, thuộc đủ mọi sắc tộc, bất kể là sản phẩm của giáo dục song ngữ hoặc là của giáo dục ESL, cũng không chinh phục được Anh ngữ. Những dữ kiện từ chương trình ESL của University of California at Irvine năm 1997 vẽ lên một hình ảnh bi đát: 60% các sinh viên năm thứ nhất đã rớt bài thi luận văn Anh ngữ tại trường này, và 90% của các sinh viên thi rớt này là người Á châu đã từng theo học ở Mỹ tối thiểu là 8 năm. Đó là các em học sinh đã tốt nghiệp trung học với hạng danh dự, đã từng học các lớp Anh ngữ cao cấp (AP English). Nhưng, khổ thay, khả năng viết tiếng Anh của các em cho chúng ta thấy các em không nắm vững được cú pháp thứ tiếng này chút nào! Đó là chuyện ở California. Còn ở Texas thì cách đây ít lâu tôi có nhận được một  thư mời viết bằng thứ tiếng Anh thuộc loại vừa tả của một sinh viên gốc người Việt, nguyên văn như sau: “Do you always wanted to know what is the different between the Vietnamese and American culture? Do you always wondering why our parents thinking are so differences than we are? Than come to the Living Two Cultures Conference.” [Chú thích ngoài lề của tác giả: Ba câu tiếng Anh này chứa đựng quá nhiều lỗi về văn phạm và về cách dùng chữ, có thể làm cho người nắm vững căn bản tiếng Anh phải rùng mình. Trong câu thứ nhất, nhóm chữ “Do you always wanted to know…” không thể nào có thể được chấp nhận trong tiếng Anh, vì trợ động từ “do” trong dạng hiện tại không thể đi với động từ “wanted” trong dạng quá khứ. Thường thường người ta nói ‘Have you ever wanted to know…” Phần còn lại của câu thứ nhất cũng sai ở chỗ người viết đã dùng cách nói trực tiếp (direct speech) thay vì cách nói gián tiếp (indirect speech) mới đúng, đó là chưa kể đến danh từ “difference” đã viết sai thành tính từ “different” và chữ “culture” ở cuối câu phải là số nhiều mới đúng. Vậy thời phần chót của câu thứ nhất phải là “what the difference between the Vietnamese and American cultures is” trong trường hợp chúng ta chấp nhận chữ “difference” ở dạng số ít như người viết đó đề nghị. Câu thứ hai cũng sai không kém gì câu thứ nhất. Nhóm chữ “Do you always wondering why…” không thể là tiếng Anh được chút nào, mà phải thay thế bằng “Have you ever wondered why…” và phần còn lại của câu thứ hai cũng có vài lỗi sơ đẳng: thiếu dấu hiệu chỉ sở hữu cách (possessive case) cho danh từ “parents”, danh từ “differences” dùng thay và sai cho tính từ “different”, cũng như “we are” dùng thay và sai cho đại từ sở hữu “ours”. Phần cuối của câu thứ hai phải là “our parents’ thinking is so different than ours”. Câu chót khá nhất, vì chỉ viết sai chánh tả chữ thứ nhất trong câu: “Then” viết sai thành “Than”].

 Tôi biết chắc quý đồng nghiệp tại Oklahoma cũng đã có những kinh nghiệm tương tự.

Vì đâu ra nông nỗi này?  Theo tôi, lý do hiển nhiên là các em đã không được huấn luyện kỹ càng để các em có thể làm chủ được các cấu trúc cũng như các khuôn mẫu sử dụng của Anh ngữ. Nhiều giáo chức ngày nay không đủ khả năng giúp học trò chinh phục văn phạm và cú pháp tiếng Anh. Cách đây vài chục năm, văn phạm tiếng Anh và ít nhất là một ngoại ngữ được cho vào học trình trung học Mỹ, nhưng ngày nay hai môn học này không còn là những môn học bắt buộc nữa. Do đó, vài ba thế hệ nhà giáo đã không có cơ hội trau giồi văn phạm và ngoại ngữ khi họ còn ở trung học. Không nắm vững văn phạm, các nhà giáo này không nhận ra các lỗi văn phạm của học trò, và nếu có nhận ra những lỗi của học trò cũng không biết cách giúp chúng sửa các lỗi đó ra sao. Họ cũng có khuynh hướng quá dễ dãi lúc chấm bài học trò. Hai giáo sư Fillmore và Snow có đưa ra thí dụ một bài luận văn trong lớp “Honors English” của một học trò trung học gốc ngoại quốc, viết không đâu vào đâu, hoàn toàn không lớp lang, và đầy lỗi văn phạm.  Vậy mà người phụ trách giảng dạy không hề sửa một chút nào và còn phê hai chữ “Great work!” thật lớn vào trang đầu của bài viết ấy! Có lý do gì để cho em học trò này nghĩ là mình viết tiếng Anh rất kém không?

Một lý do nữa khiến ra nông nỗi này: một vài lý thuyết về giáo dục ESL khuyên các nhà giáo không nên giảng dạy văn phạm trực tiếp cho học trò và cũng không nên đề cập đến các lỗi văn phạm của học trò (vì làm như vậy học trò sẽ bị ức chế tinh thần và hết ham học). Các nhà giáo chỉ việc  nói tiếng Anh sao cho học trò hiểu được, bằng cách dùng các hình vẽ, các cách biểu diễn để cho chúng thủ đắc (acquire) tiếng Anh một cách “tự nhiên” và “tự động”. Theo  các lý thuyết ấy thì giảng dạy trực tiếp không thay đổi gì được tiến trình phát triển ngôn ngữ; sự thủ đắc các luật lệ ngôn ngữ là công việc của các cơ phận đặc trách ngôn ngữ nằm trong bộ óc. Nhờ vào chúng, học trò cuối cùng sẽ tự khám phá ra và nắm vững được những luật lệ ngôn ngữ. Nhưng sự chinh phục ngôn ngữ có thực sự giản dị như vậy không? Tôi không tin như vậy, và tôi đồng ý hoàn toàn với hai giáo sư Fillmore và Snow rằng phải có một điều kiện khác nữa vô cùng quan trọng mới mong được thành công: Các học trò phải tác động (interact) trực tiếp và thường xuyên với những cá nhân giỏi tiếng Anh đến độ có thể giải thích cho chúng biết tiếng Anh thao tác (operates) ra sao và được sử dụng  như thế nào. Khi điều kiện này không có, việc học bất thành.  Khi con số học trò chưa thạo tiếng Anh quá lớn so với con số người giỏi tiếng Anh (như trong một lớp học mà đại đa số là các học trò chưa thạo tiếng Anh), thì đây là một tình trạng bi đát. Chuyện gì sẽ xẩy ra trong trường hợp này?  Xin thưa, các học trò sẽ không tiến bộ, hoặc chúng sẽ học hỏi lẫn nhau. Kết quả là chúng sẽ nói và viết một thứ tiếng Anh giả cầy pha trộn hai ngôn ngữ (interlanguage pidgin), đi trệch và khác xa tiếng Anh tiêu chuẩn. Thứ tiếng Anh giả cầy này hết thuốc chữa, và được các học trò ấy sử dụng một cách thông thạo và đầy tự tin!  Một học sinh 12 tuổi gốc Miên, sau khi học 8 năm tại Mỹ, đã diễn tả như sau về mấy người bà con của em vừa sang Mỹ định cư: “Hmm . . . they – they, like, speak Cambodian more because they more comfortable in it. They don’t want to talk English sometime because – when they go to school they don’t, like, really talking, right? But when at home they chatter-talk. ‘Cause they kind of shy, you know, like, when the teacher call on them and they don’t know the answer, sometime they know the answer but they shy to answer. If you ask them, ask them so quietly, they answer.”

Trước tình trạng khẩn trương này, chúng ta phải làm gì?  Giáo sư Fillmore và giáo sư Snow đề nghị xác đáng là giáo chức ESL phải được thấm nhuần môn “ngữ học giáo dục” với các chủ đề như kiến thức về ngôn ngữ và ngữ học, tiến trình thủ đắc ngôn ngữ thứ hai như thế nào, nghệ thuật  học hỏi và giảng dạy ngôn ngữ thứ hai ra sao, và kiến thức về nét đa dạng văn hóa trong xã hội Mỹ. Theo tôi biết thì thực ra nhiều chương trình đào tạo giáo chức ESL (trong đó có chương trình mà tôi đang làm giám đốc tại Texas Woman’s University) đều đã có những môn học kể trên, nhưng chúng chưa hữu hiệu đúng mức và cần điều chỉnh lại. Điều đáng quan ngại là nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp và trở thành nhà giáo đã không nắm vững được cấu trúc của tiếng Mỹ để có thể “phát hiện” ra những lỗi của học trò, rồi “chẩn bệnh” và cuối cùng đề nghị một phương thức giúp học trò chinh phục những lỗi đó. Sau hơn 30 năm trong ngành giáo dục ESL ở Việt Nam và Hoa Kỳ, giờ đây nghĩ lại tôi thấy hai cuốn sách đã giúp tôi nhiều nhất trong thời gian du học tại Mỹ là cuốn “Patterns of English” của Paul Roberts (1956) và cuốn “The Structure of American English” của W. Nelson Francis (1958). Hai cuốn sách giáo khoa này đã cho tôi một nền tảng kiến thức vững vàng  khiến tôi  có thể viết tiếng Anh đúng văn phạm khi còn là sinh viên, và khi thành nhà giáo có thể giải thích cho học trò của tôi về những lỗi văn phạm của họ khi viết tiếng Anh. Tôi còn nhớ rõ sự thích thú to lớn của tôi khi tôi “học” được trong cuốn sách của Francis rằng một mệnh đề bắt đầu bằng liên từ “that” (như “That he passed the test”) có thể đứng làm chủ từ trong một câu (như “That he passed the test surprises everyone.”) Tôi lại càng thích chí hơn nữa khi biết rằng một tính từ cũng có thể đóng vai chủ từ trong câu, như câu “Easy does it”!

Tôi đề nghị từ nay trở đi các chương trình đào tạo giáo chức ESL tại các đại học cũng như các chương trình tu nghiệp giáo chức ESL tại các khu học chánh nên nhấn mạnh gấp bội về kiến thức văn phạm cũng như về khả năng phát hiện ra lỗi văn phạm của học trò và tìm cách giúp học trò vượt qua những lỗi đó. Mỗi lần thấy học trò phạm một lỗi văn phạm, nhà giáo hãy coi đó như một “cơ hội giảng dạy” (teachable moment) quý báu và sẵn sàng cung cấp một bài học nho nhỏ. Tôi xin đưa ra dưới đây một thí dụ trong đó có một lỗi văn phạm rất thông thường của học trò ESL mà chúng ta không nên làm ngơ, vì  nếu chúng ta tiếp tục làm ngơ thì  lỗi đó chắc chắn sẽ  mau chóng trở thành vĩnh cửu (fossilized), hết thuốc chữa cho những học trò đó!

Câu sai văn phạm  mà tôi lấy làm thí dụ là “I am here since yesterday” do một học trò gốc Mỹ châu la-tinh viết. Câu này nghe bất ổn quá đi, và lỗi là do động từ  dùng không đúng thời (tense). Sau khi đã phát hiện lỗi này, tôi chẩn bệnh nó như sau: Người học trò này đã chuyển cách dùng thời tiếng Tây ban nha sang tiếng Anh cho nên đã gây ra một lỗi lầm thuộc loại “chuyển nhượng tiêu cực” (negative-transfer error). Quả thực, câu sai văn phạm tiếng Anh “I am here since yesterday” được chuyển thẳng từ câu tương đương  nhưng đúng văn phạm tiếng Tây ban nha là “Estoy aqui desde ayer”.  Đây là cơ hội ngàn vàng để tôi cho lớp học ôn lại bài học nho nhỏ về cách dùng thời “present perfect” trong tiếng Anh, một thời để diễn tả một hành động bắt nguồn từ quá khứ nhưng vẫn còn tồn tại lúc chúng ta đang nói. Tôi sẽ chỉ hài lòng khi tất cả các học trò trong lớp (bất kể sắc tộc nào) nhận ra rằng câu “I am here since yesterday” là trật văn phạm, vì câu đúng phải là “I have been here since yesterday”!

Tôi xin gửi đến quý đồng nghiệp lời tâm tình này trước khi chia tay: Chúng ta hãy tìm hiểu thêm về văn phạm tiếng Anh và hãy lưu tâm hơn nhiều đến những lỗi văn phạm của học trò để có thể giúp chúng tránh được những lỗi lầm ấy. Sự lưu loát (fluency) chỉ có giá trị khi nó đi đôi với sự chính xác (accuracy) của ngôn ngữ. Mục đích tối hậu của giáo dục ESL là  các học trò phải chinh phục được tiếng Anh tiêu chuẩn (standard English) trong môi trường hàn lâm.

MÊ TÍN TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM

Bác Sĩ Phan Thượng Hải

Đế đọc bài viết, xin bấm nút vào “DOWNLOAD” dưới đây:

THÁNG CHÍN VÀ CHA TÔI

Mùa Thu tại Canada

Ðể tưởng nhớ thân phụ của anh chị em chúng tôi:

Cụ Đàm Duy Tạo (1895-1988)

Ðàm Trung Pháp
Ðàm Trung Phán

Sáng nay, khi thức dậy, tôi chợt thấy lành lạnh. Cái lạnh từ ngọn gió thổi qua cửa sổ vào nhà. Dụi mắt, nhìn cái hàn thử biểu thấy 12 độ C, tôi thầm nghĩ:

– Nàng Thu thực sự đến rồi!

Tôi định bụng sẽ ra khỏi nhà ngay để đi bộ ra cái park gần nhà với ý định vừa tập thể dục và vừa để chụp hình lá vàng rồi “ngồi trên ghế gỗ công viên” mà viết bài.

Tôi muốn tránh những cú phôn, tôi cũng muốn tạm lánh cái computer để mà được thực sự đối diện với con người tôi và lật trang nhật ký dĩ vãng cuộc đời để tìm kiếm lại những hình ảnh về cha tôi và những cảm xúc đã từng làm tôi vui buồn lẫn lộn trong nhiều năm qua.

Nhiều người xung quanh thường có bà mẹ già sống ở một nơi chốn xa xôi để mà thương, mà nhớ. Riêng tôi, tôi không có cái “may mắn” đó vì anh chị em chúng tôi đã phải mất mẹ từ lâu lắm rồi, khi chúng tôi còn nhỏ dại.

Mất mẹ, ba anh em trai nhỏ tuổi nhất trong gia đình chúng tôi sống với bố. Chúng tôi được cụ dậy dỗ trong tinh thần Khổng giáo. Nhưng cảnh “gà trống nuôi con” cũng có những cái thiếu sót của nó: ba anh em chúng tôi và ngay cả thân phụ chúng tôi có nhiều lúc thấy trống vắng nội tâm. Ðiều này, khi chúng tôi còn nhỏ, cụ không hề nói ra, chỉ khi tất cả các anh chị em tôi đã có gia đình, lâu lâu cụ mới “tiết lộ” cho chúng tôi hay:

– Ta sống đủ rồi, tất cả các anh chị em tụi bay đã khôn lớn và có gia đình. Ta sống cũng bằng thừa, xin ông Trời cho ta được đi sớm, thế là vui rồi!

Ðã nhiều lần, tôi đã định viết một bài về thân phụ chúng tôi, nhưng cứ mỗi lần đặt bút xuống, tự nhiên tôi thấy rất khó viết vì tôi đã được cụ dậy bảo là sống phải nghiêm túc, cứng cỏi và không để lộ phần tình cảm. Tôi bàn với anh Ðàm Trung Pháp, anh ruột của tôi là tôi “có nên viết về Cụ” hay không, anh ấy góp ý liền:

– Thì Phán cứ viết đi, anh sẽ viết thêm những phần nào Phán viết còn thiếu. Hai đứa tụi mình viết dùm cho tất cả các anh chị em mình để tưởng nhớ về cụ, OK?

Hôm nay, tôi “phá lệ” và viết đại vì biết đâu đấy, ngày mai, vì một lý lẽ gì đó, tôi không còn có thể viết ra được, thì sao? Và nếu mai này, tôi không còn khả năng viết lách và nhớ lại những gì mà tôi muốn viết, tôi sẽ hối hận là tôi chưa có cơ hội viết ra những gì mà các anh chị em chúng tôi vẫn hằng tưởng nhớ và hay nhắc nhau về cụ.

Bạn bè cùng trang lứa với tôi, cả nam lẫn nữ, thường hay nói với nhau:

– Bọn mình thuộc vào “thế hệ sandwich”!

Có nghĩa là thế hệ của chúng tôi bị kẹp giữa hai thế hệ cha mẹ và thế hệ con cái. Thế hệ chúng tôi đã bị đảo lộn giữa hai nền văn hóa Ðông và Tây. Hai thế hệ này thật là khác biệt và đôi lúc cũng rất khác biệt với thế hệ của chúng tôi nữa, ấy vậy mà thế hệ chúng tôi phải đóng vai của “thế hệ sen kẽ” để móc nối thế hệ ông bà và thế hệ con cháu với nhau.

Những lúc tĩnh lặng, một mình trong đêm khuya hay khi đi bộ dọc theo bờ hồ, ngoài park, nghĩ về thế hệ cha mẹ của chúng tôi, tôi chỉ thấy thương cảm mà thôi. Cha tôi “sinh bất phùng thời” và mẹ tôi đã luôn luôn phải đầu tắt mặt tối và lo âu. Hoàn cảnh gia đình của ông nội tôi đã không thể giúp cha tôi được đi học như ý muốn. Theo Nho học thì đã lỗi thời, theo Tây học và chữ quốc ngữ thì đã “hơi già”. Cụ phải tự học để trở thành một ông giáo trường làng tại Phúc Yên, Bắc Việt. Tuy chỉ tự học trong vài năm thôi, tiếng Pháp của cụ vững lắm, nhất là về văn viết. Cụ dậy học rất nghiêm trang và kỹ lưỡng, học trò ai cũng kính phục. Quê nội tôi tại Bắc Ninh nên cha tôi phải đạp xe đạp đi đi về về, mỗi tuần ít nhất một lần, giữa Bắc Ninh và Phúc Yên, có khi phải đi ban đêm nữa. Mẹ tôi ở nhà tại Bắc Ninh để thuê người làm ruộng và chăm nom đàn con còn nhỏ dại.

Cha tôi có rất nhiều sách chữ Nho, chữ Nôm, chữ Tây, chữ Quốc Ngữ. Thuở còn bé tí teo, thú vui của tôi là lấy sách chữ Nho của bố ra làm đồ chơi vì tôi thích lấy ra và bỏ vào những tờ lá khô được ép giữa các trang sách. Cha tôi chỉ vui vẻ nhìn tôi và không hề la mắng tôi. Tôi cũng rất thích dở các sách chữ Tây ra để mà xem hình, chữ nghĩa lúc đó thì chưa biết một tí gì! Nạn lụt năm Ất Dậu 1945 đã làm hư hại nhiều sách của cụ và cụ đã phải tốn nhiều thì giờ để “chữa bệnh” cho từng cuốn sách.

Cha tôi lập gia đình sớm, và vài năm sau khi có con trai đầu lòng thì cha tôi góa vợ. Cha tôi “đi bước nữa” khi lấy mẹ tôi, và hai cụ có thêm bốn trai và một gái. Anh cả của chúng tôi được gửi lên Hà Nội để học trường Bưởi và được hai cụ cưới vợ cho theo phong tục Việt Nam. Chị gái duy nhất của chúng tôi, cũng “được” theo phong tục Việt Nam hồi bấy giờ: chị không được cha mẹ cho đi học lên cao và bắt buộc phải ở nhà để trông nom các em trai và công việc đồng áng. Tới tuổi khôn lớn, các em trai của chị rất thương cảm vì chị sinh vào thời buổi và xã hội với quan niệm “cho con gái đi học để chúng viết thư cho trai và về làm dâu người ta, phí của”!

Khi anh em trai chúng tôi còn trẻ, nhiều lần, chị tức khí và la chúng tôi:

– Chỉ vì tụi mày mà tao phải ở nhà và không được đi học!

Tôi “hứng chí” trả lời chị:

– Ði học để chị viết thư cho trai ấy à!

Nói xong, tôi chạy cho lẹ, nhưng nếu lỡ mà chị tóm được thì cũng chỉ ăn vài cái củng đầu mà thôi! Bây giờ, chúng tôi đã ở tuổi có con, có cháu, mỗi khi nhắc đên truyện xưa, tích cũ, chúng tôi, nhất là chị chỉ bò lăn ra mà cười với nhau cho … huề cả làng.

Sau khi em trai út của chúng tôi sinh ra được ít lâu, chiến tranh giữa Việt Minh và Pháp lan tràn đến làng quê của gia đình chúng tôi tại Bắc Ninh, và cha tôi phải mang anh chị em chúng tôi chạy loạn trên Thái Nguyên. Mẹ tôi và em út phải ở lại nhà vì sức khỏe không cho phép. Chạy loạn thì phải chạy ban đêm vì ban ngày, máy bay của Tây trông thấy sẽ bắn chết. Tôi rất buồn ngủ và đói bụng và nhiều lúc ngỗ nghịch tôi đã chu chéo lên:

– Con không thèm đi chạy loạn nữa đâu, Bố ơi!

Tội nghiệp, thế là cha tôi phải cõng tôi mà đi, nếu không cả gia đình chạy loạn sẽ bị nguỵ đến tính mạng. Bây giờ, mỗi khi nhớ lại chuyên xưa, tôi thấy thương cha mẹ tôi vô cùng. Những hình ảnh và tình cảm này vẫn còn được “stored” trong cái “memory card” của đầu óc tôi:

Tôi vẫn trôi theo giòng định mệnh,
Hàng triệu người, sao chỉ thấy mình tôi?
Tôi sinh ra giữa lúc bom đạn ngang trời,
Người nằm xuống vì bom rơi, vì nạn đói!
Những đêm tối, theo Cha tôi đi chạy loạn
Mẹ ở lại nhà vì vướng bận em thơ.
Buổi tối đói, tôi mong mỏi đợi chờ
Hình bóng Mẹ và im lìm tiếng súng.

Sau lúc tản cư này, chính tay cụ đã viết chữ bằng bút chì và hai anh em chúng tôi (Pháp, Phán) phải “đồ” (tô) lại bằng bút mực cho đúng nét chữ. Chúng tôi phải viết đâu ra đó, nếu không sẽ bị “thước kẻ đánh vào tay!” Ngoài môn toán đố, cụ còn dậy kèm chúng tôi môn Pháp văn, cụ bắt đọc to và thật rõ từng chữ một. Những năm về sau, khi toàn gia đình chúng tôi đã được đoàn tụ tại Hà Nội, cụ thường đọc “dictée” cho hai anh em chúng tôi viết.

Gia đình chúng tôi được thực sự sống quây quần hạnh phúc tại Hà Nội từ 1952 đến 1954. Di cư vào trong Nam, cha mẹ tôi hầu như tay trắng vì tất cả nhà cửa, ruộng vườn đã để lại ngoài Bắc hết. Năm 1955, thân mẫu của chúng tôi đột ngột qua đời tại Saigon khi mới 50 tuổi. Anh cả của chúng tôi đã có gia đình và ra ở riêng từ lâu. Chị lớn của chúng tôi phải đi làm tại lục tỉnh để kiếm tiền phụ giúp cho cụ. Anh thứ của chúng tôi được học bổng học Nông-Lâm-Mục tại Bảo Lộc. Cha tôi bắt buộc phải trở thành “gà trống nuôi con” chăm nom cho ba anh em trai út chúng tôi tại Saigon.

Sau khi thân phụ chúng tôi không còn dậy tại trường Tiểu học Phú Nhuận nữa, cụ được mời dậy Hán văn tại trường Trung học Gia Long vào năm 1957 cũng như dịch sách chữ Hán sang chữ Quốc Ngữ cho Sở Tu Thư thuộc Bộ Giáo Dục trong những năm kế tiếp. Cụ luôn luôn mặc quần áo ta rất chỉnh tề mỗi khi đi dậy học hay khi ra phố. Mỗi buổi tối, sau khi ăn cơm xong, cụ huấn luyện cho ba anh em trai chúng tôi ngồi xuống bàn mà học và Cụ thường kèm thêm Pháp văn và Việt văn cho chúng tôi. Cụ còn thuê thợ đóng một cái bảng đen thật dài để cho chúng tôi giải những bài toán và vẽ hình.

Trong thâm tâm, cụ luôn luôn mong ước cho các con cháu của cụ biết trọng sự học, phải học hành cho đến nơi đến chốn, và nhất là phải biết trọng luân thường, đạo lý.

Mấy năm trước đây, một chị bạn của chúng tôi ngày xưa học trường Gia Long đã cho tôi xem một bức hình chụp chung của các giáo sư dậy trong trường Gia Long hồi cuối thập niên 50. Trong hình, tôi nhận ra ngay một giáo sư khăn đóng, áo dài: vị này chính là cố giáo sư Ðàm Duy Tạo, thân phụ của chúng tôi! Tôi thấy bàng hoàng và sững sờ: cả một thời “hoa bướm ngày xưa” hiện ra trước mắt! Hồi đó một số nữ sinh Gia Long đã hay đến thăm ông thầy dậy môn Hán văn tại căn nhà chúng tôi. Cỡ tuổi của họ và của tôi cũng chỉ “xêm xêm” với nhau mà thôi! Tự nhiên tôi thấy tôi trở về với căn nhà của gia đình chúng tôi tại đường Yên Ðổ với cái bảng đen rất dài trong phòng ngoài và thân phụ chúng tôi đang ngồi đọc “chữ Tây” hay chữ Nho. Thế rồi anh Pháp và tôi đi du học, căn nhà nay chỉ còn có cha tôi sống lủi thủi với chú em út mới vừa lên trung học. Những hình ảnh này không làm sao tôi quên được, để rồi sau khi tôi đã 50 tuổi, trong lúc ngồi chấm bài trước bàn thờ của cha mẹ chúng tôi, tôi đã ghi lại những giòng thơ dưới đây:

Con còn nhớ …
Năm con mười ba tuổi
Một đêm Trung Thu
Bất thần Mẹ ra đi vĩnh cửu
Bố gánh chịu thân gà trống nuôi con!
Mười chín tuổi, con ra đi
Máy bay cất cánh
Bố ở lại…
Bạn đời với văn chương chữ nghĩa,
Bần thần thương nhớ con trai.
Vì tương lai, sự nghiệp
Hay vì con vướng mộng giang hồ?

Cụ không hề tục huyền. Sau khi anh Pháp và tôi đã xuất ngoại, Cụ chỉ ước nguyện còn được sống thêm vài năm để trông nom cho chú em út của chúng tôi tốt nghiệp đại học, thế là cụ mãn nguyện lắm rồi!
Cụ viết thư đều đặn cho tôi và có một lần, cụ đã viết cho tôi: “Nếu Bố giầu có, Bố đâu muốn để hai đứa phải đi du học xa nhà vì Bố nhớ hai đứa lắm!” Ðêm hôm đó, tôi lang thang ra bờ biển ngắm về phương trời quê hương xa vời vợi nơi nào để nhớ về cha tôi.

Năm 1965, tôi được chính phủ Úc cho vé máy bay về thăm gia đình nhưng chính thân phụ tôi đã gửi điện tín sang khuyên tôi không nên về vì cụ sợ tôi sẽ bị kẹt lại Việt Nam vì những “coups d’etat” bất tử. Sau biến cố Mậu Thân 1968, cụ cũng đã khuyên tôi nên ở lại ngoại quốc mặc dù cụ cũng rất muốn gặp lại tôi.

Rồi tôi đi biền biệt sang lập nghiệp tại Canada và không còn hy vọng gì để gặp lại cha già và các anh chị em của tôi nữa. Tới tuổi “tri thiên mệnh” tôi mới thấu hiểu được những cái nhọc nhằn, đơn độc của kiếp “gà trống nuôi con” và những hy sinh gan dạ của cụ chỉ vì cụ thực sự mong mỏi cho tôi được sống an bình tại ngoại quốc trong khi đó hàng ngày cụ vẫn mong thư của tôi gửi về:

Cuộc đời ra sao?
Con đi vào một thế giới khác
Không người thân bên cạnh.
Bố ở nhà canh cánh mong con,
Đời thiếu vuông tròn!

Trong niềm đau thương của đất nước, tôi gặp lại được cha già, anh em trong lúc mất nước nhà tan vào hồi tháng Sáu, 1975. Lúc này, cụ đã gần 80 tuổi. Hồi nhỏ, tôi không hề thấy cha tôi khóc, nhưng lần này, cụ đã thật sự khóc, khóc thương đất nước rơi vào tay cộng sản, khóc thương cho các con cháu của cụ còn kẹt lại bên Việt Nam .

Sau khi các anh chị em chúng tôi đã được sống ổn định tại Hoa Kỳ và Canada, cụ đã mừng rỡ thấy anh Pháp và tôi trở thành hai nhà giáo theo truyền thống của gia đình họ nội. Cụ thường hỏi thăm tôi về công việc nhà trường của tôi. Cụ chẳng đòi hỏi gì, có chăng chỉ là:

– Nếu có thể được, nhớ mua cho Bố mấy cuốn sách chữ Hán và nhất là cuốn tự vị chữ Hán và tiếng Pháp, nghe con!

Tôi lên phố Tầu mua biếu cụ một bộ tự điển chữ Hán sau khi cụ đã viết tên bằng chữ Hán cho tôi. Có lần tôi phải đợi họ đặt mua từ bên Hồng Kông dùm cho cụ. Một lần tôi thấy một cuốn báo chữ Tầu có nhiều hình ảnh đẹp, tôi hí hửng mua về tặng cụ với niềm vui thú như ngày xưa tôi đã “mong mẹ về chợ” để có quà vậy! Ngày hôm sau, cụ tặc lưỡi và nói với tôi:

– Người Tầu bây giờ họ “lãng mạn“thật! Ai lại trai gái mới quen nhau mà chưa chi đã nhẩy lên giường liền! Thật chẳng còn có cái lễ nghĩa gì cả!

Tôi phải quay mặt ra chỗ khác mà phì cười. Chẳng qua chỉ là vì tại tôi không biết chữ Hán mà vớ đại ngay phải một cuốn báo “porno” của dân Hồng Kông!

Khi cụ đã gần cửu tuần, sức khỏe sa sút, anh Pháp tôi từ Texas lên thăm cụ tại Montreal, Canada. Anh tôi có xin cụ một đôi câu đối để treo trong phòng làm việc. Cụ vui vẻ tự mài mực Tầu, cắt hai miếng giấy đỏ dài, miệng lẩm bẩm những lời sắp viết. Tay trái cầm kính “lúp” và tay phải cụ xoay xoay ngọn bút lông ưng ý nhất. Cụ viết chậm lắm và nét bút đã run nhiều. Cụ viết cho anh tôi đôi câu đối lấy từ một bài thơ của Trình Hiệu đời nhà Tống:

Vạn vật tĩnh quan giai tự đắc
Tứ thời giai hứng dữ nhân đồng

Ý nghĩa rất hiền hòa, nhân ái: hãy bình thản quan sát để mà thấy mọi vật đều tự đâu vào đó, và trong khắp bốn mùa hãy tìm hứng thú mà giao hảo với tha nhân. Ðó cũng chính là lối sống trong suốt cuộc đời của cụ, một nhà nho can đảm, bình thản đã chấp nhận cuộc đời mà mệnh Trời đã định.

Giờ đây, tuy thân xác của cụ không còn nữa nhưng cụ vẫn còn sống ngay trên các ngón tay của chúng tôi: những giòng chữ viết của tất cả các anh chị em chúng tôi đều từa tựa giống như chữ cụ đã viết vì chính cụ đã đích thân viết bằng bút chì để cho chúng tôi đồ lại khi anh chị em chúng tôi mới tập viết chữ! Cụ đã không để lại cho chúng tôi tiền bạc nhưng cái di sản quý báu nhất của Cụ để lại cho anh chị em chúng tôi và cháu, chắt của cụ, đó là chúng tôi sống thuận hòa với nhau, trọng sự hiếu nghĩa, trọng sự học hành cho đến nơi đến chốn và cố gắng làm sao sống cho hợp với đạo làm người.

Lâu lâu, tôi vẫn thường gặp cụ trong những giấc mơ. Cụ trông tuy rất già nhưng vẫn còn khỏe mạnh. Khi tôi gặp khó khăn trong những giấc mơ, cụ luôn luôn tự nhiên xuất hiện bên cạnh tôi như để chia sẻ và giúp đỡ cho tôi qua khỏi những giây phút căng thẳng trong đời sống. Cụ sống trong tâm tưởng của tôi và tôi thấy rất nhẹ nhàng và thương yêu mỗi lần tôi nghĩ tới cụ.

Mùa Thu năm 2021, để tưởng nhớ đến Cụ, anh chị em chúng tôi xin kính mời Quý Vị vào đọc:

TRUYỆN KIM-VÂN-KIỀU
ÐÀM DUY TẠO
GIẢO-ÐÍNH VÀ TƯỜNG-GIẢI
trong 2 blog dưới đây:

http://kimvankieu.wordpress.com/

MỘT TRONG NHỮNG BÀI THƠ “FABLES DE LA FONTAINED” mà Cụ đã chuyển ngữ sang tiếng Việt khi Cụ đang định cư tại Toronto và Canada, Canada:

Đại gia đình hội ngộ tại Dallas với, các con, cháu, chắt và bạn hữu vào cuối tháng 8, 2013 để tưởng nhớ đến Cụ Đàm Duy Tạo và xum họp với nhau trong đời hưu trí của anh-chị-em chúng tôi.

Ðàm Trung Phán
Tháng Chín, 2004, 2013, 2021
Mississauga, Canada

VIETNAMESE BOAT PEOPLE MEMORIAL MONUMENT CONSTRUCTION PROJECT, MISSISSAUGA, CANADA – GOOGLE PHOTOS AND YOUTUBES – CÔNG TRÌNH XÂY CẤT TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI MISSISSAUGA, CANADA

1.0

GROUND BREAKING CEREMONY / LỄ ĐỘNG THỔ – JUNE 11, 2019

2019-06-11 – GROUND BREAKING CEREMONY OF THE VIETNAMESE BOAT PEOPLE MONUMENT IN MISSISSAUGA, CANADA / LỄ ĐỘNG THỔ CỦA TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN:

https://photos.app.goo.gl/H1FZyqXSeawR7c999

2.0

PROJECT CONSTRUCTION / CÔNG TRÌNH XÂY CẤT

DELAYED CONSTRUCTION NOW PROGRESSING – STARTING DATE: SEPT. 18, 2019 – DIÊN TRÌNH XÂY CẤT BỊ ĐÌNH TRỆ – KHƠI CÔNG: SEPT. 18, 2019

2.1

https://photos.app.goo.gl/HysW2JssqNSLQEW17

2019-09-18 –VBPMA’S CONSTRUCTION FINALLY GOT STARTED – WHAT A GOOD FEELING! Khởi công chậm cả tháng trời

2.2

https://photos.app.goo.gl/krqS4MJcEsiDXfSMA

2019-09-20 – VBPMA TREE PROTECTION FENCING –  Hàng rào xung quanh cây.

2.3

https://photos.app.goo.gl/RuNnmXEm233YwZuS9

2019-09-24,25,26 -EXCAVATION-FOOTING – FOUNDATION CONCRETE WORKS / Đào móng trườc khi đổ concrete

2.4

https://photos.app.goo.gl/R6X9C5RmWDHeqYiy6

VBPMA’S CONSTRUCTION  – PART 1 – SEPT. 18 TO SEPT. 29, 2019

2.5

https://photos.app.goo.gl/R6X9C5RmWDHeqYiy6

2019-09-30  – VBPMA ACTIVITIES FROM SEPT. 18 TO SEPT. 30, 2019 – Đợt xây cất từ LINKS ON CONSTRUCTION PROGRESSLINKS ON CONSTRUCTION PROGRESS LINKS ON CONSTRUCTION PROGRESS / Sept. 18 to 30, 2019

2.6

https://photos.google.com/share/AF1QipP0HWBWWTuHJb0Z5e484BMRYGsi1l8Q3l_2uWyEFanGfNFRryH7ynC5ylBRydUm8Q?key=Z0Q2SXZueERLZVlrRzU4SllOcklwR3YwaTZaUmln

2019-10-4/5/6/7 – VBPMA REINFORCED CONCRETE WORKS ON PEDESTAL, BENCHES, CIRCULAR CENTRAL AREA / Móng, Bệ, Ghế ngồi, xung quanh Tương Đài đưọc xây bằng concrete với các thanh sắt cho bền vững.

2.7

https://photos.google.com/share/AF1QipNHveWYkHKnthyYtKofCquioShNqxLZbHk78Vi9RNiD8D_67I6OeuaPLyqm51YD3Q?key=VjRuQ3ctaWtRS3M1akRVdzdQUkZLWDlfeGNzbGVR

2019-10 – 4/5/6/7 – VMBPMA VIDEO CLIPS ON THE CONSTRUCTION OF PEDESTAL, BENCHES, CIRCULAR AREA – TV INTERVIEW / Phóng sự bằng Video clips cho phần xây bề đài, phần ghế ngồi, phấn concreter xung quanh Tượng Đài và Phỏng Vấn Ban Xây Cất của HTNTN và nhân viên Thành Phố Mississauga.

2.8

https://photos.app.goo.gl/PYWenBpWCVm2Wjcx8     

2019-10-10 – VBPMA’S 3 WALK WAYS EXCAVATION

2.9

https://photos.app.goo.gl/z2jiWW1vCmckqxas7

2019-10-13,14 – VBPMA CONCRETE BENCHES – ENGRAVING ON GRANITE FACES IN ENGLISH AND VIETNAMESE

2.10

https://photos.app.goo.gl/cPpwemZxvssLhaMc9

2019-10-16,17,18 – CIRCULAR AREA CONCRETE WORKS

2.11

https://photos.app.goo.gl/xECBGbRvK1BRRYTL9

2019-10-28 – PHOTOS – CONCRETE POURING FOR THE 3 WALK WAYS

2.12

https://photos.app.goo.gl/kisyegxsh4pGLvQVA

2019-10-29,30…3 BENCHES AND PEDESTAL INSTALLATIONS, STEP BY STEP

2.13

https://photos.app.goo.gl/o4QGxhPbKsZQDRhS8

2019-11-02 – INSTALLATION OF 5 GRANITE FACES

2.14

https://photos.app.goo.gl/Po8WFhnygjbQBPiM7

2019-11-05 – VBPMA STATUE INSTALLATION

2.15

VBPMA-HTNTN – WELDING OF BRONZE STATUE – 2019-04-04

3.1 INAUGURATION CEREMONY/ LỄ CẮT BĂNG KHÁNH THÀNH – NOV.9, 2019 – Phần 2

HTNTN Khánh Thành= Phần 2 – VBPMA UNVEILING CEREMONY – NOV.9, 2019

3.2 INAUGURATION CEREMONY/ LỄ CẮT BĂNG KHÁNH THÀNH – NOV.9, 2019 – Phần 1

VBPMA’S UNVEILING CEREMONY – NOV.9, 2019 – PART 1 – Khánh Thành 1

Phóng sự Lễ khánh thành Tượng đài Thuyền nhân và Tri ân Canada

VBPMA – ALL LINKS ON CONSTRUCTION ACTIVITIES – UP TO NOV.6, 2019

ALL CONSTRUCTION ACTIVITIES:

1.0

DELAYED CONSTRUCTION NOW PROGRESSING – STARTING DATE: SEPT. 18, 2019 – DIÊN TRÌNH XÂY CẤT BỊ ĐÌNH TRỆ – KHỞI CÔNG XÂY CẤT: SEPT. 18, 2019 

2.

https://photos.app.goo.gl/HysW2JssqNSLQEW17           

2019-09-18 –VBPMA’S CONSTRUCTION FINALLY GOT STARTED – WHAT A GOOD FEELING! Khởi công chậm cả tháng trời.

3.

https://photos.app.goo.gl/krqS4MJcEsiDXfSMA              

2019-09-20 – VBPMA TREE PROTECTION FENCING – Hàng rào xung quanh cây.

4.

https://photos.app.goo.gl/RuNnmXEm233YwZuS9       

2019-09-24,25,26 -EXCAVATION-FOOTING – FOUNDATION CONCRETE WORKS – Đào móng trườc khi đổ concrete. 

5.

https://photos.app.goo.gl/R6X9C5RmWDHeqYiy6       

2019-09-30  – VBPMA ACTIVITIES FROM SEPT. 18 TO SEPT. 30, 2019 – Đợt xây cất từ LINKS ON CONSTRUCTION PROGRESSLINKS ON CONSTRUCTION PROGRESSLINKS ON CONSTRUCTION PROGRESSngày 18 đến 30 tháng 9, 2019

6.

https://photos.app.goo.gl/2Rp2A8uzNC4TU39k6

2019-10-4/5/6/7 – VBPMA REINFORCED CONCRETE WORKS ON THE PEDESTAL, BENCHES, CIRCULAR CENTRAL AREA – Móng, Bệ, Ghế ngồi, Xung quanh Tương Đài đưọc xây bằng concrete với các thanh sắt (reinforcing bars) cho bền vững.

7.

https://photos.app.goo.gl/gnG3BAz1uZcuMyky8

2019-10 – 4/5/6/7 – VMBPMA VIDEO CLIPS ON THE CONSTRUCTION OF PEDESTAL, BENCHES, CIRCULAR AREA – TV INTERVIEW – Phóng sự bằng Video clips cho phần xây bề đài, phần ghế ngồi, phần concrete xung quanh Tượng Đài và Phỏng Vấn Ban Xây Cất của HTNTN & Thành Phố Mississauga.

8.

https://photos.app.goo.gl/PYWenBpWCVm2Wjcx8     

2019-10-10 – VBPMA’S 3 WALK WAYS EXCAVATION

9.

https://photos.app.goo.gl/z2jiWW1vCmckqxas7    

2019-10-13&14 – VBPMA CONCRETE BENCHES – ENGRAVING ON GRANITE FACES IN ENGLISH AND VIETNAMESE

10.

https://photos.app.goo.gl/cPpwemZxvssLhaMc9   

2019-10-16,17,18 – CIRCULAR AREA CONCRETE WORKS

11.

https://photos.app.goo.gl/xECBGbRvK1BRRYTL9      

2019-10-28  – PHOTOS : CONCRETE POURING FOR THE 3 WALK WAYS

12.

https://photos.app.goo.gl/kisyegxsh4pGLvQVA   

2019-10-29  – 3 BENCHES AND PEDESTAL INSTALLATIONS, STEP BY STEP

13.

https://photos.app.goo.gl/o4QGxhPbKsZQDRhS8 

2019-11-02 – INSTALLATION OF 5 GRANITE FACES

14.

https://photos.app.goo.gl/Po8WFhnygjbQBPiM7

2019-11-05 – VBPMA STATUE INSTALLATION

15

https://photos.app.goo.gl/S8kR6pAjuSw77jR79

2019 -11- 06 – SODDING – CAULKING – INSPECTION – CITY STAFF

HỒNG VÂN DIỄN NGÂM THƠ ĐÀM TRUNG PHÁN

1A. Hồng Vân Giới Thiệu

1B. Bãi Biển

2. Bước Đường Trần Ta Đi

3. Đóa Lan Rừng

4.Duyên Tình

5.Hình Bóng Mẹ Tôi

6. Mộng Thường

7. Nén Hương Cho Mẹ

8. Nhạc Kinh Tây Tạng

9. Vu Lan Mộng Ảo

10. Bài Thơ Cho Con

11. Con Út Tôi

12. Phong Lan và Giai Nhân

13. Em Đã Đến

14. Cha Con

15. Bóng Đêm

16. Đoạn Kết

17. Hồng Vân Giới Thiệu

18. Chiêm Bao, Tỉnh Thức

19. Chuyến Bay Đêm

20. Cõi Mộng

21. Mưa Hè

22. Đức Mẹ Maria

23. Em Đã Đến

24. Đêm Nay

25. Duyên Phận

26. Chiến Địa Flanders

27. Thu Cảm

28. Tính Say, Say Tỉnh

29. Dù Cho Thoát Xác, Mãi Còn Yêu Thương

30. Mứng Sinh Nhật ĐT Phán

31. Ão Trắng Học Trò

32. Phong Lan Và Giai Nhân

33. Bài Thơ Không Tên

34. Kết Thúc

MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC KHỎE NGƯỜI LỚN TUỔI

GS TS Thái Công Tụng

LỜI GÓP Ý CỦA ĐÀM TRUNG PHÁN.

Trong  cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, rất nhiều các Community Colleges (Đại Hoc Cộng Đồng), Universities ( Đại Học) tại tỉnh bang Ontario, Canada đã gặp khó khăn trong vần đề “funding” (trợ cấp tài chính về Giáo Dục do  Chính Phủ  Liên Bang và Chính Phủ Tỉnh Bang đài thọ). Phần trợ cấp này được dựa theo số sinh viên ghi tên theo học. Tại Centennial College, Toronto, nơi chúng tôi đang làm việc trong thời buổi đó, 3 Giáo Sư Trướng Phòng của ngành Sinh Vật (Biological Technology), ngành Hóa Học (Chemical Engineering Technology), ngành Công Chành (Civil Engineering Technology) được nhà trường ủy thác để viết ra Chương Trình Bảo Vệ Môi Sinh (Environmental Protection Technology). Chương trình này đã được bộ Giáo Dục Tỉnh Bang Ontario (Ministry of Colleges and Universities of Ontario) chấp thuận và được khởi đầu vào năm 1991.   

Từ đó đến nay, chương trình trở nên rất thịnh hành vì nhà trường không những có thể thu nhận sinh viên từ các trường Trung Học mà còn có thêm các sinh viên từ cấp Đại Học nữa (sinh viên đã ra trường hay đang xin đổi nghành học).  Nhà trường cũng như sinh viên chỉ để ý đến vấn đề Bảo Vệ Môi Sinh và tìm kiếm việc làm mà thôi!  

Bài viết dưới đây của GSTS Thái Công Tụng nêu ra sự quan trọng của Môi Sinh đối vời đời sống con người: sự sống hài hòa giữa thiên nhiên và con người cần phải đi song song với phần Bào Vệ Môi Sinh.

Đã đến lúc Hệ Thống Giáo Dục cấp Trung Học, cấp Đại Học, cấp Đại Học Cộng Đồng cần phải dậy môn Nhiệm Ý (Elective subject) về Môi Sinh/Môi Trường nữa. Bảo Vệ Môi Sinh vẫn chưa đủ. Cần phải sống hài hòa với Môi Sinh của Thiên Nhiên để cho con người sống thoải mái , bình an. 

Xin mời đọc:

Thời tuổi trẻ thì giáo dục là trung tâm còn đến tuổi già thì trung tâm phải là sức khỏe . Hai vấn đề giáo dục và sức khỏe chính là bận tâm nhất của chính phủ Quebec hiện nay nên trong ngân sách hàng năm của Quebec, hai Bộ chiếm ngân sách nhà nước nhiều nhất chính là Bộ Giáo Dục và Bộ Y tế .  

Xã hội Tây phương càng ngày càng lão hoá vì tuổi thọ càng ngày càng tăng do nhiều yếu tố như tiến bộ khoa học kỹ thuật nhưng người càng già thì chi phí y tế càng nhiều hơn vì người già thì dĩ nhiên hay đau ốm hơn. Đau ốm này không những thể chất mà còn tinh thần. Thế giới thay đổi qúa nhanh, cấu trúc gia đình truyền thống cũng đổi thay song song với các biến chuyển về kinh tế xã hội. Gia đình xưa kia là ba bốn thế hệ ở chung một mái nhà, ngày nay tháp dân số đảo ngược với gia đình hạt nhân, ở riêng hết nên người già lại thêm nhiều vấn nạn: vấn nạn sức khỏe, vấn nạn tinh thần như lo âu, buồn rầu, rồi từ đó là trầm cảm. Do đó, trước đây người ta nói không bệnh tật là sức khỏe. Ngày nay, quan điểm về sức khỏe đã mở rộng hơn vì sức khỏe phải gồm 3 phần: sức khỏe cơ thể: khỏe mạnh; sức khỏe tâm thần: vui đời, lạc quan; sức khỏe xã hội: hòa hợp với xã hội, cộng đồng. Nói khác đi, sức khỏe phụ thuộc nhiều vào môi trường. Môi trường không chỉ là môi trường thiên nhiên mà còn bao gồm cả môi trường nhân văn

Môi trường thiên nhiên: Nó bao gồm những yếu tố thiên nhiên như trái đất, khí hậu, mưa, gió, mặt trời, cây cỏ, chim muông v.v.. 

-Khí hậu tác động lên trồng trọt hoa màu đã đành mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người . Vài ví dụ : xứ Canada mỗi năm có bao nhiêu tháng nắng. Mùa lạnh kéo dài với băng tuyết ngoài đường khiến người già không những dễ đau nhức khớp xương, dễ té, dễ bổ mà người già càng dễ bị buồn rầu. Tại Pháp, cách đây 2 năm, có trên 25ngàn cụ ông, cụ bà chết vào mùa hè vì nóng.. Đầu mùa đông, người lớn tuổi đều đi chích ngừa trị cảm cúm. Các danh từ  thông dụng như cảm lạnh, cảm nóng vô hình chung cũng nói lên ảnh hưởng khí hậu đến sức khỏe con ngưòi . Các sự thay đổi khí hậu toàn cầu  chỗ này gây lụt lội nhiều hơn, bão gió mạnh hơn, chỗ kia hạn hán gắt hơn, mùa màng bị thất bát, khiến nhiều nơi dân phải chọn di cư đi nơi khác tạo ra một thứ di dân mới được mệnh danh là di dân môi trường  

  • Không khí ô nhiễm với khói xe, khói nhà máy làm các bụi lơ lửng trên không cũng nhiều, gây dị ứng và khó thở. Mỗi năm, vào đầu xuân, chúng ta dễ bị dị ứng với các phấn hoa với sổ mũi, chảy nước mắt . Đọc báo gần đây hơn, có nhiều cuộc tụ họp dân Quebec phản đối sự thiết lập các trại nuôi heo vì sợ không khí các vùng xung quanh bị hôi hám  ô nhiễm, sợ dòng nước cuối nguồn bị ô nhiễm .Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Âu châu cho thấy các người dân sống trong các khu vực ô nhiễm thường bị mắc bệnh về đường hô hấp, phổi và ngoài ra, còn bị mắc bệnh tim mạch cao hơn 40% so với nhóm dân sống ở nơi có không khí trong lành.
  • Mặt trời cũng ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Chẳng thế mà dân Canada hàng năm nhất là người già phải di chuyển xuống Florida ở 5-6 tháng để có bầu trời nắng ấm, tiêu pha hàng tỷ Mỹ kim, giúp cho nền kinh tế tiểu bang Florida. Nhiều người đi Cuba, Dominican Republic, Mexico như Cancun cũng chính là đi tìm nắng ấm mặt trời .
  • Nước cũng tác động lên sức khỏe con người .Trong thành ngữ dân gian Việt Nam có những danh từ như vùng nước độc, lam sơn chướng khí,  vô hình chung cũng cho thấy nhận định người dân với tác động của  môi trường. Đọc báo ta thấy gần đây, chính phủ Canada đã phải di chuyển nhiều làng thổ dân trên miền Bắc Ontario vì dòng nước uống bị ô nhiễm. Người da đỏ ở Canada hàng ngàn năm nay thường nói ‘nước là dòng máu của Trái Đất’, đủ thấy tầm quan trọng của nước. 
  • Rừng cây cũng ảnh hưởng đến sức khỏe con người . Như vậy là vì rừng toả ra oxy trong lành và cũng hút bớt khí cacbonic độc hại, giúp cho hô hấp. Rừng là buồng phổi thứ hai con người . Rừng giúp bảo vệ đất mà nếu đất mất phì nhiêu do xói mòn thì không có thực phẩm, gây ra nạn đói kém. Rừng không phải chỉ là tài nguyên hay  môi trường vật lý mà rừng là tâm linh, là cõi vĩnh hằng, là cõi sâu thẳm của nội tâm, là ‘một cõi đi về’ .  
  • Đất là một yếu tố quan trọng trong môi trường thiên nhiên vì đất là nơi nuôi dưỡng loài người, cây cỏ, muông thú . Nếu ta bảo vệ đất, chăm sóc thì đất sẽ giúp nhân loại khỏi đói, khỏi khát. Nếu ta làm hư đất như phá rừng thì đồi núi sẽ trọc, hoa màu sẽ thiệt hại, gây ra đói kém. Động đất, núi lửa cũng làm chết hàng chục, hàng trăm ngàn người . Trên kia là những yếu tố quan trọng của môi trường thiên nhiên. Với cảnh phố phường chật hẹp, người đông đúc, với sự đô thị hoá, con người hầu như đã sống trong một môi trường giả tạo, với các nhà ximăng, với các toà cao ốc mênh mông nên không có cơ hội tiếp xúc với mặt đất . Thành phố thiếu không gian xanh, không khí ngột ngạt sau một ngày làm việc, về nhà lại ở trong 4 bức tường, với ánh sáng đèn điện, với máy điều hoà không khí, quạt điện ..tạo ra con người mệt mỏi, mất năng lượng, chán nản …Trong các đô thị lớn thì đâu đâu cũng có hiện tượng BMW (Bus, Metro, Work) nên lại càng ít vận động.  Con người miệt mài phố thị với cát bụi đô thành chẳng bao giờ nghe được tiếng ve, cảnh mặt trời lặn, những con đường lẫn vào mây, quờ tay là hái được sương mù, ‘người ngồi xuống mây ngang đầu ‘, không còn được nghe tiếng  sáo diều trong đồng vắng, không còn thấy trăng lên với cảnh ‘đêm qua ra đứng bờ ao, trông cá cá lặn, trông sao sao mờ’, không còn cảm nhận các cảnh ‘sông dài trời rộng bến cô liêu ‘ và cuộc sống đô thị, thì nhà nào biết nhà đó, chỉ lo bon chen, tiêu thụ qúa sá, mà không nhận ra cái kiếp mong manh của kiếp người, cái mong manh của hạnh phúc thoáng qua ‘đời sao im vắng, như đồng lúa gặt xong, người về soi bóng mình, giữa tường vắng lặng câm ‘ .   

Do đó, muốn lấy lại thăng bằng, con người ngày nay lại càng cần đi tìm những khu rừng, những nọn núi cao vì chỉ ở đó, họ mới cảm thấy mình tan biến trong cái tĩnh lặng uyên nguyên. :

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao

Chính vì sống xa rời thiên nhiên là nơi cưu mang của con người nên thân tâm biến loạn do đó, ta cần tìm lại mối liên hệ chân chính với thiên nhiên, tìm lại  niềm yêu thương lặng lẽ của đất, những khoảnh khắc đầy phù sa của dòng sông đang trôi khuất, những giọt sương mai lấp lánh,  những dòng sông hiền hoà, những cánh dồng ngào ngạt đơm bông,  để tinh thần được thảnh thơi như Nguyễn Công Trứ đã viết: Người ta ở trong phù thế

Chũ vô cầu là chữ thiên nhiên do đó chúng ta nên tiếp xúc với thiên nhiên như rừng cây, suối nước, màu xanh của bầu trời vì thiên nhiên là bà mẹ của ta.  Đi bộ trong các công viên, thiền hành tìm được sự yên tĩnh, thanh thản nội tâm, giữ được trạng thái tâm lý cân bằng trong nhịp sống xô bồ căng thẳng, mệt mỏi nhờ vậy an định nội tâm, an lạc . Nó giúp đẩy lùi và làm chậm lại tiến trình suy thoái cơ thể : bớt bệnh vì có không khí thở, bớt đau nhức, bớt phì nộn là điều kiện dẫn đến các bệnh khác như tiểu đường, cao huyết áp…  Đi bộ ra đi khi trời vừa sáng, đi bộ dưới vòm cây, trong công viên giúp  điều hoà hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ tiêu hoá, ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm hồn, cả Thân lẫn Tâm.. Ngoài đi bộ, người lớn tuổi phải vận động cơ thể như tập thể dục, tập Tai Chi, tập khí công v.v.   Chính vì con người càng xa rời Thiên Nhiên nên hiện nay trào lưu trở về với Thiên Nhiên càng mạnh:  Các tu viện Thiền, các làng Thiền, các môn phái sử dụng Thiền như là trọng tâm sinh hoạt nẩy nở càng ngày càng nhiều, chính là để phản ứng lại với nếp sống xa rời các chuẩn mực của thiên nhiên. Các môn yoga, tập thở, y khoa mềm (médecine douce), các sách về tâm linh, nói về sự tu dưỡng tinh thần cho vững chãi trước những vòng xoáy của cuộc đời đầy cung bậc ngọt bùi cay đắng, đầy chuỗi vui, buồn, yêu thương, giận hờn ..  bán rất chạy. Thiền hành trong những chốn âm u tĩnh mịch, du lịch sinh thái giúp con người tìm lại mối liên hệ với thiên nhiên.  Nếu ‘người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” thì ngược lại ngoại cảnh nghĩa là môi trường sống xung quanh ta cũng ảnh hưởng đến con người, không những về tinh thần mà còn thể chất.  Ngoại cảnh không bị ô nhiễm, với không khí trong lành, nước chảy, thông reo giúp cho tâm an bình, tạo điều kiện giúp con người thoát tục dễ dàng hơn, tâm hồn không khuấy động, không tà kiến, buông xả được các bụi bặm phù du phiền muộn của cái tôi để hoà mình vào nhịp sống bao la của vũ trụ, giúp ta dễ đồng nhất với vũ trụ, cảm nghiệm lẽ trời trong tĩnh lặng để buông xả, để phá chấp và giúp con người tìm về bản tâm thanh tịnh của mình, tìm lại được thăng bằng thảnh thơi và nhờ vậy,  giúp con người bớt ưu phiền, bớt căng thẳng. Thế nhưng, với sự gia tăng dân số, với kỹ nghệ hoá, thăng bằng thiên nhiên mà Tạo hóa đã phú cho Trời Đất càng ngày càng bị thương tổn nên tạo ra các biến đổi khí hậu toàn cầu, gây các hậu quả như ngày nay với các trận bão nối tiếp nhau không dứt, rồi hạn hán, sa mạc hoá v.v tạo ra một ‘en-trô-pi sinh thái ‘ (ecological entropy).

Môi trường nhân văn Vẽ những vòng tròn đồng tâm, môi trường nhân văn từ trong ra ngoài có thể kể con cháu, bạn bè, người đồng hương, láng giềng, hội đoàn v.v.

  Người lớn tuổi thường cô đơn thể chất (vợ chết/chồng chết) và cô đơn tinh thần (buồn phiền, bi quan), chưa kể đến  bệnh già, nên càng dễ bị tổn thương. Các nỗi  cô đơn này vừa là cái nhân, vừa là cái quả của nhiều đau khổ. Con cái hoặc ở xa hoặc không có thì giờ chăm sóc cha mẹ .Người già mà ở nhà già, gặp toàn người bản xứ không cùng cảm thông vì văn hoá khác, ngôn ngữ khác thì tinh thần lại càng xuống mà tinh thần xuống thì cơ thể cùng xuống theo .  Ngày nay, đô thị hoá, kỷ nghệ hoá giúp con người thoát khỏi cảnh lam lũ đồng áng, đầu tắt mặt tối ở chốn bùn lầy nước đọng, đem đến cho ta nhiều tiện nghi văn minh: liên lạc nhanh hơn, thông tin nhanh hơn. Con người ở thời đại công nghiệp này có tâm trí  luôn luôn bị động như robot suốt  ngày, làm việc lắp ráp các bộ phận trong dây chuyền sản xuất từ máy điện toán đến ráp xe hơi, máy bay, mọi công đoạn đều lớp lang, có thời lượng quy định. Sự tiến bộ kỹ thuật từ nhiều thập niên gần đây với sự tăng tốc, cái gì cũng Express, nào là ExpressPost, Fast food, Café Express.. làm phá vỡ cấu trúc các xã hội cổ truyền làm  con người không có thì giờ rãnh rổi tìm lại mình, tra vấn về cuộc đời mình .Và chính sự phát triển này lại cũng manh mún hoá những cá nhân.  Cuộc sống xô bồ ngày nay làm con người cứ chạy đua theo vật chất, theo tiêu thụ, y như người cứ uống nước mặn ngoài biển khơí, mà càng uống thì càng khát:

Chúng ta ngày nay sống thọ hơn nhưng sống ít ý nghĩa hơn . Chúng ta chinh phục được vũ trụ nhưng không thắng được cõi long.  Giải  trí thì nhiều mà niềm vui thì ít. Đây là thời đại của thu nhập gấp đôi nhưng chia ly thì lại nhiều 

Cuộc sống tiện nghi hơn nhưng ít thời gian nhàn rỗi hơn  Và đó chính là nghịch lý của thời đại ta đang sống, hôm nay và bây giờ . Phát triển kỷ thuật cũng có nghĩa là thời gian bị đo lường, chắt bóp làm biến đi nhịp sống an nhiên tự tại. Sự gia tăng các phuơng tiện truyền thông đi cùng với sự nghèo nàn về truyền thông giữa các cá nhân: con người sống bên cạnh nhau nhưng không sống với nhau. Hai giới từ ‘bên cạnh’ và ‘với‘ nghe tuy đơn giản biết bao nhưng lại có tầm quan trọng biết bao!  Bữa cơm sum họp trong gia đình vắng dần, vì người về trước, kẻ về sau, các người cùng gia đình không có dịp trò chuyện để chia sẻ. Người già ít được trò chuyện với con cái, ở trong không gian nhỏ hẹp không mấy khoáng đảng, làm xuất hiện bệnh mất trí, lú lẩn sớm.  Trong các làng mạc xưa kia,  do điều kiện sống cần tương trợ lẫn nhau nên tối lửa tắt đèn có nhau, họ xem nhau như người trong một gia đình. Họ cùng nhau thực hiện trồng trọt, cấy cày . Ngày nay, đô thị hoá, hàng triệu người chen chúc trong các thành phố lớn, họ sống để làm việc cho có tiền; gặp gỡ, thảo luận, chuyện trò cũng xem như mất thời gian. Với các phương tiện hiện đại với điện thoại, truyền hình, xe hơi riêng, con người càng cá nhân hơn, phát triển tính nghi ngờ ngay cả với người ở ‘ấp’ bên cạnh rồi từ đó tăng thêm nỗi cô đơn.  Do đó xã hội ngày nay ngày càng đánh mất tình người và cuộc sống hoạt động như một cỗ máy vô tri Tiếp xúc với môi trường nhân văn:  chuyện trò, giải khuây, cười vui có thể hoá giải buồn và cô đơn, tìm an lạc tâm hồn. Đó là sức khoẻ tinh thần. Người lớn tuổi cảm thấy hạnh phúc khi còn có thể giúp đỡ cho con cháu : giữ cháu, đưa cháu đi học về, dạy dỗ cho cháu học thêm Việt ngữ giúp người già giảm bớt căng thẳng vì thấy nụ cười của đứa bé, trao tình thương. Đến đây, người viết nhớ lại chuyện có thực 100% ở Phi Châu .Năm 1987, tôi có dịp đi làm ghé qua thủ đô Dakar xứ Senegal. Đang lướt qua tờ báo địa phương ngày đó (hình như báo đó tên là Le Soleil), tự nhiên tôi thấy các dòng chữ Saigon, Gia Định, Lăng Ông, Dalat v.v.Bèn hỏi lân la thêm thì biết tác giả truyện ngắn đó là một phụ nữ lai hai dòng máu : Sénégal và Việt . Tôi có phone hỏi thăm bà ấy thì bà kể qua lai lịch và nói được tiếng Việt nhờ bà ngoại và chính nhờ bà ngoại kể các chuyện củ nên mới vận dụng trí tưởng tượng để viết !!Tập truyện ngắn của bà này sau đó được giải thưởng văn học Sénégal .

Người lớn tuổi cũng phải có niềm tin, niềm tin vào các bậc tối cao như Phật, như Chúa, như Thượng đế …..Những con mắt buồn phiền, xin cấy lại niềm tin vì mất nìềm  tin là mất tất cả. Có niềm tin, giúp ta chuyển hoá các loạn tâm, loạn tưởng giúp tâm an nhiên tự tại trước các cơn bão tố trong cuộc đời.  Tiếp xúc với bạn bè, với người đồng hương cũng giúp ta có những hoài niệm chung, giải toả căng thẳng, hoá giải nỗi buồn. Làm thiện nguyện giúp trẻ em, trò chuyện với người già cô đơn trong khu phố mình ở, chở người cần đi bệnh viện, đi xin tiền già cũng giúp ta phát triển tâm Từ, tâm Bi.Từ là hiến tặng hạnh phúc. Bi là làm cho người ta bớt khổ.Về phương diện tâm thần, ta nhận thấy khi ta từ bi hơn thì tâm ta dễ bình an hơn . Nên nhớ muốn gia đình hạnh phúc thì trước tiên mình phải hạnh phúc trước đã vì  nếu người lớn tuổi cảm thấy luôn luôn mệt mỏi, bất an, cáu kỉnh, hạnh phúc sẽ không bao giờ đậu ở bậc thềm nhà bạn.

Đau khổ đi liền với kiếp nhân sinh. Chẳng thế mà nhà Phật thường nói: đời là biển khổ . Bác sĩ trị được cái đau, còn cái khổ chỉ cá nhân ta mới tự chữa lấy.Sống trên đời như trong một quán trọ, sống gửi thác về, đúng như các câu hát:-Con chim ở đậu cành tre  Con cá ở trọ trên khe nước nguồn -Chiều nay em đi phố về thấy đời mình là những quán không Bàn im hơi bên ghế ngồi -Em đi qua chuyến đò ơi a thấy con trăng đang nằm ngủ Con sông là quán trọ mà trăng tên lãng du Em đi qua chuyến đò ới a vui như ngày hội  Tôi xin làm quán đợi buồn chân em ghé chơi -Tôi nay ở trọ trần gian Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời ( Ở trọ ) Biết cuộc đời chỉ là một quán trọ, sống gửi thác về nên xin cứ thanh thản như mây, xin đừng quá vui cũng chẳng quá buồn, rắc rối làm chi những điều đơn giản, nên buông xả, phá chấp, an nhiên tự tại, giúp thân và tâm cả an lẫn lạc.  Tâm an là yếu tố quan trọng để ta khoẻ mạnh. Khi chúc nhau sức khỏe, có nghĩa không những sức khỏe thể chất mà còn sức khỏe tinh thần. Sức khỏe tinh thần có nghĩa  tinh thần lạc quan,  thoải mái, thư giãn. Bác sĩ cần cái lạc quan của mình thì dễ chữa trị hơn vì  lạc quan tinh thần giúp cơ thể đề kháng với bệnh tật dễ dàng hơn .

Trong Phật học, ta thường nghe Từ,  Bi, Hỉ, Xả .Trên kia đã nói về Từ và Bi . Còn Hỉ là có niềm vui trong lòng .Xả trong cụm từ Từ, Bi, Hỉ, Xả. Xả tuy là chữ cuối cùng trong cụm từ đó nhưng không có nghĩa là không quan trọng. Không chấp ngã, không cố chấp mà phải phá chấp, nghĩa là Xả, xả bớt các sân hận, tị hiềm. từ đó nẩy sinh thái độ phóng khoáng. Xả là tập sống trong sự  bao dung, bao dung  rộng lượng với mọi người vì nhận thức đuợc là :

Thôi về đi, đường trần đâu có gì 

Tóc xanh mấy mùa

Có nhiều khi, từ vườn khuya bước về

Bàn chân ai rất nhẹ, tưởng hồn những năm xưa

(Phôi pha )

Đường trần đâu có gì! ‘Đâu có   

Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi  để một mai tôi về làm cát bụi

‘Đâu có gì’ vì:  mọi vật trên thế gian này đều vô thường, trống rỗng, không có thực thể. 

‘Đâu có gì’ vì : cuộc đời như một giấc chiêm bao và  rất ngắn:

Ôi phù du, từng tuổi xuân đã già,

một ngày kia đến bờ,

đời người như gió qua’,

một  câu trong bài hát nhan đề Phôi Pha .

Đời người như gió qua nên lại càng phải buông xả, tâm không bám vào sự vật để dần dần tâm được thanh tịnh, mà tâm thanh tịnh, sống an nhiên tự tại chính là vectơ đến giải thoát .Tâm thanh tịnh giúp tránh các ô nhiễm của tâm hồn  

Ngày nay, những người sống ở chốn ít ô nhiễm về bụi bặm, về tiếng động, về nước, về không khí  thì bớt căng thẳng và sống lâu hơn người sống trong môi trường đầy các loại ô nhiễm trên. Như vậy cũng có nghĩa là phần lớn các bệnh hoạn không phải chỉ có uống thật nhiều thuốc để trị bệnh mà thể dục, thư giản, ăn uống cũng góp phần vào sự lành bệnh . Như vậy, có sự tương quan giữa phương thức sống (mode de vie) và sức khỏe. 

Các phương thức sống như không hút thuốc, tránh phì nộn, thư giãn .. giúp bớt các bệnh tim mạch và các bệnh do stress đem đến.

 

Xin tóm lược các điều vừa nói trong công thức sau cho dễ nhớ :

1 trung tâm: sức khoẻ;

5 phải: phải vận động, phải có niềm tin, phải lạc quan, phải buông xả, phải hoà ái;

3 quên: quên tuổi tác, quên bệnh tật, quên quá khứ (mà chỉ sống trong hiện tại)

Chúng ta đang may mắn ở Canada là xứ đất rộng, người thưa, rừng vàng, bạc biển.

Dù biết xứ này  lạnh lẽo, nhưng lại không có bão nhiệt đới như Florida, Louisiana, Mexico với các lụt lội hư hại nhà cửa.

Dù biết lạnh nhưng xứ này không nằm trên vòng đai núi lửa, động đất như Pakistan .

Dù lạnh lẽo nhưng nhờ cái lạnh mà chu kỳ lây lan của các muỗi mòng, chuột bị gián đoạn.

Canada là nước giàu nhất trong G8. Canada tiếp nhận di dân 9 lần nhiều hơn Pháp, 3 lần nhiều hơn Đức . Nói ra đây là để vinh danh xứ Canada đã đành nhưng cũng muốn nói là ta không nên than vãn vì xứ này đất lành chim đậu nên mọi sắc dân từ A (A như Angola) đến Z (Z như Zimbawe) đều sinh sống bình đẳng ở xứ này.

Trong sinh hoạt người lớn tuổi ngày nay, cần kiếm thăng bằng giữa người và người trong xã hội : đó là nhân quyển; giữa người và thiên nhiên : đó là sinh quyển và có đời sống tâm linh sung mãn : đó là tâm quyển . Nếu xã hội đạt được sự thăng bằng của ba phạm trù vừa kể, thì chính đó là cõi cực lạc của môi sinh và cõi cực lạc của tâm hồn. Tiền bạc không tạo nên hạnh phúc vì có tiền mà đau ốm, có tiền mà môi sinh ô nhiễm, cướp bóc bạo hành tràn lan, thì đó không phải an lạc .Bài hát Tôi muốn   của cố nhạc sĩ Lê Hựu Hà cũng nói lên các điều vừa kể :

.. Tôi muốn mình tìm đến thiên nhiên, Tôi muốn sống như loài hoa hiền,Tôi muốn làm một thứ cỏ cây, Vui trong gió và không ưu phiền. Tôi muốn mọi người biết thương nhau, Không oán ghét không gây hận sầu v.v.    

  Thái Công Tụng

SỰ THẤT THỦ CỦA KABUL (2021) VÀ SAIGON (1975) — Fall of Kabul, refugee plight provoke painful memories for Vietnamese ‘boat people’ –

Xin mời đọc phần phỏng vấn vài Thuyền Nhân Việt Nam của đài CBC:

https://www.cbc.ca/news/canada/toronto/afghan-refugees-vietnam-boat-people-1.6162583

&

Why Canada failed to rescue ‘a hell of a lot more’ Afghans, according to former generals?

https://www.cbc.ca/news/politics/afghanistan-canada-taliban-evacuation-1.6155596

THƯ NGỎ VỀ LỄ KHÁNH THÀNH TƯỢNG ĐÀI TẠI THÀNH PHỐ MONTREAL, CANADA

Kính thưa quý đồng hương,

Sau hơn 9 tháng miệt mài, chúng tôi hân hoan báo tin vui đến toàn thể quý vị: Dự ÁnTượng Đài Thuyền Nhân va Tri Ân Canada tại Montreal đã hoàn tất.

Ngày Lễ Khánh Thành Tượng Đài sẽ được tổ chức vào sáng Thứ Bảy ngày 28, tháng 8, năm 2021 tại công viên Atholstan tại góc đường Laird và Saint-Clare của thành phố Mont-Royal lúc 11 giờ.

Đây là một tin vui bất ngờ: gần hai tháng trước ngay khánh thành, Thành Phố Mont-Royal đã đổi nơi tọa lạc Tượng Đài qua công viên bên cạnh, công viên Atholstan, một địa điểm bề thế hơn.

Thành quả tốt đẹp như thế đạt được là nhờ vào sự tin tưởng và sự hỗ trợ nhiệt tình của quý đồng hương. Qua nghĩa cử này, quý đồng hương đã thể hiện tâm nguyện bảo tồn lịch sử và chứng minh sự đoàn kết vững mạnh của cộng đồng người Việt tại Montreal. Chúng tôi xin chân thành cảm tạ.

Cũng nên biết, Tượng Đaì được thành hình trong một thời gian kỷ lục, đặc biệt trong một bối cảnh lịch sử với dịch bệnh hoành hành gây điêu linh cho toàn thế giới cũng như gây rất nhiều khó khăn cho Ban Xây Dựng Tượng Đai. Điều này nói lên sự quyết tâm của Ban Tổ Chức trong việc xây dựng một chứng tích lịch sử và văn hóa cho Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn cộng sản. Chúng tôi ý thức rằng khó mà có cơ hội lần thứ hai nếu chúng ta thất bại lần này.

Chúng tôi luôn mong ước rằng Buổi Lễ Khánh Thành sẽ là một ngày hội lớn cho toàn thể cộng đồng người Việt tại Montreal. Đây là một dịp để cộng đồng người Việt chúng ta biểu dương sức mạnh, nêu cao chính nghĩa Quốc Gia; ngày mà tất cả các thế hệ tụ họp để cùng nhau tưởng niệm những nạn nhân đã nằm xuống, đồng thời cùng nhau nhin về tương lai tươi sáng của cộng đồng theo như mô hình của tượng đài: bia tam giác tượng trưng cho mũi con thuyền, tượng người đàn bà là người tỵ nạn thuộc thế hệ thứ hai; người mẹ kể chuyện cho con trai mình – thế hệ thứ ba -về lịch sử thuyền nhân (boat people). Hinh ảnh người mẹ trẻ cùng chú bé con biểu tượng ý nghĩa Cộng Đồng Việt Nam đang hướng về tương lai.

Tuy nhiên, do nạn dịch Covid vẫn còn đang chi phối tất cả các sinh hoạt tại Montréal., thành phố Mont-Royal sẽ giữ trách nhiệm điều hành buổi lễ theo đúng luật lệ của Bộ Y Tế và số quan khách tham dự bị giới hạn là 100 người. Vi sự giới hạn này, chúng tôi rất tiếc không thể mời tất cả các hội đoàn, tất cả quý vị mạnh thường quân và tất cả quý đồng hương tham gia tại chỗ nghi lễ khánh thành. Chúng tôi chân thành cáo lỗi cùng toàn thể quý vị.

Vì lý do nêu trên, chúng tôi kính mời quý vị đồng hương theo dõi trực tiếp buổi Lễ Khánh Thành qua kênh Youtube và trang Facebook Hưng Việt – VHR vào ngày thứ bảy, 28 tháng 8, 2021, từ 11 giờ sáng đến 15 giờ chiều (giờ Montréal).

Để biết thêm chi tiết, và được hướng dẫn cách xem trực tiếp, kính mời quý đồng hương vào thăm trang mạng Hưng Việt – VHR ở địa chỉ dưới đây:

www.hungviet-vhr.org

Tuy nhiên, quý đồng hương có thể đến viếng thăm Tượng Đài vào lúc 15:00 giờ, sau phần nghi lễ.

BTC hy vọng  sẽ tổ chức được một Ngày Lễ Việt Nam thật đông đảo, nhộn nhịp nhưng trang trọng tại địa điểm Tượng Đài sau khi cơn dịch toàn cầu COVID-19 được khống chế, mọi sinh hoạt trở lại binh thường.

Chúng tôi tin rằng với tinh thần đoàn kết, cộng đồng người Việt quốc gia tại Montréal cũng như tại khắp nơi trên thế giới tự do sẽ luôn luôn là thành tri bảo vệ chjnh nghĩa quốc gia kiên cố.

Một lần nữa, xin chân thành cảm tạ lòng tin tưởng và sự hỗ trợ vô cùng quý báu của tất cả quý hội đoàn, quý đồng hương.

Kính chúc quý vị được khỏe mạnh và bình an .

Xin cầu nguyện cho đồng bào quốc nội thoát mọi hiểm nguy của cơn đại dịch hiện nay.

Trân trọng,

Dương Đinh Huy – Cấn Thị Bích Ngọc – Võ Đức Minh

Hội Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam - Vietnamese Boat People Memorial Association

Hội Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam - Vietnamese Boat People Memorial Association

Đàm Trung Phán

Những bài viết .....

Việt Nam

Việt Nam

Kiếm tiền online

Kiếm tiền tại nhà hàng ngày . các cách kiếm tiền free online

Shop Mỹ Phẩm - Nước Hoa

Số 7, Lê Văn Thịnh,Bình Trưng Đông,Quận 2,HCM,Việt Nam.

Công phu Trà Đạo

Trà Đạo là một nghệ thuật đòi hỏi ít nhiều công phu

tranlucsaigon

Trăm năm trong cõi người ta...

~~~~ Thơ Thẩn ~~~~

.....Chỗ Vơ Vẩn

Nguyễn Đàm Duy Trung's Blog

Trang Thơ Nguyễn Đàm Duy Trung

%d bloggers like this: