Đàm Trung Phán

Những bài viết …..

Hồng Vân diễn ngâm thơ Đàm Trung Phán

KÍnh mời Quý Vị mở speaker của PC, rồi  bấm vào link dưới đây để nghe nghệ sĩ Hồng Vân diễn ngâm 32 bài thơ của Đàm Trung Phán:

https://nhacnheo.wordpress.com/2011/02/27/hong-van-ngam-tho-dtp/

ĐTP

LỜI NÓI ĐẦU

Sau khi viết xong loạt bài Cây Đa Lối Cũ, Gọi Hồn Người Xưa”, người viết đã có dịp đọc thêm nhiều bài viết về Tâm Linh của các tác giả Tây Phương và Ðông Phương. Tôi đọc say mê vì có nhiều khoa học gia và nhà ngoại cảm Tây Phương đã mô tả một số hiện tượng khá giống với những gì tôi đã cảm nhận được khi đang thức cũng như khi đang ngủ

Đây là một đề tài vừa rộng lớn, vừa mơ hồ vì còn nhiều vấn đề chưa có thể chứng minh một cách cụ thể được dựa theo nền tảng khoa học hiện tại của loài người. Tôi có cảm tưởng là mình giống như là một ông thầy bói mù đang sờ chân một con voi khổng lồ để mà “đoán quẻ” về hình dáng, kích thước và cuộc đời, số mạng của con voi đó.
Vì vậy mà cứ chần chờ trước khi viết loạt bài này về Tâm Linh

Dựa theo một số những kinh nghiệm tâm linh của chính bản thân và những gì mà tôi đã đọc được trong những tài liệu của phương Ðông và phương Tây về linh hồn, vong linh, cõi vô hình, tái sinh, luân hồi, gọi hồn… tôi mạo muội viết ra loạt bài này. Bài viết còn có nhiều thiếu sót, nhiều chỗ chưa hiểu rõ hay hiểu lầm… xin qúy vị rộng lòng thứ lỗi cho. Người viết sẽ rất hoan hỉ khi nhận được những ý kiến xây dựng của quý vị độc giả những mong học hỏi thêm được và để cải tiến bài này trong tương lai. Xin Quý Vị viết email về phandam99@yahoo.com cho người viết.

Xin cứ coi như đây là bài viết mở đầu để chúng ta cùng học hỏi thêm trong tương lai. Trong tinh thần “vạn sự khởi đầu nan”, xin mời quý vị vào đọc…

TRANG HÌNH ẢNH – PHOTO LINKS – VBPMA / HTNTN

Xin mời đọc:

https://boatpeoplememorialcommississauga.wordpress.com/2021/05/13/trang-hinh-anh-photo-links/

TRANG HÌNH ẢNH – PHOTO LINKS – VBPMA / HTNTN

KÍnh mời Quý Vị vào đọc tin tức, xem Videos, hình ảnh của Hội Tưởng Niệm Thuyền Nhân, Mississauga qua link dưới đây:

https://boatpeoplememorialcommississauga.wordpress.com/

Kính chào,

ĐTP

ĐÀM TRUNG PHÁP ĐIỂM SÁCH: NGỮ-VỰNG TIẾNG VIỆT ĐẦU TIÊN – GIÁO SƯ TRẦN NGỌC NINH

Xin bấm nút và mời đọc:

Trân trọng,

Đàm Trung Phán

GIáo Sư Công Chánh hồi hưu

ANH-NGỮ TIÊU-CHUẨN VÀ CÁC DỊ-BẢN NGÀY NAY

ĐÀM TRUNG PHÁP      

                                                                                        

LINGUA FRANCA HOÀN-VŨ

 

Thực khó mà coi nhẹ vai trò tiếng Anh ngày nay trên thế giới. Tiếng Anh hiện được coi là một lingua franca tức là thứ tiếng dùng chung của những người không nói cùng một thứ tiếng mẹ đẻ. David Crystal (1996) ước lượng số người sử dụng tiếng Anh trong 3 khối nhân loại tượng trưng bằng 3 vòng tròn đồng tâm lan rộng ra như sau:

 

(1) Vòng tròn trong cùng gồm những xứ mà đại đa số dân chúng nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ, như Hoa Kỳ, Anh Cát Lợi, Úc Đại Lợi, vân vân, có khoảng từ 320 đến 380 triệu người;

 

(2) Vòng tròn giữa gồm những xứ mà dân chúng sử dụng tiếng Anh từ lâu như Ấn Độ, Tân Gia Ba, Ghana, vân vân, có khoảng từ 150 đến 300 triệu người; và

 

(3) Vòng tròn ngoài cùng gồm những xứ như Trung Hoa, Nga, Việt Nam, vân vân, có khoảng từ 100 triệu đến 1 tỷ người.

 

Như vậy, con số người nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ nhỏ hơn con số người dùng nó như một thứ ngôn ngữ thứ hai rất nhiều. Tổng cộng, tối đa có cả thẩy 1 tỷ 680 triệu người dùng tiếng Anh trên thế giới. Hiện là ngôn ngữ phổ cập nhất hoàn cầu, tiếng Anh sẽ dễ dàng duy trì được uy thế này trong những thế kỷ kế tiếp.

 

HIỆN-TƯỢNG BẢN-XỨ-HÓA

 

Hiển nhiên khi tiếng Anh lan tràn đến một nơi xa lạ, nó sẽ không thoát khỏi ảnh hưởng tiếng nói của người địa phương, trong tiến trình bản xứ hóa.  Hiện tượng trăm hoa đua nở này đã mang lại nhiều dị bản khác nhau cho tiếng Anh, đến nỗi ngày nay các nhà nghiên cứu đã phải dùng số nhiều cho danh từ English khi nói đến “the Englishes of the world today”!

 

Hai yếu tố thường được chú ý nhiều nhất trong hiện tượng bản xứ hóa là phát âmtừ vựng. Bằng phương cách đối chiếu, các nhà nghiên cứu có thể phát hiện và hệ thống hóa những khác biệt đặc thù giữa tiếng Anh tiêu chuẩn và tiếng Anh bản xứ hóa. Nhưng thế chưa đủ, vì tiến trình này còn phản ánh vài yếu tố sáng tạo khác, như sự giản dị hóa cú pháp hoặc sự sử dụng những phương thức tu từ cá biệt của các ngôn ngữ địa phương liên hệ.

 

DỊ-BẢN ẤN-ĐỘ

 

Giả thử chúng ta đang dự một buổi tiếp tân tại một khách sạn bên Ấn Độ, quê hương của biết bao thứ mãng xà, và bất chợt nghe vị MC bản xứ dõng dạc nói qua máy vi âm điều gì nghe như thể “Snakes are now in the hole, please serve yourself!” thì chắc chắn chúng ta sẽ chới với. Khiếp thế, cho ăn món gì đây? Hổ mang hoa, rắn đeo kính chăng? Thưa không phải như vậy đâu!

 

Sự hiểu lầm này xảy ra chỉ vì cách phát âm độc đáo của Anh ngữ Ấn Độ mà thôi. Trong phương ngữ này, người ta giảm bớt đi một số mẫu âm bằng cách “giết hai con chim bằng một hòn đá,” và vì vậy hai chữ snacksnake chứa đựng hai mẫu âm khác nhau một trời một vực đều được phát âm là snake. Hai mẫu âm khác nhau trong chữ hall và chữ hole cũng cùng chịu chung một số phận ấy, và cùng được phát âm là hole! Vậy thì, trong ngữ cảnh tiệc tùng này, ông MC bản xứ hẳn muốn nói lời mời “Snacks are now in the hall, please serve yourself!”

 

Dị bản Ấn Độ cũng có một số từ vựng độc đáo, như co-brotherco-sister chẳng hạn, ý nghĩa tương đương với “anh em cột chèo” và “chị em dâu” trong ngôn ngữ chúng ta.  Quý bạn nào tôn trọng ngữ pháp tiêu chuẩn trong tiếng Anh, tiếng Mỹ sẽ không khỏi chau mày khi thấy người nói Anh ngữ Ấn Độ sử dụng các “tenses” trong động từ theo quy luật riêng lạ kỳ của nó, như trong hai thí dụ điển hình dưới đây:

 

We are here since yesterday (< We have been here since yesterday).

 

They have been here 20 years ago (< We were here 20 years ago).

 

Xin hiểu cho rằng những người này là dân có học và sử dụng Anh ngữ Ấn Độ hàng ngày.

 

 

MỘT SỐ ÂM-VỊ BIẾN MẤT

 

Các loại Anh ngữ địa phương hóa (và nay đã qui củ hóa) tại Đông và Tây Phi Châu, Ấn Độ, Tân Gia Ba, Phi Luật Tân, vân vân, đều cho giảm đi con số âm vị (phonemes) của tiếng Anh tiêu chuẩn, bằng cách “sáp nhập” các âm vị tương đối giống nhau (vì chúng ở các vị thế phát âm kế cận) vào làm một.

 

Đáng kể nhất trong đặc trưng phát âm phổ cập này là sự kiện cho sáp nhập các mẫu âm trong các cặp chữ [eat / it], [pool / pull], [hole / hall]; và các tử âm trong các cặp chữ [see / she], [den / then], [tick / thick]. Các cặp chữ này với phát âm khác biệt trong tiếng Anh tiêu chuẩn nay trở thành đồng âm.

 

Tiếng Anh nói tại Đông Phi Châu (trong các quốc gia Kenya, Tanzania, và Uganda) đã cho sáp nhập hoặc đồng hóa nhiều âm vị Anh ngữ tiêu chuẩn nhất. Tại đây nhiều người còn không phân biệt được cách phát âm hai tử âm trong cặp [lice / rice] và cũng cho đồng hóa các tử âm trong ba chữ [sue /  shoe / chew], tức là biến cả ba chữ ấy thành đồng âm, với phát âm chung là sue.

 

VỊ-TRÍ ÂM-TIẾT NHẤN MẠNH THAY ĐỔI

 

Vị trí của âm tiết nhấn mạnh (stressed syllable) trong một số chữ cũng thay đổi. Chẳng hạn, tại Tây Phi Châu, người ta nhấn mạnh âm tiết sau cùng của các chữ congratulate (> congratuláte) và investigate (> investigáte) cũng như âm tiết đầu của chữ success (> súccess).

 

Anh ngữ Ấn Độ hóa biểu hiện một ngữ điệu (intonation) khá lạ tai do ảnh hưởng của tiếng Hindi, khiến cho nhiều người không quen với ngữ điệu này rất khó hiểu dị bản Ấn Độ. David Crystal (1995) có nhắc đến chuyện bà Thủ Tướng Indira Gandhi (một sản phẩm giáo dục của Đại Học Oxford bên Anh Quốc) đã than phiền với Bộ Giáo Dục trong nội các của bà về những “tiêu chuẩn đi xuống” của tiếng Anh tại Ấn Độ, sau khi bà không hiểu nổi lời phát biểu bằng tiếng Anh của người đại diện Ấn Độ tại một hội nghị quốc tế!

 

TỪ-VỰNG ĐỊA-PHƯƠNG-HÓA

 

Từ vựng đương nhiên là một đặc thù của các Anh ngữ địa phương hóa. Nhiều từ ngữ được lấy thẳng từ ngôn ngữ địa phương, như askari (cảnh sát viên), chai (trà), kibanda (chợ đen) trong Anh ngữ Đông Phi Châu; crore (mười triệu), durzi (thợ may), sahib (chủ nhân) trong Anh ngữ Ấn Độ; koon (ngủ), tolong (giúp), chope (dành trước) trong Anh ngữ Tân Gia Ba; và boondock (núi), carabao (trâu nước) trong Anh ngữ Phi Luật Tân.

 

Những từ vựng địa phương này có được thế giới để ý đến hay không là tùy thuộc vào tầm quan trọng ý nghĩa của chúng. Vì vậy, trong tiếng Anh Nam Phi Châu, apartheid (chính sách phân chia chủng tộc tại Cộng Hòa Nam Phi) và impala (một loại linh dương chạy rất nhanh) đã gia nhập từ vựng trong đại gia đình Anh ngữ, trong khi dorp (làng nhỏ) thì ít người biết đến.

 

Một số từ vựng Anh ngữ tiêu chuẩn khi địa phương hóa đã thay đổi ý nghĩa, hoặc có thêm ý nghĩa nới rộng, hoặc được canh tân hình thức với ý nghĩa mới, như trong các thí dụ sau đây. Trong Anh ngữ Ấn Độ, colony = residential area, hotel = restaurant, police firing = shooting by police, cousin-sister = female cousin, co-brother = wife’s sister’s husband, Himalayan blunder = grave mistake. Trong Anh ngữ Tây Phi Châu, hot drink = liquor, hear = understand, take in = become pregnant.

 

CÚ-PHÁP ANH-NGỮ BIẾN-THIÊN

 

Những biến thiên của cú pháp Anh ngữ tiêu chuẩn cũng đáng kể trong các Anh ngữ địa phương hóa. Sau đây là một vài kỳ hoa dị thảo:

 

Trong dị bản Tân Gia Ba, người ta dùng thành ngữ tân lập use to (thời hiện tại) để diễn tả một thói quen: I use to go shopping on Mondays (< I usually go shopping on Mondays). Nhóm chữ can or not? được dùng ở cuối một câu nói để người nghe phải xác nhận hoặc phủ nhận sự chính xác của câu nói đó: She wants to go, can or not? Điều này xảy ra có lẽ là do ảnh hưởng trực tiếp của tiếng Hán, trong đó năng bất năng [能不能?] là nhóm chữ tương đương về ý nghĩa và vị trí với can or not? được sử dụng phổ thông.  Và người ta cũng dùng chữ la (có thể là do chữ liễu [了] trong tiếng Hán mà ra) như một tiểu từ trong câu nói để diễn đạt sự xuề xòa, thân thuộc: Please la come to the party!

 

Dị bản Ấn Độ sử dụng isn’t it? (với nghĩa “phải không?”) cho tất cả mọi câu nói để biến chúng thành các câu hỏi, chẳng hạn:

 

She is going home soon, isn’t it? (< She is going home, isn’t she?)

 

You did not pass the test, isn’t it? (< You did not pass the test, did you?)

 

Và không kém phần sáng tạo, cú pháp dị bản Tây Phi Châu cho phép một túc từ (them trong thí dụ sau đây) được sử dụng trong một mệnh đề phụ bắt đầu bằng một đại từ quan hệ (whom trong thí dụ sau đây), mặc dù túc từ đó không cần thiết:

 

The guests whom I invited them have arrived (< The guests whom I invited have arrived).

 

Phương ngữ này cũng không phân biệt ý nghĩa giữa đại từ phản thân themselves và đại từ hỗ tương each other, và do đó câu They like themselves đồng nghĩa với câu They like each other.

 

TRĂM HOA ĐUA NỞ SẼ ĐI VỀ ĐÂU?

 

Trong lịch sử ngôn ngữ loài người chưa có thứ tiếng nào được sử dụng rộng rãi như tiếng Anh ngày nay trên khắp thế giới. Khó đoán chuyện gì sẽ xảy ra sau này. Hiện giờ có hai vấn đề mâu thuẫn nhau, đó là (1) sứ mệnh truyền thông quốc tế của tiếng Anh và (2) bản sắc riêng biệt của các loại tiếng Anh nhuốm màu địa phương.

 

Sứ mệnh truyền thông quốc tế đòi hỏi yếu tố minh bạch để mọi người cùng hiểu, tức là một tiêu chuẩn chung mà mọi nơi cùng thỏa thuận về cú pháp, từ vựng, chính tả, phát âm, và quy ước sử dụng. Một phương ngữ quốc gia của một ngôn ngữ quốc tế đương nhiên phải có bản sắc đặc thù, cũng trong các lãnh vực cú pháp, từ vựng, chính tả, phát âm, và quy ước sử dụng. Tương lai của tiếng Anh trong cương vị một quốc tế ngữ tùy thuộc vào mức hòa giải giữa hai vấn đề mâu thuẫn vừa kể.

 

Một hòa giải đại đồng có thể sẽ dẫn tới sự hình thành của một thứ Anh ngữ tiêu chuẩn thế giới mà David Crystal (1995) mệnh danh là World Standard English. Theo ngữ học gia danh tiếng này thì một trong ba điều sau đây có thể sẽ xẩy ra:

 

  • Một phương ngữ quốc gia nặng ký có thể được các tổ chức quốc tế hàng đầu dần dần chấp nhận và trở thành Anh ngữ tiêu chuẩn thế giới. Tiếng Mỹ đã và đang đi những bước dài về hướng này.

 

  • Các phương ngữ có thể kết hợp dần dần để trở thành một hình dạng mới, không giống bất cứ một phương ngữ hiện tại nào. Một thí dụ là loại tiếng Anh nghe thấy trong các hành lang quyền lực của Âu Châu, mệnh danh Euro-English.

 

  • Một loại Anh ngữ mới tinh có thể được chế tạo, chỉ nhắm vào những yếu tố quan trọng và hữu ích nhất trong truyền thông quốc tế. Một thí dụ là lời đề nghị hồi đầu thập niên 1980 cho phát triển một loại tiếng Anh hạt nhân chỉ chứa đựng những yếu tố truyền thông tối cần thiết trong văn phạm và từ vựng mà thôi.

 

 

Tài liệu tham khảo

 

Crystal, D. (1995). The Cambridge encyclopedia of the English language. Cambridge, England: Cambridge University Press.

 

Crystal, D. (1996). English: The global language. Washington, D.C.: U.S. English Foundation.

 

Kachru, B. (1982). The other tongue: English across cultures. Oxford, England: Pergamon Press.

 

McArthur, T. (2002). The Oxford guide to world English. Oxford, England: Oxford University Press.

 

Trudgill, P., & Hannah, J., (1994). International English. London: Edward Arnold.

 

 

ĐÀM TRUNG PHÁP

THẦM LẶNG – Một đời thầm lặng mẹ theo bố…

Doãn Kim Khánh

Tháng 9 năm 1954 mẹ theo bố vào Nam. Trước đó bố hoạt động ngang dọc, sáng ngời lý tưởng, rồi ê chề thất vọng. Quyết định vào Nam là của bố, mẹ chỉ bế hai con và dắt cô em chồng 17 tuổi theo. Trong Nam, bố tưng bừng thi thố tài năng, tay phấn tay bút. Mẹ thầm lặng ở nhà nuôi dạy con và chăm chút em. Dân số con từ hai tăng thành tám. Tám con tám tính, có lúc hư lúc ngoan; mẹ theo từng bước, khen chê mắng mỏ. Cô em chồng tốt nghiệp đại học, chuẩn bị lên xe hoa, mẹ lo toan chuyện cưới hỏi. Bố vất vả bên ngoài, về nhà chỉ cần đảo mắt nhìn là thấy mọi sự tươm tất.  

Vào những năm thăng tiến trong cả hai nghề dạy và viết, bố hay mời khách về nhà đãi đằng. Mẹ tiếp khách lịch thiệp, rồi rút về hậu trường trổ tài nấu nướng.. Trước khi ra về các bác bao giờ cũng chào “bà chủ” trong tiếng cười hỉ hả “Cám ơn chị cho một bữa ngon quá.” Thỉnh thoảng có những vị khách nữ, khen thức ăn và khen cả ông chủ. Tôi còn nhớ có người còn nói rất chân tình với mẹ: “Chồng em mà được một phần của anh thì em chết cũng hả..” Hình như mẹ đón nhận lời nói ấy như một sự khen tặng cho chính mình.

Rồi chính sự miền Nam nóng bỏng; ngòi bút bố cũng nóng theo. Các bạn bố đến chơi chỉ bàn chuyện cộng sản và quốc gia. Mẹ không mấy quan tâm đến “chuyện các ông”, nhưng khi bố đi Mỹ du học, mẹ ở nhà điều hành việc bán sách thật tháo vát. Khoảng hai tuần một lần, mẹ đi xích lô đến trung tâm Saigon, rảo một vòng các tiệm sách để xem họ cần thêm sách nào. Sau đó mẹ cột sách thành từng chồng và “đáp” một chuyến xích lô khác để giao sách. Tôi hay mân mê những sợi giây được cột chắc nịch, suýt xoa: “Sao mẹ cột chặt hay thế””

Thế rồi chính sự miền Nam đến hồi kết thúc. Con người không chính trị của bố lại một lần nữa ê chề. Ngày công an đến bắt bố đi, mẹ con bàng hoàng nhìn nhau. Các con chưa đứa nào đến tuổi kiếm tiền. Mẹ xưa nay thầm lặng trong vai “nội tướng”, giờ miễn cưỡng ra quân. Tiền dành dụm của gia đình không đáng kể. Có tám miệng để nuôi, có bố nhục nhằn trong lao tù đợi tiếp tế. Mẹ vụng về tìm kế sinh nhai. Thoạt tiên mẹ nấu khoai mì trộn với dừa và vừng, rồi để vào rổ cùng với một ít lá gói. Tôi băn khoăn hỏi:

“ Mẹ nghĩ có bán được không””

“Mẹ không biết, cứ mang ra chỗ trường học xem sao.”

Nhìn dáng mẹ lom khom ôm rổ, đầu đội xụp cái nón lá, tôi thương mẹ khôn tả. Chỉ nửa tiếng sau tôi đã thấy mẹ trở về.. Rổ khoai mì vẫn còn nguyên, mẹ ngượng ngập giải thích:

“Hình như hôm nay lễ gì đó, học trò nghỉ con ạ.”

Rồi mẹ lại xoay sang nghề bán thuốc lá. Mẹ mua lại của ai đó một thùng đựng thuốc lá để bầy bán. Mẹ nghe ai mách bảo, chọn một địa điểm khá xa nhà rồi lụi hụi dọn hàng vô, dọn hàng ra mỗi ngày. Nghề này kéo dài được vài tháng. Mẹ kể cũng có một số khách quen, nhưng toàn mua thuốc lá lẻ. Hôm nào có khách “xộp” mua nguyên bao thì mẹ về khoe ngay. Cũng may thuốc lá không thiu nên khi “giải nghệ” mẹ chỉ lỗ cái thùng bầy hàng.

Mẹ rút về “bản dinh” là căn nhà ở cuối hẻm, tiếp tục nhìn quanh, tìm một lối thoát. Hàng xóm chung quanh phần lớn là những người lao động. Họ như những đàn kiến chăm chỉ cần cù, 4 giờ sáng đã lục đục, người chuẩn bị hàng họ ra chợ, kẻ kéo xe ba bánh hoặc xích lô ra tìm khách. Suốt mười mấy năm qua họ nhìn gia đình chúng tôi, gia đình “ông giáo”, như từ một thế giới khác, kính trọng nhưng xa cách. Nay “ông giáo” đi tù, “bà giáo” hay xuất hiện ngoài ngõ, có lẽ họ cảm thấy gần gủi hơn. Một hôm, chị bán sương xâm ở đối diện nhà qua hỏi thăm “ông giáo”. Thấy cái máy giặt vẫn còn chạy được, chị trầm trồ: “Giặt máy tiện quá bác há!”, rồi nảy ý “Tụi con ngày nào cũng có cả núi quần áo dơ. Bác bỏ máy giặt dùm, tụi con trả tiền. Bác chịu không”” Lời đề nghị thẳng thừng, không rào đón. Mẹ xăng xái nhận lời. Kể từ đó, mổi tuần khoảng hai lần, mẹ nhận một thau quần áo cáu bẩn, bốc đủ loại mùi khai, tanh, nồng. Mẹ đích thân xả qua một nước, rồi múc nước từ hồ chứa vào máy giặt, bỏ xà bông và bắt đầu cho chạy máy. Cái máy cổ lỗ sĩ, chạy ì ạch nhưng nhờ nó mà mẹ kí cóp được chút tiền chợ.

Ít lâu sau, cũng chị hàng xóm đó lại sáng thêm một ý nữa:

“Con bé nhà con nay biết bò rồi, con không dám thả nữa. Bác nhận không, con gửi nó mỗi ngày từ sáng tới chiều. Con trả tiền bác.”

Thế là sự nghiệp nhà trẻ của mẹ bắt đầu. Mẹ dọn căn gác gỗ cho quang, có chỗ treo võng, có cửa ngăn ở đầu cầu thang. Cả ngày mẹ loay hoay bận bịu pha sữa, đút ăn, lau chùi những bãi nước đái. Được ít lâu, chị bán trái cây ở cuối hẻm chạy qua nhà tôi, nói:

“Bác coi thêm con Đào nhà con nha. Con mang cái võng qua mắc cạnh cái võng của của con Thủy.”

Hai võng đong đưa một lúc, cháo sữa đút liền tay hơn, căn gác bừa bộn hơn. Sau đó lại thêm một thằng cu nữa. Mẹ tay năm tay mười, làm việc thoăn thoắt. Cũng công việc quen thuộc ấy, ngày xưa làm cho con, nay làm kế sinh nhai, nuôi đủ tám con với một chồng. Mẹ không còn thầm lặng nữa. Mẹ lớn tiếng điều khiển tám quân sĩ, cần roi có roi, cần lời ngọt có lời ngọt. Riêng chúng tôi vẫn nhớ ơn những người lao động đã giúp chúng tôi sinh sống những ngày khốn khó đó..

Nhưng sau những giờ ban ngày ồn ào náo động là những đêm tối trầm ngâm lo lắng. Nỗi bận tâm không rời của mẹ là chuyện thăm nuôi bố. Mỗi ngày mẹ nghĩ ra một món, làm dần vào buổi tối, nay muối vừng, mai mắm ruốc, mốt bánh mì khô. Mẹ để sẵn một giỏ lớn trong góc bếp và chất dần đồ thăm nuôi trong đó. Khi giỏ đầy là ngày thăm nuôi sắp tới. Thuở ấy bố bị giam ở núi đồi Pleiku, muốn lên đến đó phải mất hai ngày đường và nhiều giờ chầu chực xe đò. Mỗi lần thăm nuôi, hoặc mẹ, hoặc một đứa con được chỉ định đi. Con trưởng nữ hay được đi nhất vì nó tháo vát và nhanh trí, thằng thứ nam cũng đươc nhiều lần “tín nhiệm”; mẹ nói nó nhỏ tuổi nhưng đạo mạo, đỡ đần mẹ được. Con thằng trưởng nam đúng tuổi đi “bộ đội”, mẹ ra lệnh ở nhà. Có lần mẹ đi về, mặt thất thần. Các con hỏi chuyện thì mẹ chỉ buông hai chữ “biệt giam”.. Biệt giam thì bị trừng phạt không được thăm nuôi. Tôi thảng thốt hỏi:

“Đồ thăm nuôi đâu hết rồi mẹ””

“Mẹ phải năn nỉ. Cuối cùng họ hứa chuyển đồ ăn cho bố.”

“Mẹ nghĩ họ sẽ chuyển không”

“Họ hẳn sẽ ăn bớt, nhưng nếu mẹ mang về thì phần bố đói còn chắc chắn hơn nữa.”

Mẹ ngày nào thầm lặng, nay thực tế và quyết đoán như thế..

Ngày bố được thả đợt 1, nhà trẻ của “bà giáo” vẫn còn hoạt động. Mẹ hướng dẫn bố đu võng khi các bé ngủ. Mẹ cũng dặn bố thường xuyên lau chùi gác và bỏ giặt tã dơ. Bố một mực nghe lời. Tưởng như cờ đã chuyền sang mẹ một cách êm thắm…

Tuy nhiên, mẹ không thể ngăn được bố lân la cầm lại cây bút. Thời gian này là lúc họ hàng ngoài Bắc vào chơi nhiều. Bên ngoại có cậu tôi làm đến chức thứ trưởng; cậu kể rằng lúc còn sống, ông ngoại (một nhà thơ cách mạng) phiền lòng vì sự nghiệp văn chương của thằng con rể. Bên nội có chú tôi – một nhạc sĩ cách mạng- chú biết ngòi bút đang thôi thúc bố và đã từng rít lên giữa hai hàm răng:

“Trời ạ! Đã chửi vào mặt người ta, không xin lỗi thì chớ lại cón nhổ thêm một bãi nước bọt! Lần này mà vào tù nữa thì mọt gông”.

Mấy mẹ con chết lặng trước viễn tượng “mọt gông”. Bố không màng đến điều này, vẫn miệt mài gõ máy đánh chữ. Đêm khuya thanh vắng tiếng gõ càng vang mồn một. Vài lần mẹ can ngăn, có lần mẹ giận dữ buộc tội:

“Ông chỉ biết lý tưởng của mình, không biết thương vợ con.”

Vài tuần sau, chị hàng xóm đối diện nhà chạy sang xì xào với mẹ:

“Công an đặt người ở bên nhà con đó bác, họ theo dõi bác trai.”

Mẹ lại thử can thiệp, nhưng đã quá trễ. Bố bị bắt lần thứ hai năm 1984. Lần thứ hai bị bắt, bố bình tĩnh đợi công an lục lọi tung nhà. Trước khi bắt đi, họ chụp hình bố với nhiều tang chứng chung quanh. Trong hình bố ngẩng cao đầu trông rất ngạo nghễ. Nhiều năm sau, bố vẫn còn được nhắc tới với hình ảnh này. Không ai biết đến người đàn bà thầm lặng bị bỏ lại đằng sau. Sau biến cố thứ hai này, mẹ phải đối phó thêm với nhiều khó khăn loại khác, điển hình là những giấy gọi gia đình ra dự phiên tòa xử bố. Gọi rồi hoãn, rồi lại gọi lại hoãn. Mỗi lần như vậy cả nhà lại bấn loại tâm trí, lo cho mạng sống của bố. Riêng mẹ thì vừa lo vừa soạn thêm một số thức ăn thăm nuôi. Mẹ thực tế là thế đó.

Sau khi bố bị gọi án 10 năm tù, cuộc sống của mẹ không còn những bất ngờ khủng khiếp, chỉ còn những đen tối và tù túng đều đặn. Tưởng là dễ chịu hơn, nhưng thực ra nó gậm nhấm tâm thức, tích lũy buồn bực chỉ đợi cơ hội bùng nổ. Hết ngày này qua tháng nọ mẹ lầm lũi chuẩn bị đồ thăm nuôi, từng món ăn thức uống, từng vật dụng hằng ngày. Các con lần lượt trưởng thành, đứa nào cũng có bạn bè và những sinh hoạt riêng.

Chuyện thăm nuôi bố và lòng thương bố quan trọng lắm, những cũng chỉ là một phần trong những cái quan trọng khác trong đời. Chỉ đối với mẹ, những thứ ấy mới là tất cả, độc tôn choán ngập tâm hồn mẹ. Mẹ hẳn có những lúc thấy tức tưởi và cô đơn mà các con nào hay biết. Có vài lần chúng tôi lỡ một lời nói hoặc cử chỉ không vừa ý mẹ, me òa khóc tu tu, lớn tiếng kể lể, tuôn trào như một giòng lũ không ngăn được. Lúc ấy chúng tôi mới choàng tỉnh.

Ngày mãn hạn tù về, bố bình an như một thiền sư, để lại sau lưng hết cả những thăng trầm của quá khứ. Rồi bố mẹ sang Mỹ ở Houston sống cùng cậu trưởng nam. Mẹ bận bịu với cháu nội, nhưng không quên nhắc ông nội đi tắm và bao giờ cũng nặn kem đánh răng vào bàn chải cho ông mỗi tối. Thỉnh thoảng giao tiếp với họ hàng và bạn bè, mẹ lại phải đỡ lời cho bố, khi bố cứ mỉm cười mà không nói năng chi. Thư viết về cho con cháu ở Việt Nam, ai cũng nói mẹ viết hay hơn ông nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Lúc đó chắc mẹ tự nhủ thầm rằng: “bởi vì mẹ là con của ông Tú Mỡ mà!”

Như thế được mười năm thì mẹ ngã bệnh. Hôm nay, ở giai đoạn cuối của căn bệnh Alzheimer, mẹ nằm bất động một chỗ và không nói được nữa. Nhưng mẹ vẫn đưa mắt nhìn bố mỗi lần bố ra vào trong phòng. Hôm nào bố vắng nhà vài ngày thì mẹ nhìn con trai, mắt dò hỏi lo lắng. Khi bố về thì mẹ vẫn nhìn bố, ánh mắt yên tâm hơn. Mẹ thầm lặng hơn bao giờ hết. Dưới mắt bố con chúng tôi, sự thầm lặng ấy càng ngày càng tỏa sáng.

Doãn Kim Khánh

TẮT ĐIỆN NĂM 2021 TẠI TEXAS (HOA KỲ) VÀ NĂM 2003 TẠI ONTARIO (CANADA)

&&&

Và bài viết thứ Hai (2003)

CÚP ÐIỆN TOÀN DIỆN TẠI ONTARIO, CANADA, 2003

Đàm Trung Phán


Chiều thứ Năm, 14/8/2003 người viết bài này được “Canadian Speakers’ Bureau” mời đến nói chuyện với một lớp luyện tiếng Anh cho những người di dân mới tới Canada vào lúc 4 giờ chiều. Giáo Sư Anh Văn Joe Mach, trước khi giới thiệu tôi với lớp học của ông, đã xin lỗi mọi ngưới là hệ thống máy lạnh của building đã hỏng và phải rời lớp ra phòng họp bên cạnh cho “mát” hơn .

Tôi bắt đầu kể truyện đời di dân của mình với lớp học mà đa số là người Trung Hoa lục địa. Họ dã là kỹ sư, giáo sư, luật sư tại Trung Hoa trước khi sang định cư tại Canada. Bỗng đâu đèn trong phòng tắt hết. Ông Joe Mach nhìn tôi nhíu mắt, so vai, giang hai tay và cười trừ. Diễn giả tiếp tục “câu truyện của một người di dân gốc Việt Nam từ đầu thập niên 1970”, mặc dù nóng chẩy mỡ. Các “khán giả” hỏi tôi các câu hỏi chính tông của những người di dân mới tới Canada làm cho tôi không dám ngưng cuộc nói truyện để về cho sớm.

Nhìn đồng hồ, thấy đã 6:15 chiều  tôi bắt buộc phải xin phép “khán giả” cho “diễn giả” ngưng  ngay vì tôi đã hứa sẽ đi ăn cơm chiều vào lúc 7 giờ tối  với một cặp vợ chồng bạn mới quen của chúng tôi.

 Ra đến ngoài phố, thấy rất nhiều các xe cứu thương và xe chữa lửa chạy trên đường phố. Bèn ghé vào một nơi có điện thoại công cộng để gọi cho cặp vợ chồng bạn xin kiếu vụ đi ăn vì tôi biết sẽ bị muộn ít nhất khoảng một tiếng rưỡi. Ðiện thoại bên kia reo hoài mà không thấy bạn trả lời. Bèn phải gọi về nhà và bà vợ cho tôi biết là cả thành phố Toronto đã bị cắt điện. Tôi nhờ bà vợ gọi điện thoại cho bạn trước khi Bà Xã đi ra phố mua bánh mì về ăn tối.

Ðường vào xa lộ Gardner Express Way Westbound bị đóng cửa. Bèn lái xe chạy theo Lakeshore Boulevard Westbound chạy song song với xa lộ. Các ngã tư chính đều có cảnh sát chỉ đường vì tất cả các đèn xanh đèn đỏ đã “chết vì điên nặng” (bị cúp điện)!

Ngã tư nào không có cảnh sát chỉ đường thì được thường dân đứng ra điều khiển xe cộ, ngon lành y như “cảnh sát là bạn dân” vậy! Ra khỏi đường chính, bã tài  phải rẽ trái hai lần. Ðặc biệt là chiều hôm đó, các tài xế hai bên đường tự ý ngưng xe để cho chúng tôi rẽ trái, một nghĩa cử rất là “đẹp mắt” không giống như những ngày thường! Tới một ngã tư đông xe, một thanh niên trẻ tự ý đứng ngay giữa đường đế chỉ đường cho xe đi, bên cạnh có mấy chai nước và cái bag pack. Cũng may là lúc này trời còn sáng mặc dù là đã khoảng 7:30 PM mùa hè, nên các bác tài xế còn nhìn thấy nhau và nhìn thấy người đứng chỉ đường. May thay, vào hầm đậu xe (indoor parking lot) của Building nơi chúng tôi cư ngụ, bên trong rất tối . Tắt máy xe xong, cũng may là cửa chính của Garage được để ngỏ, bác tài mệt mỏi men theo lối đó mà ra khỏi hầm đậu xe. Thang máy không còn chạy, bèn phải trèo 8 tầng lầu để về lại apartment của chúng tôi. Trèo tới lầu 5, bác tài trên sáu bó chẩy mồ hôi hột và phải ngưng tại đó ít lâu, vừa để mà thở, vừa để mà lau mồ hôi trên mặt!

Như đã hứa, Bà Cai đã đi mua bánh mì khi tôi trên đường về nhà. Một hồi lâu, sau khi tôi đã trở về Apartment, Bà khệ nệ xách 3 cái túi plastic vào nhà. Theo lời của Cai, dân chúng xếp hàng dài như đang chờ phát chẩn trước cái hiệu bán bánh mì và cái “grocery store” gần nhà chúng tôi. Bà bèn nhanh chân chạy sang một hiệu bán thực phẩm Á Ðông, mua ngay một lò nấu bếp bằng “gas”, một lô đồ ăn khô và rau cỏ. Nhờ vậy mà chúng tôi may mắn được ăn bánh mì với thịt bò xào còn nóng hổi, vừa thổi vừa ăn trong khi đó tha hồ mà đổ mồ hôi hột! Vừa ăn, ông già về hưu non vừa tự hỏi giờ này các gia đình khác họ đang ăn uống như thế nào vì tất cả các nhà đèn trong tỉnh bang Ontario không còn phát điện?

Người hàng xóm khuyên chúng tôi phải tích trữ nước vì cuộc tắt điện này có thể kéo dài tới vài ba ngày và hệ thống nước trong building cũng sẽ bị cắt luôn trong vài tiếng nữa. Vợ chồng già bèn kiếm hết các nồi niêu, xoong chảo, các chậu plastic lớn ra mà chứa nước. Cũng không quên rửa sạch cái bồn tắm và trữ thêm nước, … “just in case” như người Âu Mỹ thường nói.

Ông già về hưu cũng không quên dùng đèn pin đi kiếm 4 cái cây nến to bằng cổ tay đã tích trữ cho cái vụ Y2K ba năm về trước và cho những đêm khuya khi nơi chúng tôi cư ngụ thường hay bị tắt điện bất tử. Phòng tắm được trang bị với một cái đèn pin lớn vì tôi sợ nến có thể gây hỏa hoạn dễ dàng trong nhà tắm.

Trong bóng đêm, thành phố tối đen, ngoại trừ ánh đèn thưa thớt từ vài chiếc xe hơi còn đi ngoài đường. Các cây nến đang cháy trong nhà mang lại một không khí ấm cúng giống như trong các quán ăn của các chàng và nàng mới gặp nhau trong những giây phút của “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy”…

Ðây cũng là một dịp mà chúng tôi không thể nào ngồi đọc sách, coi Tê Vê hay sử dụng computer được. Bèn tự ý ra balcony hóng gió và làm vài động tác thể dục cho giãn gân giãn cốt. Bỗng đâu, tôi nẩy ra ý nghĩ:

– Ừ nhỉ, mình phải nghe Radio để biết tin tức bên ngoài chứ!

Bèn nghĩ ngay tới cái radio/player “Ghetto Blaster” to tổ chảng chạy bằng 6 cục pin cỡ lớn. Lắp pin xong, mặc dù pin hãy còn mới luých, “ra dzô” không thèm chạy! Bèn nghĩ tới cái “clock radio” và sau khi lắp pin, máy cũng làm reo luôn! Bèn nghĩ ngay tới cái “walk man radio –cassette player” mà tôi đã được thừa hưởng theo kiểu “Mỹ Quốc viện trợ” của con trai lớn. Thật là tài tình, chỉ cần một cục pin nhỏ, cỡ A++ mà radio chạy ngon lành. Tôi rung đùi, nằm dài trên cái “portable love seat” mà nghe nhạc stereo và tin tức. Nhờ cái “walk man radio” này mà tôi mới biết là một số các tiểu bang Ðông Bắc của Hoa Kỳ cũng bị cúp điện như tỉnh bang Ontario. Mẩu tin này đã làm tôi sững sờ và tôi liên tưởng tới biến cố 911 năm 2001 tại New York!

Càng về khuya, thành phố càng tĩnh mịch vì số xe đi trên đường càng vắng, chắc vì thiên hạ không còn có đủ xăng để mà lái xe? Thời gian như ngưng lại, tự cảm thấy “an ủi” là thôi thì đây cũng là dịp “tự mình trở về với chính mình” trong cái oi bức và tĩnh mịch của một đêm hè.

Giáo Già về hưu bỗng cảm thấy mình đang còn ở trong lớp học với môn Công Chánh Ðại Cương (Introduction to Civil Engineering Technology ) trong thập niên 70 và 80. Thầy trò chúng tôi đang hăng say bàn cãi với những câu hỏi do ông thầy đặt ra như:

–  Hiệu quả và các hậu quả của các nhà đèn nguyên tử ( nuclear power stations) và các nhà đèn đốt than (coal fired power stations),


–  Dân chúng sẽ sống ra sao nếu các nhà đèn bị tê liệt dài hạn?

Các câu trả lời của sinh viên về hai câu hỏi trên đã được kiểm chứng khá đúng qua kỳ cắt điện tuần qua.


Trong thời gian gia đình chúng tôi sửa lại căn nhà vào năm 1983, chúng tôi đã cho xây thêm một cái “fire place” (lò đốt củi) rất “hợp thời trang” để vừa  sưởi ấm căn nhà, vừa tiện việc nấu nướng phòng khi điện bị cắt dài hạn trong những tháng mùa đông và 3 cha con chúng tôi cũng đã tích trữ rất nhiều củi  đốt ở ngoài vườn,”for the rainy days” như người Âu Mỹ thường nói! Cái “fire place” này đối với tôi là một dụng cụ để sống còn (“survival”) cho gia đình chúng tôi hơn là “một đồ trang sức trong nhà”!

Sáng hôm 21/8/2003, khi ngồi đọc báo, người viết không lấy gì làm ngạc nhiên nghe tin ông Thủ Hiến Tỉnh Bang Ontario, Premier Ernie Eves, tuyên bố sẽ sẵn sàng tắt điện chiều tối khi nhiệt độ có thể lên tới 40 độ Celcius! Lý do như sau:

Các nhà máy điện nguyên tử cung cấp 40% điện cho tỉnh bang Ontario, nhưng sau khi các nhà máy điện này bị cúp quá lẹ tuần trước, bây giờ muốn “start” lại rất là khó, vì vậy cho nên Nhà Ðèn Ontario (Ontario Hydro) phải tăng phần phát điện của các nhà máy điện dùng than để đốt. Càng nóng, dân chúng càng dùng máy lạnh nhiều, các nhà máy điện càng phải đốt than nhiều hơn nữa để tạo hơi nước mà xoay các “turbines” để mà phát điện. Càng đốt than, càng tạo thêm nhiều các chất ô nhiễm (pollutants)  như bụi than, khí độc… làm cho những người bị bệnh suyễn hay những ai bị bệnh trong bộ phận hô hấp càng khó thở. Khi mực độ ô nhiễm trong không khí đã đạt tới một mức nào đó, Bộ Môi Sinh của chính quyền sẽ bắt buộc các nhà đèn phải “shut down” và dân chúng lại sẽ không có điện trong một thời gian ngắn.

Mải suy nghĩ, rồi thiếp đi lúc nào không haỵ trong làn gió nhẹ của đêm hè. Ðến giữa đêm, tôi cảm thấy lành lạnh vì sương đêm. Bèn vào trong nhà lấy pyjama mặc rồi ra balcony ngủ tiếp. Thành phố hoàn toàn chìm trong màn đêm tối mịt. Kỳ này cảnh vật ngoài đường phố rất xa lạ so với những kỳ tắt điện trước đó vì đây là một cuộc tắt điện toàn diện: cả tỉnh bang đều không có điện, điều mà tôi chưa hề bao giờ thấy trong 34 năm tôi sống tại Canada!

Phải vào lại trong nhà để ngủ vì cái “portable love seat” đã làm ông già cảm thấy đau lưng. Khoảng 6 giờ sáng Thứ Sáu 15/8/2003, trong giấc ngủ nghe thấy tiếng máy Fax chạy và cảm thấy gió mát từ cái quạt trần đang bắt đầu chạy.

Welcome back, Power!

Tôi thở phào, nhẹ nhõm, thức giấc và trèo ra khỏi giường.

Tám giờ sáng, từ balcony sau khi ngủ đẫy giấc, ông già khoan khoái nhìn thấy cả một đoàn xe hơi “rồng rắn lên mây” tràn ra ngoài đường, đứng xếp hàng mua xăng tại một “Gas Station” gần nơi chúng tôi cư ngụ. Ðoàn xe dài khoảng 100 mét (cỡ 300 feet!), có nhiều người còn mang theo thùng xăng tới mua xăng vì xe của họ dã bị chết máy tại nơi khác! Ðoàn xe tiếp tục nối đuôi nhau cho tới lúc tắt điện lại vào khoảng 3 giờ chiều!

Sáng Thứ Bẩy, đọc tờ báo Toronto Star  mới biết là rất nhiều xe hơi đã nằm đường vì hết xăng và đã có hơn 20 vị tài xế trong khi hút xăng trộm từ xe nọ sang xe kia, đã “chót dại” nuốt xăng và phải vào nhà thương cấp cứu! Nhiều xe hơi đã phải đợi hơn cả tiếng đồng hồ hôm Thứ Sáu, sau khi đã có điện, để đổ xăng. Khi xe tới trạm xăng, thì hỡi ơi, trạm xăng đã… hết xăng!

Bẩy giờ sáng Thứ Sáu, tôi hí hửng mở Computer để đọc Email bạn bè và hy vọng đọc được các tin tức về vụ tắt điện. Computer chạy ngon lành nhưng không tài nào vào Internet được vì máy không “connected” được với Internet. Ðến khi có “connection” với Internet, tôi chỉ đọc được các email qua Yahoo và Hotmail mà thôi.  Mãi tới sáng Chủ Nhật 17/8/2003 mới vào đọc được các email gửi qua Ipoline vì mấy hôm trước cái Server này đã hoàn toàn bị “án binh bất động”!

Chính phủ địa phương (Municipal Government) và Chính phủ Tiểu Bang (Provincial Government) thay phiên nhau nhắc nhở dân chúng nên “tiết kiệm” điện và nước để tránh các vụ tắt điện bất tử vì số lượng điện và nước chỉ còn ở trạng thái “bare minimum” mà thôi . Tất cả các công, tư sở đều nghỉ luôn ngày Thứ Sáu vì có nhiều nơi mãi buổi chiều tối Thứ Sáu mới có điện. Sang đến ngày Thứ Hai, tất cả các công sở đều đóng cửa và rất nhiều các hãng tư cũng cho nhân viên ở nhà “ngồi chơi xơi nước” vì hệ thống xe điện ngầm (subway) và street car (tầu điện chạy trên mặt đường) đều không hoạt động. Ngoài ra, các công tư sở này cũng không muốn dùng điện quá độ (overloading their systems)!

Các chuyên gia về hệ thống phân phối điện giữa Hoa Kỳ và Canada vẫn chưa biết rõ nguyên nhân chính của vụ tắt điện có một không hai này. Mỗi người có một “theory” riêng của họ. Tự cảm thấy rất là bất ổn.

Những “dự đoán” của thầy trò chúng tôi trong hai thập niên 70 và 80 về các “vấn đề của nhà đèn” đã khá đúng. Nhưng hồi đó chúng tôi chưa thực sự “có hân hạnh được” sống trong những kinh nghiệm sống trong lo âu, phập phồng như trong hai ngày Thứ Năm và Thứ Saú vừa qua. Theo tôi, dân Bắc Mỹ, còn “khá may mắn” kỳ này! Thử tưởng tượng vụ cắt điện toàn diện này đã xẩy ra trong một ngày bão tuyết mùa Ðông: Giao Thông sẽ hoàn toàn tê liệt, rồi còn đói, rét và các tai nạn mùa đông!

Xin mạn phép không dám nghĩ và viết gì thêm nữa cho mệt cái thân già đang muốn tạm sống cho qua ngày trong cái cõi ta bà này!

Ðàm Trung Phán
Toronto
Tháng Tám, 2003 / Viết lại, Feb.23, 2021

ÔNG CHÁU

Ông-Cháu

Ðã lâu lắm rồi tôi chưa ngồi xuống để viết bài. Hôm nay trốn việc trông cháu (baby-sitting), tôi định ra bờ hồ ngồi hóng mát mùa hè và suy nghĩ, trời bỗng đổ mưa. Ở xứ lạnh như Canada mà gặp được một cơn mưa hè, người viết cảm thấy như vừa trúng xổ số vậy. Bèn vớ cái dù, xỏ chân vào đôi dép Nhật rồi  ra đường “đội mưa mà đi” để nhớ lại cái thời còn học Trung học tại Việt Nam hơn một nửa thế kỷ trước.

 Vừa đi trong mưa, vừa nghe tiếng mưa rơi lộp độp trên cái ô đen của “cụ Lý Ðình Dù đang hưu trí”, tôi miên man liên tưởng tới 3 khuôn mặt và ánh mắt thơ ngây của các cháu nội, ngoại. Thấm thoát, cháu nội đích tôn của tôi đã được 3 tuổi (2008) rồi. Trước khi cháu ra đời, con trai lớn của tôi gọi điện thoại báo tin:

–         Bố sắp có cháu nội trai rồi đó. Cháu sẽ sinh vào cuối tháng 5, 2005.

Tôi im lặng trong cái nghịch ngợm bẩm sinh và tôi trả lời hắn:

–         A ha, Bố rất mừng cho vợ chồng con sẽ có con trai. Bố sẽ dậy cho cháu nội của Bố những “bí kíp” để nó “chơi” lại bố nó, giống như những “đòn” mà ngày xưa con đã từng “chơi” với Bố khi con còn nhỏ.

Bên kia đầu giây, thấy im lặng. Mãi sau mới nghe con trai tôi trả lời gọn lỏn bằng tiếng Anh:

–         You bet, Dad! (Thì Bố cứ thử xem sao!)

Tôi cười rộ vì đây là cơ hội ông già đang mong chờ từ khi con trai tôi lấy vợ và ông già đang mong có cháu để “diễn lại tích xưa”. Bây giờ mình chỉ phải đóng vai phụ: vai ông nội đang ngồi xem cảnh bố con chúng nó bồng bế nhau ra sao!

Ngày cháu nội đầu lòng Edward của chúng tôi ra đời, tôi cảm nhận được một niềm vui lâng lâng rất khó tả. Cháu có khuôn mặt và đôi mắt giống bố và cái miệng giống mẹ của cháu. Nhìn đôi mắt cháu nội, cả một thời dĩ vãng hơn 35 năm trước đã trở về. Cũng là hai đứa bé trai mới sinh ra đời với khuôn mặt và đôi mắt giống nhau như đúc nhưng lại sinh ra cách nhau hơn 30 năm. Nhìn con trai tôi bồng con của hắn, ông nội nhớ lại cái thuở hắn mới sinh: đêm đầu tiên sau khi mang hắn về nhà, tôi đã thức trắng đêm để hâm sữa cho con và phụ giúp mẹ cháu vì thằng bé khóc gần như suốt đêm.

Rồi hắn lớn dần và cũng bụ bẫm như cháu nội của tôi bây giờ. Sáu tháng sau, mẹ cháu phải đi làm trở lại và tôi trở thành “bà vú thứ thiệt”! Như một cái đồng hồ báo thức, cứ khoảng 8 giờ đêm, thằng bé nhớ mẹ và đòi bú tí nhưng tiếc nỗi là bố của nó “không có dụng cụ hành nghề” để hắn “đỡ cơn ghiền”. Thế là cu cậu tiếp tục khóc oe oe làm bố nó phải bồng bế nó đi quanh nhà, mỏi cái lưng và muốn…bạc cái đầu.

Tôi nhoẻn miệng cười khi thấy cháu nội tôi đang ngáp ngủ và bố nó đang xoa lưng cho nó ngủ tiếp. Hóa ra đây là một hình ảnh trong cuốn phim “Dòng Ðời” mà hai bố con tôi đã từng đóng vai chính và giờ dây tôi chỉ là một khán giả đang rung đùi ngồi thưởng lãm cuốn phim này! Lòng tôi thấy nhẹ nhàng với một niềm yêu thương với con, với cháu nội đích tôn: dòng đời không hề ngừng nghỉ từ đời này sang đời khác!

Ngày xưa, khi nuôi cho các con khôn lớn, tôi chỉ thấy bận rộn đầu tắt, mặt tối vì có quá nhiều thứ để làm và để lo nhưng giờ đây, trong cương vị của một ông nội, nay tôi thấy an vui, yêu thương và không còn thấy bị vất vả như ngày xưa nữa. Cuộc đời thay đổi như một cái đồ thị (graph), biến đổi theo các chu kỳ (cycles) khác nhau. Tôi đang vô hình chung dang tay đón chào các sự thay đổi này và nhất là đón chào các cháu nội, cháu ngoại. Bây giờ, ông nội chỉ hy vọng những vấp ngã trong cuộc đời của chính mình sẽ giúp tôi tránh được ít nhiều những “ổ gà trên dọc đường trần gian” dùm cho con, cho cháu mình về sau này.

Cháu tôi lớn dần và tôi mê chụp hình cho nó, cho em nó và cho bố mẹ nó luôn. Tôi “mê” chụp hình, chẳng qua chỉ là vì muốn ghi lại những hình ảnh ngay lúc đó để hai, ba chục năm về sau, tôi muốn đem ra kiểm chứng những khác biệt của đời cụ, đời ông, đời cha và đời cháu của đại gia đình chúng tôi mà thôi.

Dòng đời tiếp diễn với sự ra đời của cháu ngoại gái Julie và cháu nội trai thứ hai Norman của chúng tôi. Julie ra đời sau Edward hơn 1 năm. Julie sinh ra đúng vào lúc tôi đang mong chờ có một mụn cháu gái. Cháu có đôi mắt và cái mũi giống mẹ Việt Nam, và cái miệng giống Tây Phương của bố cháu.

Hồi còn trai trẻ, tôi đã từng say mê đi kiếm đôi mắt “nửa Âu, nửa Á” của một cô gái có hai dòng máu Á và Âu nhưng rất tiếc là “mưu sự tại nhân, thành vợ tại thiên” cho nên cuối cùng tôi đã có duyên nợ và ghé bến với “đôi mắt người Sơn Tây” Việt Nam!

Ai mà chẳng có những cái đam mê khác nhau trong lúc trẻ tuổi? Giờ dây, trong đời về hưu, tự dưng tôi lại có cháu ngoại có hai giòng máu, phải chăng đó là một cái “bonus duyên trời” vừa nhẹ nhàng, vừa thích thú mà Ông Trời / Thượng Ðế đã ban cho tôi?

Từ ngày có cháu ngoại Julie, thuyền đời của ông dường như đang nhẹ nhàng ghé bến trong một nhịp điệu rất êm dịu. Mẹ cháu chỉ được ở nhà trông con có một năm (đó là may mắn lắm rồi, trong xã hội Bắc Mỹ). Qua những kinh nghiệm nuôi con vất vả ngày xưa, giờ đây trong vai ông bà, chúng tôi quyết định trông cháu ngoại Julie trong những ngày làm việc của cha mẹ cháu để cháu không phải đi đến nhà giữ trẻ, nhất là trong những ngày bão tuyết mùa đông.

Tôi đã có nhiều kinh nghiệm cho con nít ăn uống, ru ngủ, đọc sách, đi dạo… với các con tôi. Bây giờ, tuy tôi đóng vai “thợ vịn” trong việc trông cháu nhưng tôi đóng vai “thợ vịn thứ xịn” làm cháu ngoại Julie nhiều lúc cười như nắc nẻ và chạy theo ông như một cái đuôi!

Càng lớn, Julie càng nghịch ngợm, nghịch như con trai vậy. Rồi bỗng dưng, ông trở thành một thủ môn (goal keeper) để Julie tập đá banh (soccer) khi cô nàng mới 20 tháng tuổi đời. Thủ môn già chạy đi nhặt banh muốn hụt hơi luôn trong khi cầu thủ tí hon luôn miệng la to: ”More, more!” ( “Chơi tiếp!” ). Julie còn có sở thích khác: cô nàng hay thích trèo vào lòng ông để “chấm bài” giúp ông mỗi khi thấy ông ngồi chấm môn Toán và Anh Văn cho học trò. Có lần cô nàng vớ đâu ra được một cuốn sách Toán của học trò và dùng cây bút chì viết tứ tung gần cả một trang giấy. Tôi chỉ biết vui vẻ ngồi cười trừ và nhớ lại thuở xa xưa, hơn 25 năm về trước khi con trai út của chúng tôi cũng đã từng “hành xử” như vậy!

Nhớ lại hồi đó, một hôm tôi phải ở nhà trông Út lúc cu cậu mới hơn hai tuổi. Vừa trông con, tôi vừa phải chấm bài thi cho học trò vì đang sắp phải nộp điểm cuối khóa học Mùa Thu (Fall semester) cho nhà trường. Xế trưa, tôi để con trong phòng ăn và ra bếp hâm đồ ăn cho con. Tự nhiên thấy nhà im lặng một cách khả nghi, bèn chạy vội vào phòng ăn để xem anh chàng đang làm gì. Hóa ra cu cậu đang ngồi trên bàn ăn miệt mài “chấm bài dùm bố” và nhe răng cười với bố trong khi tay vẫn còn cầm cây bút mầu đỏ “mài” trên xấp bài thi của học trò. Cũng may, đó chỉ là trang sau cùng của một bài thi, chưa “thiệt hại” gì! Cu cậu cũng thích ngồi trên lòng tôi những khi tôi ngồi chấm bài, nhất là loại bài “True” and “False”, anh chàng thường hỏi tôi câu nào sai, câu nào đúng để cho điểm giùm tôi .

Julie cũng ít khi để cho tôi được ngồi yên vì cô nàng hay bắt ông phải “xếp bút nghiên theo việc ra chơi”! Tôi đâm ra ít còn có được thì giờ để mà ngồi viết lách như ngày xưa nữa! Khi nào cô nàng thấy tôi ngồi xuống trước máy computer, “cô chủ tí hon” bèn bắt ông đi lấy chổi quét nhà: ông một cái chổi dài, cháu một cái chổi dài gấp hai người cháu. Lấy chổi xong, cô chủ không quên dắt tay ông đi lấy cái gầu hốt rác. Cô nàng oai lắm: luôn luôn chỉ nhiều chỗ bắt ông phải quét luôn chân, luôn tay làm ông không còn có thì giờ “ngừng chổi đứng chơi” được nữa. Thông thường, ông là người mệt trước cháu, ông bèn nài nỉ xin cô chủ tí hon để cho ông tạm “về hưu non với việc quét nhà” trước. Ông bèn lén ra cái Computer. Ông đang chờ máy PC cho vào Internet, cô chủ bèn kéo tay ông ra cái giá sách và chỉ trỏ vào cuốn tự điển súc vật bằng tranh mà ông đã mua cho cháu. Julie chỉ chỗ cho ông ngồi để trèo vào lòng ông rồi chu môi, há miệng: “Ooong”! Có nghĩa là ông phải giở sách ra cho cháu chỉ trỏ từ trang nọ đến trang kia. Ông vừa ngồi nghỉ vừa hỏi cháu chỉ cho ông xem con hổ, con trâu…

Những lúc ngồi giở sách, đọc sách ngày xưa cho con, bây giờ cho cháu, tôi thấy vui vẻ, thoải mái nhất là được nghe tiếng trẻ thơ nói và cười. Nhiều đêm tôi nhớ lại hồi còn nhỏ, tôi đã thường giở mấy cuốn sách chữ Hán của thân phụ ra xem như thể một thứ đồ chơi vậy. Tôi chẳng hề biết một chữ nào hết nhưng lại rất thích thú ngồi xem những nơi bị con mọt đục lỗ và thường thò tay lấy ra những lá khô được kẹp giữa những trang sách. Tôi rất mê giở xem những hình vẽ trong cuốn Tự Vị Larousse bằng tiếng Pháp nữa. Hình ảnh thân phụ tôi nhẫn nại và tươi cười ngồi bên cạnh giở sách cho tôi xem, tôi vẫn còn nhớ được. Không ngờ, giờ đây, đó cũng là hình ảnh của chính tôi với đời con, đời cháu nình. Thời gian không bao giờ ngừng lại và các chu kỳ vẫn đang nối tiếp nhau!

Julie có đôi mắt của một cô đầm lai: mí mắt Việt Nam nhưng lông mi và mầu mắt Tây Phương. Nhìn vào mắt của cháu, nhiều lúc tôi lại nhớ đến đôi mắt của Nicole, cô bạn gái người Pháp có một phần tư gốc Việt Nam của tôi khi tôi còn là một sinh viên đang du học. Tôi đã mê mẩn với đôi mắt đó và cũng chưa quên được những lần Nicole cầm đũa ăn bát mì thập cẩm với tương, ớt cùng tôi hơn 40 năm về trước. Nicole theo gia đình về Pháp. Tôi ở lại Sydney với những đêm dài mênh mông và học hành chối chết! Ðã có nhiều lúc tôi tự hỏi giờ này Nicole đang ở đâu, có gia đình chưa, đang làm gì …? Hỏi để mà hỏi nhưng chẳng kiếm được câu trả lời!

Qua cháu ngoại Julie, tôi đã kiếm ra đôi mắt người xưa, thật là nhẹ nhàng, dễ thương và bàng bạc.

Tôi yêu hình ảnh lúc Julie ăn trái cây Việt Nam như nhãn, vải, na (mãng cầu): đây là hình ảnh của sự giao thoa hài hòa rất đẹp giữa Phương Ðông và Phương Tây. Ăn xong, cô nàng dẩu mỏ ra nói với ông bà: “Ði, đu!” Ông bố Tây Phương của Julie trố mắt nhìn chúng tôi:

–         Julie nó gì vậy, grand pa, grand ma?

–         Nó nói tiếng Việt, đòi đi ra ngoài Park chơi để đánh đu đó!

Tôi mỉm cười vu vơ: “Cháu tôi đang Việt Nam hóa ông bố Tây Phương của nó!” Cả bố lẫn con chỉ thích ăn phở mà phở phải do chính tay bà ngoại nấu cơ! Bà ngoại tuy bận rộn nhưng rất vui khi thấy con rể Tây Phương và cháu ngoại cầm đũa ăn phở giống như người Việt thực sự vậy!

Trong đời hưu trí, chúng tôi không còn phải quá lo lắng cho các con nữa vì chúng đã trưởng thành, có công ăn, việc làm và có gia đình, con cái rồi. Riêng anh chàng Út (“thợ – chấm- bài – không – công” của bố) vẫn còn đơn thương độc mã mải mê làm việc tại New York City. Theo thông lệ, đại gia đình chúng tôi từ ông, bà đến các con, các cháu đều “tham dự” bữa cơm đại gia đình mỗi lần Út về thăm gia đình. Chú Út tha hồ mà bồng bế các cháu và chơi trò chạy đuổi với các cháu. Ðối với riêng tôi, đây là những giây phút thần tiên nhất mà mình đang được hưởng trong lúc tuổi già.

Cầu mong cho thế giới được an bình và tránh đưọc các hiểm hoa của chiến tranh, thiên tai để cho nhân loại và các con, các cháu chúng tôi được sống trong tự do, công bằng, bình an, thoải mái hơn cuộc sống ngày xưa của nhiều thế hệ trước. Mong lắm thay!

2018 CHRISTMAS GETHERING

Ðàm Trung Phán

Aug 4, 2008 / Viết lại ngày Feb.16, 2021

Canada

BÁC PHÁN LẤY VỢ – một đám cưới văn nghệ

Nguyễn Thọ Chấn & ĐKG

ĐÁM  CƯỚI  PHÁN-NGA-WEDDING – JULY 22, 2000-

 Trong số các bạn cựu học sinh Trần Lục, và Chu văn An sống ở Bắc Mỹ, có hai cụ đúng là những cậu học trò đặc biệt ở lứa tuổi 60.  Một cụ đã được Nguyễn Ngọc Chấn, rồi Du Tử Lê viết với những tình cảm nồng đượm, nhân dịp đám cưới của cụ vào tháng chạp  năm ngoái- một đám cưới mà theo lời những người bạn rất đỗi thân thiết nói trên là ‘‘ Đám cưới cuối cùng của thế kỷ’’, với những đặc điểm có thể bỏ vào cuốn sách ghi những thành tích kỷ lục là cuốn Guinness. Chú rể Nguyễn Quang Minh- có tục danh là Minh Dzê- là một nhân vật được bạn bè khắp năm châu thương mến, đã kẻ từ Úc, người từ Pháp,…đến dự đám cưới tràn ngập tình yêu, và tình bạn.  Kẻ viết bài này không thật nhớ rõ có từng học chung lớp với Minh Dzê hay không, và cũng chỉ được đọc những bài viết của hai bạn Nguyễn Ngọc Chấn và Du Tử Lê một vài tháng sau khi Minh Dzê đã chung giường với người đẹp.  Nhưng đám cưới của cụ sau thì bạn hèn này đã có mặt chung vui, cùng bạn bè của cụ mà một số khá đông là các cựu học sinh các trường Chu văn An, Trần Lục, Trưng Vương và Gia Long.  Phải nói đám cưới của cụ là một đám cưới rất mực văn nghệ, mà cả cô dâu lẫn chú rể đều là những diễn viên thượng thặng.

  Đàm Trung Phán là ‘ông thầy’, hiểu theo nghiã nào cũng đúng cả.  Ông thầy, ngoài bục giảng, là một người lai láng tình cảm.  Dương Bích Nga  một nữ lưu họ ‘Dương’, thuộc một giòng họ đa tình.  Chỉ cần nhìn nguyên giòng họ phiá cô dâu tuần tự lên bục danh dự, theo giới thiệu của cặp Phạm Thu Giang- Võ Đại Thiện trong phần nghi thức, là đủ thấy giòng này ‘ tình’ như thế nào.  Không tình, không thể nào sản xuất con đàn, cháu đống đến như thế, kể cả thế hệ thứ hai, tính từ thế hệ cô dâu mà đi. Từ ông chú trưởng tộc đến cả những cháu bé nép bên những bố mẹ trẻ, vốn là những cháu ruột, cùng dâu, rể, bạn bè thấy tất cả cái gắn bó, thương yêu, hỗ trợ mà đại gia đình nhà gái dành cho cô dâu trong ngày vui đặc biệt này.  Tất cả đã từ nhiều nơi trên thế giới: từ Đức, Mỹ, và nhiều tỉnh khác của Canada đến dự.   CVA Dương Đức Lộc vừa mới cưới vợ cho con, nay lại đứng ra gả chồng cho em, thật không hổ là một danh tài.  Có lúc ta thấy chú rể vai lệch hẳn một bên, ý chừng như đã thấm sức nặng của họ nhà gái trên vai mình.  Và bên chú rể, với bà chị cả Đàm T. Đán,lưng còng xuống với thời gian, là một bô lão vẫn giàu chất thơ.  Mẹ mất sớm, chị đã vừa là chị vừa kiêm luôn vai trò bà mẹ đối với các em.  Chị đã làm một bài thơ thật cảm động tặng cô dâu, chú rể.  Bài thơ Tơ Duyên đã được GL Tôn Nữ Lệ Ba diễn cảm. GL Lệ Ba nghề tay mặt là chữa răng, nhưng nổi tiếng với nghề tay trái là những sinh hoạt văn học, nghệ thuật.  Lệ Ba trên sân khấu đã có lần đóng vai Chú Cuội ( Phán đóng vai Bố Chú Cuội), lần này đã trả hiếu cho Bố Cuội thật xứng đáng qua giọng ngâm nhuần nhuyễn của mình.  Dòng họ Đàm vốn là một dòng nổi tiếng có truyền thống văn chương, khoa cử ở ngoài Bắc.  Anh ruột Phán- tiến sĩ ngữ học Đàm Trung Pháp, hiện dạy tại một trường đại học ở Dallas,Texas, là một cựu học sinh Trần Lục, và Chu văn An, đã cho quan khách biết tình anh em thân thiết giữa anh và Phán những ngày còn thơ ấu, liên tục cho đến khi đã trưởng thành. Anh đã rưng rưng, xúc động khi thấy là cuối cùng Phán đã tìm được điểm tựa an toàn cho tâm hồn, sau nhiều tháng năm vật vã, phiền muộn , trong cô đơn.  Anh biết rõ em mình chẳng phải là con ngựa chứng, thích gặm cỏ đồng hoang.  Đó là một chú ngựa, cẳng đôi lúc có cuồng, nhưng là một chú ngựa thuần,  rất cần đến sự vỗ về, an ủi của một nữ kỵ sĩ cảm nhận được ngay đến những nhịp rung rất nhỏ trên bờm ngựa.  Chú ngựa Phán đã gặp một nữ kỵ sĩ có tài.

 Ngay cạnh cô dâu tươi rói là con gái và con rể của cô dâu. Con gái của cô dâu đã rưng rưng chúc mẹ và bác Phán hạnh phúc lứa đôi bền vững, và thật mừng là từ nay mẹ đã có người bạn đồng hành sớm khuya chăm nom, săn sóc.  Sau lưng chú rể là hai con trai, đều đã trưởng thành, đều vui vẻ chứng kiến cuộc hôn nhân đã đem lại hạnh phúc cho bố. 

 Là bạn học cũ của Phán, lại có nhiều dịp gặp gỡ, trao đổi đủ thứ chuyện trên đời với nhau, tôi có đôi phần ngỡ ngàng khi đến dự đám cưới của một người bạn mà đối với nhiều người Việt còn nếp nghĩ, và nếp sống xa xưa, thì đó là một cuộc hôn nhân mà hình thức tổ chức còn theo truyền thống, nhưng tinh thần là tinh thần mới,  với những kích thước mới đối với cuộc sống tâm tình và thực tế của cuộc nhân sinh trong môi trường Bắc Mỹ sôi động này. 

 GL Phạm Thu Giang và  CVA Võ Đại Thiện đã được cả cô dâu lẫn chú rể nhiều lần bày tỏ lòng biết ơn nhiệt thành.  Theo lời tâm tình của cô-dâu-không-còn-thơ-dại Dương Bích Nga thì một số bạn quen cũng như thân nhân đã từng khuyên cô là ‘‘ chớ dại mà rước của nợ về hầu; ở một mình cho khoẻ!’’, nhưng nhờ có bà mối Thu Giang mạnh dạn đứng ra bảo lãnh là chú rể có tài giặt giũ, quét nhà, và nếu được cho ăn no, ngủ khoẻ thì chú rể dứt khoát không có màn lạng quạng  đi hoang giữa xa-lộ-lứa-tuổi-thứ-ba, không đèn, tương lai mù mịt.  Được lời như cởi tấm lòng: Gì thì khó, chứ cho ăn no ( và còn cho hơn thế: ăn ngon) và ngủ ngon thì đối với cô dâu chẳng phải là việc khó làm.  Và cô dâu đã phom phom gài số phóng vào xa lộ le lói ánh đèn cùng chú rể.  Chú rể cũng đã tiết lộ cho quan khách biết là chính chú đã từng đem áo quần từ ngoài vào trong của cô dâu đi giặt .Tình thật các bạn ạ ! 

 Ngoài cặp Thu Giang-Đại Thiện và các thân hữu khác, các CVA Phan Long Hải, Lê Hân, Lê Quí, Phạm Khang, Trần Minh Khải đều đã hết sức tích cực trong việc tổ chức, sắp xếp buổi tiệc cho thân tình, ấm cúng, và vui nhộn. CVA Phan Long Hải — trưởng nhóm của gia đình TV- CVA vùng Toronto– đã vất vả ngược xuôi lo toan cho đám cưới của gà nhà.  Đến giờ chót vẫn còn thấy ông trưởng nhóm tất tả, tới lui.  Dân làm quản trị thường bận bịu, vất vả như vậy!  CVA  Lê Quí đi đâu cũng có một viên ngọc thật quí, thật nặng đính kèm: đại thủ trưởng của họ Lê, tươi tắn, duyên dáng.  Bao nhiêu hòn non bộ cực kỳ giá trị và rất nặng của họ Lê này xem ra chỉ nhẹ hều so với ‘viên ngọc quí’ nọ.  CVA Phạm Khang, một nhà giáo ở Toronto, cũng là một nhà nhiếp ảnh tài tử, là một người rất hoạt động trong các sinh hoạt của nhóm.  Phạm Khang cũng là sáng lập viên của nhóm e-cirlces TV-CVA , là nơi giao lưu, trao đổi các sinh hoạt, hình ảnh, cũng như những chuyện bù khú của một số các cựu TV-CVA  cùng các thân hữu khác.  CVA  Lê Hân đằm thắm, nhẹ nhàng, vẫn là một người hỗ trợ tích cực cho những hoạt động của các đồng môn.

 Đám cưới Nga-Phán, ngoài phần nghi thức, còn là một tối văn nghệ qui tụ các bạn quen và thân hữu của cô dâu, chú rể, phần lớn là cựu học sinh các trường Gia Long, Trưng Vương, Chu văn An, Trần Lục, và của một số các trường trung học khác ở Sàigòn xưa. Ta thấy sự hiện diện của các anh chị Vũ văn Dũng, Bình Minh- Hoàng mộng Giới, anh chị Nguyễn đức Hiến, anh chị Võ Châu- Lệ Ba , chị Mỹ Hương , chị Phương Lan , anh chi Nguyễn thế Lạc , anh Võ thành Nhẫn v.v.  . Vì còn nhiều anh chị em khác nữa nếu kể hết ra thì chắc cũng chiếm nhiều chỗ lắm …nên xin tạm ngưng tại đây vậy ! 

   Tiệc cưới là một đêm văn nghệ sôi động. 

MC của buổi văn nghệ là CVA Trần minh Khải, một đạo diễn vừa có tài điều khiển, vừa có tài đối đáp, đã góp một phần quan trọng vào sự thành công của buổi tiệc.  Khải  thật xuất sắc trong bài Riêng Một Góc Trời của Ngô thụy Miên , hát cho người, mà là hát cho chính mình.  Hãy theo dõi một đoạn đối thoại giữa Hoàng-Lan  và MC Khải khi Hoàng lan  giới thiệu anh :  

-HL: Đám cưới mà anh hát bài gì chia rẽ , và cô-đơn vậy anh ?  

-MK (Phân trần) : Tại sao cứ nghĩ Riêng Một Góc Trời là chia cách, là cô-đơn ? Trong một góc trời  cũng có thể có hai người yêu nhau chớ sao ! Hơn nữa cuộc sống nhiều  lo-lắng quá, nhiều  muộn phiền quá , ai cũng nên có một góc trời riêng biệt để ẩn  vào đó cho tâm-hồn mình yên tĩnh. 

 Ban hợp ca Gia Long qui tụ một số cựu nữ sinh trường áo tím Gia Long, có người nay đã là nội, ngoại,  nhưng giọng ca còn mùi rệu, và luyến láy thật nhịp nhàng qua bài Tiếng Hát Với Cung Đàn của Văn-Phụng . Điều đáng nói là Ban hợp ca nhiều bè này hát thật hay , thật  duyên dáng chắc có lẽ còn duyên dáng hơn lúc còn ở trường Gia-Long nhiều ! Cám ơn các đóa hoa tươi thắm : Lệ-Ba, Phương Dung, Phương-Lan, Bích Nga , Mỹ Hương, Phương  , Uyên , Phương Anh , Kiều Miên….đã khởi đầu một không khí sống động cho đêm văn-nghệ  . Bé Hoàng, con của anh chị Nguyễn Thế Lạc- một tu bíp chuyên làm đẹp cho những người đẹp ở vùng Toronto-, trong bài Hạ Trắng quen thuộc của cháu, đã thổi mềm lòng người, chẳng khác chi  ông bố đa tài của cháu vậy  . Hãy nghe lời giới thiệu của MC Khải cho màn này :” Xin giới thiệu đến quý vị một màu nắng rực rỡ của tình yêu và tràn ngập hy-vọng ; cũng là một lời cam-kết dịu dàng nhưng long-trọng của những kẻ yêu nhau : Áo xưa dù nhàu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau…”.  Màn nhạc cảnh kế tiếp  dựa theo bản nhạc Cô Hàng Nước của Vũ Huyến  do một số anh chị em TV-CVA-GL  diễn xuất cũng đã góp cho bầu không khí buổi tiệc thêm vui, nhộn.  Cặp TV Bích Diệp- CVA Phạm Khang vẫn rất ăn ý trong vai vợ chồng quê.  CVA Lâm thanh Liêm đóng vai chàng thư-sinh đi hỏi vợ rõ ra là một thanh niên nhà quê đang muốn vợ lắm, nhưng với cô hàng nước xinh xắn (GL Bích Thủy) thì  job và money  mới thực sự quan trọng, ông Phú hộ có máu hào hoa phong nhã là tình địch của chàng thư-sinh nghèo do dâu CVA Hải-Đường đóng rất xuấ’t sắc , nhận được lời khen của nhiều người (rất có khiếu về dê) , TV-Đoan-Anh lúc nào cũng đanh đá bên cạnh các vai nhiều động tác :  mẹ thư-sinh đã làm cho hoạt cảnh thêm phần màu sắc. Một vai rất phụ nhưng lại được chú ý nhiều là tiểu-đồng của ông Phú-Hộ do rể TV  Hoàng thanh Thảo thủ diễn . Cũng nên biết rằng màn Cô Hàng Nước là một màn đặc thù của đám cưới Phán Nga do CVA Trần minh Khải và các bạn-hữu của cô dâu chú rể biên-soạn . Kế đó GL Lệ-Ba đã ngâm tặng cô dâu chú rể một bài thơ do chính chị chú rể ( đã thất tuần) làm tặng cho em trai mình. Bài thơ ( Tơ Duyên ) thật cảm động nói lên tâm tình của người chị trước ngày vui của đứa em trai mà chị đã chăm sóc như một người mẹ lúc còn nhỏ (vì mẹ mất sớm) .  MC Khải đã cầm chân cô dâu và chú rể trên sân-khấu để phỏng vấn vài câu . Mọi người rất thích thú trước lối trả lời dí dỏm và thành thật của cả hai người. Thí dụ khi được hỏi đức tính nào của cô dâu mà chú rể thích nhất thì Đàm Trung Phán đã không ngần ngại tuyên bố là : “Nấu ăn ! Bà này nấu ăn ngon lắm mà tôi thì lại thích ăn ngon “. Còn cô dâu thì nói : “Tôi thích nhất là ông ta đi giặt đồ và rửa bát dùm tôi !”. Thế mới biết các cụ mình hay thật. Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn !  Màn tiếp theo là một tiếng hát thân-hữu mới toanh,  nhưng điêu luyện không kém nhà nhà nghề , sau bao năm làm việc từ bên Mỹ mới về Toronto : Tina với bài Ngày Tân Hôn , lời dịch Phạm Duy. Bài hát thật hợp với khung cảnh đám cưới, “Cùng bên nhau suốt đời, cùng chia sớt nỗi vui hay nỗi sầu.. ” đã thu hút sự chú ý đặc biệt của mọi người , cộng thêm  với nhân dáng thanh mảnh của cô  .  CVA  Hà Huy Hùng ( H3 ) trong một đêm vui, đầy hứng khởi, dẫu chưa nạp bia như ở Tokyo dạo nào, đã trổ giọng thật khoẻ, thật đằm, và cũng thật truyền cảm trong bản Unchained Melody (mà chú rể Đàm trung Phán dịch ra tiếng Việt là “Tình khúc không dây xích”) , như muốn gởi gắm đến cô dâu chú rể là hai người dẫu đã cột nhau bằng hôn ước, nhưng vui thú thì tha hồ, thong thả, thoải mái như không hề bị ràng buộc  ( unchained ) . Giọng ca này đi biểu diễn  như Tây thì không thiếu gì ‘fan’ : vừa nhìn thấy mặt là đã nức nở, và nếu sờ được một cái thì có nhiều phần là toàn thân run rẩy! CVA Trần Xuân Việt bình luận sau khi nghe H3 hát bài này là muốn bứt xiềng xích hiện có để được tự do yêu đương (sic) ! May mà khi anh nói câu này thì bà xã không có mặt ở đó . Cặp Tuấn, Tuyết (Gia-Long) trong Mấy Nhịp Cầu Tre đã đem đến cho quan khách dự tiệc những phút giây sảng khoái qua lối trình bày sống động bản nhạc mang âm hưởng dân ca “Dù cho sông cạn đá mòn, Cầu tre mấy nhịp mãi còn trong nhau”. Thu Lan, sang cả, trong Bên Kia Sông của Nguyễn Đức Quang. Bài tiếp theo là một bản nhạc trữ tình của Vũ Đức Tuấn : KHI.. qua một giọng nam nổi tiếng của gia-đình Gia-Long : Lê Vũ với tiếng đệm Piano của Phạm xuân Khôi (con nhạc sĩ Xuân Tiên)  . Nghe anh hát người nghe có cảm tưởng đang đứng trước một ca sĩ Opera chuyên-nghiệp với giọng hát cao vút nhẹ nhàng.    

  Hoàng Lan là một giọng ca vàng.  Cô không hát chuyên nghiệp, nhưng ở vùng Toronto và phụ cận, hầu như mọi người đều nghe tiếng cô. Nụ cười duyên dáng, tiếng hát trầm ấm trữ tình điêu luyện, Hoàng Lan đã ru hồn người vào mùa Thu mờ ảo hư hư thực thực : “Không Còn Mùa Thu” . Những đoạn đối-thoại dí dỏm sau bài hát giữa MC Khải và ca-sĩ đã gây những tràng cười ý nhị cho khán giả. Chẳng hạn sau khi Hoàng Lan hát xong bài Không Còn Mùa Thu : 

MC : Bài này thật đúng với tên là  Không Còn Mùa Thu , HL có biết tại sao không ? 

HL  : Dạ thưa : Không !  

MC : Vì biết bài hát nói về Mùa thu nên anh ngồi chờ nhặt vài  chiếc lá rơi để dành làm bằng chứng nói “yêu ai” , nhưng từ đầu bài hát đến cuối bài hát không có chiếc lá nào rơi hết . 

HL : Không có lá vàng thì anh thế vào bằng vài chiếc vàng lá cũng được . Bằng chứng này mạnh hơn nhiều !. 

MC : Ừ nhỉ ! Để rồi lâu lâu cô ấy sẽ nói : ‘Sao em thấy nhớ bằng chứng của anh nhiều hơn là nhớ anh !’ … thì chắc là anh phải lo cày thêm dữ  lắm !.      

Nghe Hoàng Lan và Hà Huy Hùng song ca trong bài Trái Tim Không Ngủ Yên , ta thấy con tim thổn thức, nhẩy múa, và các bô lão trên dưới sáu bó vẫn còn có thể tiếp tục ra sân chơi vui vẻ.  Hoàng Lan có rất nhiều ‘fan’ mến mộ tài, sắc, và nhiều người trong nhóm bạn E-circles của một số anh chị em cựu TV-CVA vùng Toronto đã có đề nghị lập một Club-Ái-Mộ-Hoàng-Lan.  

 Tiếng kèn Saxo trở lại với bài Bao Giờ Biết Tương Tư , lần này là tiếng kèn của bố bé Hoàng: anh Nguyễn thế Lạc, và tiếng kèn nức nở hơn, ngây ngất hơn . Chắc chỉ có người đã  biết tương tư mới diễn tả  được như thế ? !

 Cái cười là cái đặc biệt của người Việt Nam,  cụ Nguyễn văn Vĩnh đã nói là gì cũng cười, nên không lấy làm ngạc nhiên khi thấy anh Tuấn trở lại sân-khấu với  màn hài hước . Anh đọc hai lá thư của hai người khác nhau gửi lên tờ báo địa phương để nhờ gỡ rối tơ lòng . Từng tràng cười thoải mái theo sau câu nói đã đem đến cho không khí một nét sống động tươi trẻ như là ngày Tết. 

Trong lúc dìu nhau đến từng bàn ngỏ lời cảm ơn, và nghe những lời chúc mừng, có bàn đã mau mắn  ‘‘ chúc cô dâu, chú rể đầu năm tới có cháu nội, cuối năm có cháu ngoại ! ‘’  

 Đặc biệt trong một bàn tiệc có sự hiện diện của những thành viên tích cực của nhóm E-circles TV-CVA , như TV Quỳnh Hoa, TV Đoan Anh, rể TV Hoàng Thanh Thảo ( Cao Thủ) , CVA Trâ`n xuân Việt, CVA  Phạm văn Khang và  tiếng mọi người rộn ràng như chim hót.  Đoan Anh không hổ danh là một hoạt náo viên cực kỳ lợi hại, hệt như Hải Đường, hiện diện ở đâu là pháo nổ đì đùng ở đó ( lúc này chưa có màn ăn uống, và thức ăn chưa xuống tới ruột ! Bà ‘chủ tịch huyện’ của người thơ Xuân Việt ngồi giữa người thơ và một nữ lưu yêu thơ; nếu không, rất có thể người thơ đa tình, tuy có vẻ hiền lành, và nhát tay này, cũng dám táy máy như nhà thơ Thu Bồn đối với nhà thơ Thu Ba nào đó ở VN , trong một giai thoại  ‘‘Thu Ba ngồi cạnh Thu Bồn, Thu Bồn táy máy…’’ vậy! 

 Màn cuối cùng của chương-trình văn nghệ dài 2 tiếng rưỡi đồng hồ là một màn nhạc cảnh Trăng Sáng Vườn Chè do Phạm hoàng Lan và Phạm trọng Thuận trình diễn .  Hãy nghe MC Khải : ‘ Người phụ Nữ VN ngày xưa ,  ngay từ lúc bé đã được đào tạo để quán xuyến gia-đình sau này . Lúc còn ở nhà với cha mẹ thì phụ giúp mẹ  đi chợ nấu bếp ,  trông em và làm tất cả những việc vặt  trong nhà. Ngay đến khi lấy chồng  cũng chịu đựng và phục vụ chồng . Đôi khi còn phải nuôi cả cho chồng ăn đi học nữa . 

  Vì tầm tôi phải chạy dâu 

  Vì chồng tôi phải qua cầu đắng cay … 

 Và còn chứng tỏ rằng là một người rất sành tâm-lý : 

  Anh chưa thi đỗ thì chưa động phòng . 

 May mà anh thi đỗ , nếu gặp phải anh chồng học dở thi đâu rớt đó, mà nàng cứ nhất định giữ lời không cho  động phòng  thì  biết giải quyết làm sao đây cho chàng và nàng ? 

          Đã nghe Hoàng Lan hát , nhưng phải nhìn Hoàng-Lan diễn nhạc cảnh này mới thấy tất cả cái duyên-dáng của người phụ-nữ VN xưa kia trong bô áo tứ thân, nhẹ nhàng , đằm thắm , dịu-dàng nhưng rất quán xuyến. Bên cạnh đó , TV Phạm ngọc Thuận với thiên khiếu về vũ đã đưa khán giả đến những giây phút nín thở để theo dõi màn nhạc cảnh nàỵ . 

 Nhiều quan-khách và thân-hữu đến từ nhiều nơi trên thế-giới đã không ngớt khen ngợi về chương trình văn nghệ cây nhà lá vườn Toronto này. Có người còn nói là nếu họ bỏ tiền ra mua vé coi show văn nghệ thì chương trình cũng không hơn được cái Đêm Văn Nghệ Tiệc Cưới này.

 Chương trình cũng còn chưa hết vì sau đó là văn-nghệ khiêu vũ với nhạc sống . Whow ! Sau mấy tiếng đồng hồ ăn uống, ngồi coi văn nghệ , bây giờ là lúc exercise cho tiêu cơm ! Tất cả mọi người đều ra sàn nhảy. Chị Kim-Thanh mở đầu với một bản slow mùi,…rất mùi : Only You  !!!!

Chú rể , cô dâu ôm nhau tha thiết ….và đêm  tiếp tục dài trong tiếng đàn hát hạnh phúc của đôi lứa yêu nhau …..Cám ơn Hải-Đường đã lo cho phần văn-nghệ dạ vũ này !  

Tiệc cưới chấm dứt vào lúc 1:00 AM nhưng đối với một số người đêm chỉ mới là bắt đầu (trong đó có MC Khải say mê tiếng hát mà anh yêu thích : Đêm xanh tiếng hát  thiên-đường , đời ta sương khói vô-thường yêu em !

“Anh đang quỳ gối bên giường,

Em ơi, hạnh phúc, thiên đường là đây!”

Cám ơn Anh Phán-Chị Nga đã cưới nhau !

Lâu lâu cũng nên cưới nhau một lần cho bạn bè vui chung !  

MÙA THU LÁ RỤNG

Đàm Trung Phán

Kể từ hồi vào Thu năm nay (2008), đợi mãi mới có một ngày của mùa Thu theo “tiêu chuẩn” của người viết. Sáng dậy, nhìn ra ngoài đường thấy trời vần vũ và lá bay ngập trời. Mở cửa cho không khí lạnh thổi vào, tôi hít lấy hít để cái chất lành lạnh của cơn gió mùa Thu.

       Vội thay quần áo và lái xe ra một thư viện công cộng ở gần nhà. Tuy biết thư viện chưa mở cửa, nhưng không sao, tôi đi bộ ra một hiệu McDonald gần đó, uống một ly cà phê và ăn một cái bánh ngọt cho đỡ đói bụng. Ăn cho lẹ để còn có nhiều thì giờ đi quanh những con phố với lá vàng, lá đỏ rơi đầy đường. Đây là những giây phút thần tiên nhất của đời tôi: không còn bị quấy rầy bởi những “dead line” (làm việc cho xong đúng lúc), không còn phải bị thôi thúc của cái thời “nợ nần đời cơm áo” nữa. Ngày xưa khi còn phải đi dạy, tôi chỉ nhìn và cảm nhận được mùa Thu nó đẹp. Bây giờ, trong đời về hưu và trong những lúc như thế này, khi đang ngăn chặn được những lo buồn vẩn vơ, tôi có cơ hội được “nhìn” bằng mắt và “thấy” được cảnh vật và cảm xúc bằng tâm hồn bình an trong những giây phút đó.

       Sau khi đã thấy “no bụng” với những giây phút an tĩnh, tôi vào trong thư viện, ngồi trong chiếc ghế bành bọc da, nhìn qua cửa kính để thấy lá vàng, lá đỏ bay, và bắt đầu ghi lại những dòng tình cảm mà mình đang thu nhận được. Phải ghi chép ngay vì khi về đến nhà, giữa tiếng điện thoại reo, tiếng cháu gọi “ooong” ơi ới, tôi sẽ quên hết vì cái “memory” (phần nhớ) của tôi đã bị “delete” (bị xóa) mất tiêu rồi.

       Lúc đang đi bộ dưới trời Thu âm u với lá vàng rơi, nhớ lại buổi họp mặt ngày hôm qua với các giáo sư đồng sự đã về hưu và một ông còn đang đi làm. Như thường lệ, mỗi năm chúng tôi hẹn đi ăn với nhau 2, 3 lần gì đó.

       Ông MG, giáo sư còn đang đi dạy, thường email cho tôi biết ngày giờ và địa điểm của buổi họp mặt. Ông ta là người đề xướng vì các giáo sư tại nhiệm mới biết họ rảnh rang vào thời điểm nào. Sau khi đã thỏa thuận, tôi gọi điện thoại cho các đồng sự đã về hưu TSR, RC, FR. Tôi thích gọi điện thoại cho họ hơn là gửi email. Gọi điện thoại để có dịp hỏi thăm nhau về sức khỏe, gia đình và để biết họ có cơ hội đi du lịch ở đâu. Nhất là để tôi thuyết phục họ đi gặp bạn bè vì người viết có linh tính có nhiều thứ bất ổn cho nhừng ai đã về hưu như chúng tôi.

       Chúng tôi đến thẳng nhà hàng “The Horizons”, ngay tại cư xá (Centennial Residence) của nhà trường. Đối với các nhà giáo chúng tôi, cư xá này đã mang lại cho chúng tôi rất nhiều kỷ niệm đẹp. Cuối thập niên 70, sau khi phân khoa Kỹ Thuật chúng tôi dọn sang một “campus” (trường sở) mới toanh với khuôn viên rất hữu tình và phòng ốc vừa đẹp vừa hiện đại, nhưng chúng tôi lại không có nhiều sinh viên như đã dự trù. Lý do chính là vì sinh viên từ các thành phố ở xa khó có chỗ để trọ học tại Toronto. Nhà trường và các giáo sư đã có nhiều buổi họp “brain storming” (moi óc) để kiếm thêm ngân quỹ và xây ký túc xá này. Chúng tôi cứ phải chờ và đợi, trong khi phải đối phó với nạn “khan hiếm sinh viên” đưa tới nạn thiếu ngân quỹ nhà trường.

       Thiên niên kỷ mới đã mang lại cho nhà trường một tin vui bất ngờ: người chủ khách sạn “Howard Johnson” ngay bên cạnh “campus” của chúng tôi đã thỏa thuận bán lại cho nhà trường với giá rất phải chăng. “Bất chiến tự nhiên thành”, khách sạn này có đủ phòng ốc và chỗ đậu xe cho sinh viên nội trú. Đặc biệt nhất là nhà hàng “The Horizons” (tên do trường chúng tôi đặt ra) là nơi do chương trình “Tourism & Hospitality Department” (Du lịch và Quản Trị Nhà hàng) quản trị.

       Các sinh viên trong ngành này thực tập nấu ăn và tiếp khách giống hệt như trong các hiệu ăn lớn vậy. Những năm còn đi dạy, tôi đã từng được thưởng thức nhiều món ăn tuyệt vời, lồng khung trong không khí ấm cúng của một khách sạn.

Tôi lái xe gần một tiếng đồng hồ từ phía Tây của thành phố Toronto, đi xa lộ băng qua Toronto để tới nhà hàng “The Horizons” nằm ở vùng Ðông Bắc của thành phố Toronto. Vì về hưu mới 6 năm nên tôi còn nhớ rõ đường đi. Tuy nhiên khi tới cư xá Centennial Residence, tôi phải lái xe vòng quanh mới tìm ra chỗ đậu xe của thực khách. Lúc rẽ vào cư xá, nhớ lại hồi Nghiệp Ðoàn Giáo Chức chúng tôi đình công để phản đối việc chính phủ cắt giảm ngân sách trong việc giảng dạy của chúng tôi vào năm 1989. Khi các giáo chức chúng tôi đình công, một vài bạn bè Việt Nam của tôi đã nhíu lông mày: “Giáo chức mà đình công sao?” Ðối với người Tây phương, đình công là một quyền lợi của công dân! Tôi chỉ biết nhoẻn miệng cười và nghĩ bụng: “Tớ đình công để ủng hộ cho nền giáo dục và các sinh viên thì tớ mất lương nhưng không phải là tớ bất lương đâu!”

       Chúng tôi đình công vào tháng 11 năm 1989. Trời rất lạnh nên phải đốt củi trong các thùng “tô nô” để sưởi ấm cho đỡ lạnh cóng. Khi nào quá lạnh và khát nước, dân “nhà – giáo – đình – công – vô – lương – lậu” chúng tôi chui vào khách sạn Howard Johnson để ăn bánh, uống cà phê và theo dõi tình hình thương lượng giữa Nghiệp Ðoàn và Chính Phủ. Phần lớn những “thành phần nòng cốt” (hard core teacher strikers) trong vụ đình công này nay đã về hưu và một số cũng đã “về hưu với cõi trần gian” này rồi. Chúng tôi đã bị chính phủ bắt buộc phải trở lại với lớp học (nếu không, chúng tôi sẽ bị phạt $5,000 một ngày) nhưng cũng nhờ vụ đình công này mà bây giờ Chính Phủ Tỉnh Bang Ontario mới có một qui ước rõ rệt về giờ giấc giảng dạy cũng như các chương trình giảng dạy (curriculum) của từng bộ môn và các chương trình học (programs, course outlines), không được cắt giảm tùy theo cái hứng bất tử của các chính trị gia “bất cần đời”! Cũng nhờ những đóng góp vô vị lợi của các “hard core teacher strikers” mà bây giờ 25 trường Cao đẳng của tỉnh bang Ontario đang vững mạnh và có tầm vóc quốc tế với nhiều sinh viên ngoại quốc đến học, mang lại lợi nhuận đáng kể cho ngân quỹ nhà trường.

       Giờ đây trong phòng ăn, nhìn qua cửa kính thấy khuôn viên của “campus”, tôi liên tưởng tới những vui buồn trong nghề đi dạy. Cảm động nhất khi nghĩ đến những cha mẹ của học trò đã từng đến gặp hay gọi điện thoại cho tôi để thăm dò việc học của con cái họ. Một bà thư ký già trong trường đã tới văn phòng và tâm sự với tôi: “Con trai tôi đã 22 tuổi, nó thường đêm thức, ngày ngủ và chẳng chịu học hành gì cả. Tôi xin ông cho nó vào học ngành của ông và nhờ ông ‘mài’ nó dùm tôi!”

       Anh chàng đã học với chúng tôi được một năm rồi tự ý bỏ học. Ít lâu sau, bà mẹ này tươi cười đến báo tin cho tôi: “Con tôi sau khi nó thôi học với các ông, nó đã kiếm được một việc làm và bây giờ nó có bạn gái, nó đã yên bề gia thất rồi”. Tôi mỉm cười vu vơ: “Hóa ra cha mẹ và nhà trường đã không hữu hiệu bằng tình yêu trong việc dậy dỗ!”

 Nhớ lại những khuôn mặt của các giáo sư đồng sự trong bữa ăn thân hữu hôm qua, tôi nghĩ ngay tới anh chàng sinh viên MG ngày xưa của chúng tôi để rồi tới năm 2003 đã trở thành người giáo sư kế vị của tôi sau khi tôi về hưu vào năm 2002.

       Trước khi trở về College để đi học lại, MG đã từng là một Manager trong ngành Ðiện Toán. Chán cảnh lo bị thất nghiệp, MG đã gặp tôi tại nhà trường để hỏi rất nhiều câu hỏi liên quan tới ngành Công chánh tại nhà trường và công ăn việc làm sau khi sinh viên đã ra trường. Cuối thập niên 80, MG đã ghi danh với Department của chúng tôi. Vì là một “mature student” (sinh viên già) và rất ham hoạt động, MG đã trở thành Chủ tịch của Câu Lạc Bộ Sinh viên Công chánh. Không những vậy, năm sau sinh viên MG đã lãnh Giải Thưởng Công chánh của Ban Giảng Huấn chúng tôi, dựa theo tiêu chuẩn điểm số cao nhất của những môn Công Chánh. Tuy lúc đầu, khi sinh viên MG mới gia nhập phân khoa Khoa học và Kỹ thuật của chúng tôi, tôi hay bị “vất vả” với anh chàng Chủ tịch sinh viên này vì anh chàng đòi hỏi quyền lợi rất nhiều cho sinh viên, không những cho Department Công chánh của chúng tôi mà còn cho sinh viên trong các Department khác nữa. Ông Khoa trưởng đã giao trách nhiệm cho tôi (lúc đó tôi đang làm Giáo Sư Trưởng Phòng của ngành Công chánh) phải làm sao cho anh chàng này “hài lòng”. Sau nhiều lần nói chuyện với nhau, anh chàng đâm ra thân thiện với tôi và đã giúp ngành Công chánh chúng tôi rất nhiều trong việc thu nhận (recruitment) sinh viên và cải tổ phòng ốc, cũng như cải tổ chương trình Công chánh.

       Sau khi MG đã ra trường, anh chàng hỏi ý kiến tôi về vấn đề học lên tiếp và chính tôi đã thảo lá thư xin cho MG tiếp tục học Công chánh tại một Đại học khác. Chúng tôi vẫn tiếp tục trao đổi tin tức với nhau. Tới năm 1994, khi Department Công chánh của chúng tôi bị College đòi đóng cửa, MG cũng như nhiều sinh viên đã tốt nghiệp của chúng tôi còn đứng ra bênh vực cho sự sống còn của ngành Công chánh nữa.

       Cuối cùng Department Công chánh của chúng tôi cũng bị đóng cửa vào năm 1996 sau khi nhà trường đã cho phép giáo sư TRS chính thức về hưu. Mấy giáo sư khác bị mất việc và bắt buộc phải về hưu non. Riêng giáo sư RC và tôi còn được giữ lại để dạy những môn liên quan tới Công chánh trong ngành Bảo Vệ Môi sinh. Ngành Bảo Vệ Môi Sinh đã do tôi và hai Giáo Sư Trưởng Phòng của ngành Hóa học và ngành Sinh Vật Học soạn thảo và được nhà trường cũng như Bộ Đại Học và Cao đẳng chấp thuận cho ra đời vào cuối thập niên 80.

       Giáo sư RC chỉ dạy thêm một năm nữa rồi ông về hưu non. Tất cả các đồng sự Công chánh của chúng tôi đã bỏ đi hết, tôi cảm thấy lạc lõng vô cùng vì Department Công Chánh của chúng tôi đã thực sự bị đóng cửa và các đồng sự đã bó buộc phải về hưu hết sau gần 30 năm làm việc với nhau. Tuy nhiên, tôi vẫn giữ liên lạc đều đặn với các cựu sinh viên của trường Công chánh cũng như các hội viên của Hội Ái hữu Sinh viên Việt Nam của College để trám đi những khoảng thời giờ rảnh rỗi nghĩ ngợi viển vông.     

Những lần trở về Toronto thăm gia đình, MG đều đến thăm tôi để nhớ lại những lần chúng tôi đã cùng nhau hăng say làm việc. Sau khi MG ra trường và đi làm, chúng tôi vẫn liên lạc với nhau qua email. Trong thời buổi này tôi tính chuyện về hưu non. Tôi có ý định “thảo kế hoạch” tìm cách làm thế nào để MG “thế chân” cho tôi trong ngành Bảo Vệ Môi Sinh. Ông ta sẽ giảng dạy những môn liên quan tới ngành Công chánh (thử đất đá, lọc nước uống/ nước phế thải, giải quyết vấn đề rác rưởi, bảo trì hệ thống cống rãnh; ô nhiễm trong nước, trong không khí và trong đất đai…) Tôi nêu ý kiến này với các đồng sự đã về hưu và tất cả 3 ông TSR, RC, FR đều tán thành và góp thêm ý kiến để tìm cách “bưng” MG vào thế chân tôi trong Department Bảo Vệ Môi sinh.

Năm 2000, sau khi báo tin về hưu non với ông Khoa Trưởng và Phụ Tá Khoa Trưởng, cả hai người này đều không muốn tôi về hưu ngay, lý do chính là tôi là vị giáo sư duy nhất trong ngành Bảo Vệ Môi sinh còn am tường về những môn học liên quan tới ngành Công chánh. Vì đã có “kế hoạch” trong đầu, tôi đề nghị với họ nên thuê kỹ sư MG để dạy bán thời gian (Part time Professor) những môn tôi đang giảng dạy để mà tôi có thì giờ “gò” cho ‘ông giáo lính mới tò te’ này rồi sau khi tôi về hưu, ông MG sẽ là một trong những “candidate” cho chức vụ Giáo Sư Thực Thụ của tôi. Tôi hứa với hai ông này rằng cả ba ông TRS, RC, FR, và nhất là tôi sẽ luôn luôn đóng vai “quân sư quạt mo” cho MG để giúp cho Phân Khoa Kỹ thuật chúng tôi không bị “đứt đoạn” trong phần kỹ thuật liên quan tới những môn học Công Chánh trong chương trình Bảo Vệ Môi Sinh. Ông Khoa Trưởng và Phụ Tá Khoa Trưởng đã chấp thuận lời đề nghị của tôi và kết quả là ông MG đã được bổ nhiệm để cùng dạy với tôi trong 2 năm (2000 – 2002) với chức vụ của một Giáo Sư Bán Thời Gian (Part-time Professor. Các Giáo sư Bán Thời gian thường được tuyển chọn dễ dàng hơn vì họ chỉ dạy theo từng “semester” mà thôi và số giờ dậy không nhiều).

Đầu năm 2002, khi tôi nộp đơn về hưu non, ông Phụ Tá Khoa trưởng nói với tôi:

  • Ông Khoa trưởng và tôi cũng muốn ông MG thay thế ông trong việc giảng dạy vì trong 2 năm vừa qua, sinh viên rất có cảm tình với ông ấy. Sau khi ông đã về hưu, chúng tôi vẫn muốn có một Kỹ Sư Công Chánh như ông MG. Cái khó của chúng tôi là theo qui chế “Employment Equity” (bình đẳng trong nghề nghiệp, ưu tiên dành cho các phụ nữ da mầu và người khuyết tật), ông MG là một người đàn ông da trắng, ông ấy sẽ bị rất lép vế trong vấn đề được tuyển lựa. Chúng tôi phải nhờ ông giúp nhà trường bằng cách ông cũng sẽ là một thành viên trong Ban Tuyển Lựa Giáo Sư sau khi ông đã về hưu. Chúng tôi rất mong ông giúp chúng tôi soạn thảo những chi tiết quan trọng trong chức vụ Giáo Sư Thực Thụ của ông. Chúng tôi  phải có những văn kiện hết sức hợp lý, hợp tình để tránh những rắc rối về luật pháp sau này, mặc dù ông MG cũng như các ứng viên khác (candidates) sẽ được chấm điểm rất công minh bởi Ủy Ban Tuyển Chọn Giáo Sư. Tôi xin nhắc ông rằng Ủy Ban Tuyển Chọn này gồm có 12 thành viên, trong đó có 2 Ðại Diện Sinh Viên cùng với các nhân viên nhà trường trong Nghiệp Ðoàn Phụ Giảng (Support Staff), Nghiệp Ðoàn Giáo Sư (Academic Staff), và Nghiệp Ðoàn Hành Chính (Administration Staff).”

       Sau mấy tháng soạn thảo và bàn định, mùa hè năm 2002, Phân Khoa chúng tôi đã đăng báo việc tuyển lựa giáo sư và vào cuối tháng 10 năm 2002, ông MG đã may mắn “trúng tuyển” sau kỳ tuyển lựa gắt gao (Có nhiều ứng viên rất sáng giá. Các ứng viên đã phải tự soạn bài ở nhà và đứng giảng dạy ngay trong lớp học trước mặt 12 thành viên Giám khảo của chúng tôi). Riêng phần chúng tôi – ba vị giáo sư già đã về hưu, lứa “đàn anh” của tôi và cá nhân tôi, chúng tôi đã ăn khao để mừng cho vị “tân giáo sư” đã trên 50 tuổi: giáo sư MG.

       Giáo sư MG đã móc nối nhà trường với các công-tư sở trong công, kỹ nghệ rất tài tình và nhờ vậy mà “linh hồn Công Chánh” trong bộ môn Bảo Vệ Môi Sinh vẫn sống còn vững mạnh. Ðây là nguyện ước của 4 vị Giáo Sư Công Chánh đã về hưu sau nhiều năm tận tụy với nghề đi dậy và nghiệp dĩ Kỹ Sư! Các giáo sư “già” chúng tôi ngoài việc chia xẻ kinh nghiệm dạy học với giáo sư MG, còn trao tặng lại cho giáo sư MG và nhà trường rất nhiều sách giáo khoa cũng như những tài liệu giảng dạy khác.

      Những đồng nghiệp đã về hưu, ai nấy đã lộ vẻ già nua và sức khỏe cũng đã suy sụp ít nhiều. Mỗi lần gặp nhau trong bữa ăn trưa, câu chuyện nổ như pháo tết và chúng tôi nhớ lại những môn học, những khuôn mặt học trò, và nhắc lại những đồng sự nay chẳng còn nữa. Vui buồn lẫn lộn. Chúng tôi gặp nhau trong tình bạn chân thật, lâu năm và đậm đà. Gặp nhau được ngày nào hay ngày ấy.

Lá Thu vẫn tiếp tục rớt rụng để rồi biền biệt bay đi, theo quy luật của Tạo Hóa.

“Faculty do not die, they just fade away.” như người Âu Mỹ thường nói!

Ðàm Trung Phán

Giáo Sư hồi hưu

Centennial College

Cuối Thu 2008 / viết lại ngày Feb. 5. 2021

Mississauga, Canada      

THẾ GIỚI TÂM LINH VÀ CHÚNG TA

Vũ Trung Thân

Thân gửi Anh Phán,

Đã nhận được tài liệu về thế giới tâm linh anh gởi. Tài liệu này này quý báu vì có tiếng của giáo sư Trần Văn Hà (TS Vật Lý?) tại buổi họp khoáng đại (trước Tết Đinh Hợi) lần thứ năm của Trung Tâm Nghiên Cứu Tiềm Năng Con Người, chủ tịch hiện tại là giáo sư Đào Vọng Đức. Tôi mạn phép anh Phán trích một phần để cho vào chú thích trong bài của tôi.

Điểm thứ hai là tôi muốn nhờ anh Phán đọc lại và sửa lại dùm vì thú thật tiếng Việt của tôi hơi “ba trợn” nên xin anh sửa dùm, nếu cần thiết bỏ cả trang hay cả nhiều đọan cũng được. Xin đa tạ.

Thế giới tâm linh và chúng ta.

Tìm mộ và Gọi hồn – Hiện tình ở Việt Nam)

Mới đây, do sự chỉ dẫn của bạn bè, tôi đuợc đọc một lọat bài về tâm linh và ‘gọi hồn người xưa’ của ông bạn Đàm Trung Phán, nhà văn kiêm giáo sư và kỹ sư. Văn phong giản dị và trong sáng, lối kể truyện hấp dẫn nhưng không kém phần duyên dáng.

Thọat đọc đầu đề có vẻ cổ xưa, dinh dấp một vài tính chất dị đoan, Sau đó tôi mới đóan hiểu được ý định của bạn Phán là tường thuật một cách trung thực, những điều tai nghe mắt thấy do chính bạn và hiền thê, cô BN, đã ghi nhận trong các cuộc tiếp xúx với thế giới người âm trong chuỵến về thăm quê hương Việt Nam năm 2005.

Như bạn Phán đã nói trong phần 2 (‘Gọi hồn người xưa’) chính vợ chồng chúng tôi, tôi và hiền nội M.T., đã về Hà nội, Việt Nam, sau gần 50 năm xa cách: rời Hà nội ngày 21 tháng 7 năm 1954 và lần đầu trở về Hà Nội ngày 13 tháng 11 năm 2003. Trong dịp này, lần đầu tiên trong đời chúng tôi, được tham dự một buổi ‘gọi hồn’ tổ chức tại nhà một người em, do cô M. cô đồng người gốc Hải Phòng ngồi đồng. Tin hay không là quyền của bạn đọc.

Sau lọat bài của ĐTPhán, khi viết bài này, chúng tôi chỉ xin mang cống hiến quý vị và các  bạn một bằng chứng phụ để hổ trợ cho vấn đề ‘gọi hồn’ mà bạn Phán đã nêu ra.

Vấn đề con người ta có phần sắc và phần hồn (theo trường phái duy tâm) hoặc chỉ có phần sắc vật chất, nghĩa là sau khi chết không có phần hồn chi cả (theo trường phái duy vật) cũng không được mang ra bàn cải ở đây. * Chỉ cần biết them là, trong những năm đầu của thập kỷ 80 (từ 1981 tới 1983?) một chiến dịch do đảng và nhà nước phàt động để đã phá, diệt trừ những tệ nạn mê tín dị đoan (trong đó dĩ nhiên có ‘gọi hồn’ đã được phát động trên một quy mô rộng lớn trong tòan quốc).

Chiến dịch đó có mang lại hiệu quả hay không?

Đáng ghi nhận ở đây là sau những biến chuyển ở Nga và ở các nước Xã Hội Chủ Nghĩa đầu thập niên kỷ 90 thì trong dân chúng và ngay cả trong chinh quyền  vấn đề tâm linh lại được nêu ra và được đề cập tới! Tuy không đuợc chính thức, nhưng một Trung tâm Nghiên Cứu Tiềm Năng Con Người gồm các nhà khoa học danh tiếng (Tóan và Vật Lý) do thiếu tướng TSKH Chu Phác làm chủ tịch, đã được thành lập để nghiên cứu về những vấn đề tâm linh. Trung tâm có những nghiên cứu viên và cộng tác viên là những người có ‘khả năng đặc biệt về tâm linh’. Dân chúng và báo chí gọi những người này là ‘ những nhà ngọai cảm’. Trong công tác đi tìm mộ do một Ủy Ban đặc trách các nhà ngọai cảm đã giúp đỡ rất nhiều cho việc tìm kiếm mộ liệt sĩ. Những nhà ngọai cảm nổi danh nhất hiện tại là cô Phan Thị Bích Hằng, người gốc Ninh Bình, ông NGuyễn VănLiên ở Hải dương và ông Nguyễn Văn Nhã ở TPHCM, và một vài người khác.

THẾ GIỚI TÂM-LINH ( tiếp theo)

Như trên đã nói, tôi trở về Hà nội sau 50 năm vắng mặt. Và từ 2003 tới năm nay 2007 mỗi năm tôi lại trở về Việt Nam một lần. Sau khi gặp, tiếp xúc và phải nói là được sự giúp đỡ của cô M tôi đã giới thiệu cô M cho anh chị Phán năm 2005.

(Xin quý vị tham khảo 3 bài sau của ĐTPhán: Cây Đa lối cũ, Gọi hồn người xưa, Cảm xúc với những tín hiệu kỳ lạ)

Tiếp xúc với tổ tiên, các Cụ, kỵ hai bên nội ngọai và với những người than thương đã khuất (qua sự trung gian của cô M) là một chuyện. Việc đi tìm mộ tổ tiên, ông bà là một chuyện khác. Công tác tìm mộ này, một phần liên hệ tới những buổi “gọi hồn” (qua trung gian của cô M), nhưng phần lớn chúng tôi phải nhờ tới sự giúp đỡ của một nhà ngọai cảm: thầy T (nguyên xuất thân là một kỹ sư địa chất – nghe nói là bạn đồng môn của một cựu chủ tịch nước). Thầy đã giúp chúng tôi tìm lại được mộ của các cụ, ông bà và cả hai bên nội, ngoại chúng tôi. Phương pháp thầy T áp dụng được gọi là “quả trứng trên đầu đũa”, một phần hướng theo những dự kiện thâu thập được trong buổi gọi hồn tổ chức trước đó một vài ngày (cô M ngồi đồng). Một viên chức cao cấp trong chính phủ, ông Trần Phưong, tiến sĩ kinh tế học và là một cựu phó thủ tướng của Hà Nội, cũng đã viết một bài báo với tựa đề “Những bí ẩn trong việc tìm mộ liệt sĩ” trong đó ông Phương kể lại việc đi tìm mộ người em gái tên Vũ Thị Kính (gọi chệch đi là Canh) phụ trách huyện ủy du kích huyện Phú Cu (Hưng Yên) đã hy sinh trong những ngày đầu của cuộc tòan quốc kháng chiến 19/12/1946 sau khi bị bọn Pháp tra tấn rất dã man (lấy kim rút hết 10 đầu ngón tay) rồi xích tay nữ liệt sĩ này với một thanh niên (ngừơi gốc Hải Phòng) và vất xác hai người xuống ngã ba sông Luộc và sông Thái Bình, giáp ranh 3 tỉnh Hải Dương, Thái Bình và Hưng Yên. Xác hai người này sau đó được một nông dân đem chôn ở phía trong bờ đê.

Hơn 50 năm sau, phó thủ tướng Trần Phương (tên thật là Vũ Văn Nhung) được sự giúp đỡ của cô Phan Thi Bích Hằng – nhà ngọai cảm có tiếng nhất ở Việt Nam hiện nay, đã tìm lại được mộ người em gái liệt sĩ này.

Vài hàng về hiện tình ‘tìm mộ liệt sĩ ở Việt Nam” – Như trên đã nói, dù không khuyến khích hoặc nhắm mắt làm ngơ (cho phép một cách bàn chính thức) một trung tâm nghiên cúu Tiềm năng con người đã được ra đời và có sự tiếp tay, giúp sức của những nhà ngọai cảm (những người có khả năng đặc biệt về phương diện tâm linh)

Trong thực trạng hiện tại tại Việt Nam đã có hang ngàn ngôi mộ, trước đây được liệt kê là ‘vô danh’, đươc chôn cất với dòng chữ ‘mộ vô danh’ trong các nghĩa trang hoặc nằm rải rác dọc theo dãy Trường Sơn, trong các nghĩa trang tỉnh hay quận ở Nam Trung Bộ, Đồng Tháp và ngay cả bên các nước Lào và Cao Mên, đã được các nhà ngọai cảm (ngồi ở nhà ở Hà Nội hay TP HCM v.v..) chỉ dẫn cho gia đình đi tìm mộ bằng điện thọai di động. Đôi khi, nếu được gia đình cung cấp phương tiện, nhà ngọai cảm có thể đi theo gia đình đến tận nơi để tìm, theo linh cản riêng của mỗi nhà ngọai cảm. Họ có thể áp dụng phương pháp ‘quả trứng đứng trên đầu đủa’ để xác định mộ phần mà gia đình muốn tìm.

Xác xuất (số % mộ tìm được trong 100 ngôi mộ) của các nhà ngoại cảm cũng khá cao: của ông Liên (Hải-dương), ong Nha (TPHCM) và một vài nhà ngọai cảm khác như ông Đỗ Bá Hiệp, cô Phương (ở gần Cầu Hàm Rồng – Thanh Hóa) ông Nam H (ở Huế) được đánh giá là đúng từ 40 tới 70 %. Riêng cô Phan Thị Bích Hằng, đã giúp các nhà khoa học trong Trung Tâm tìm dung đượ mộ, xác xuất lên tới 97% .

VÀI ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ-BIỆT GIỮA CÔ M. VÀ PHAN THỊ BÍCH HẰNG .

    1/ PTBHằng: sinh viên đã tốt nghiệp đại học (Bách Khoa?)

Hồi 12 hay 13 tuổi đi chơi với một bạn gái, cả hai bị chó dại cắn , 2 tuần sau cô bạn gái bị chết , B.Hằng cũng điên dại và gần chết – Sau đó, thóat chết và từ đó có linh cảm là nhìn được người âm mỗi khi đi ngang qua nghĩa trang, hoặc đi ngang qua một mộ phần dù ở giữa một cánh đồng. B Hằng đã giúp tìm được hàng ngàn ngôi mộ (liệt sĩ hoặc thường dân)

Ngòai ra nếu gia đình muốn nói chuyện với vong người đã khuất thì trong một buổi gọi hồn B Hằng có thể làm trung gian đối thọai giữa vong người đã khuất và gia đình. B Hằng có thể nghe vong nói rồi Hằng nói lại với người sống dự kiện và ngược lại.

Trả lời câu người ta đồn là B Hằng có một dạo hình như nất đi khả năng ngọai cảm, B Hằng cho biết là vì bị nhiều người lôi kéo môi móc, nhất là lúc B Hằng đang bụng mang dạ chữa nên B Hằng phải tung tin đó để được yên ổn.

   2/ Cô M (Hải Phòng) : Cô M.năm nay chừng 36 tuổi

Cách đây hơn 20 năm , cũng vào cỡ tuổi 13 hay 14 cô bị ốm nặng, thập tử nhất sinh. Sau đó cô thấy tự nhiên có khả năng tiếp sức với người âm. Mỗi lần ngồi đồng, cô có thể ngồi liên tục 6 hoặc 7 tiếng đồng hồ và giúp gia chủ (dù có 3 hay 4 họ trong gia đình) nói chuyện với người âm.

Đây là lần đầu tiên trong đời chúng tôi được tham dự một buổi “gọi hồn” (đuợc tổ chức ở nhà một nguời em họ ở Hà Nội ngày 13/12/2003)

Điều phải nói là “kỹ thuật ngồi đồng gọi hồn” của cô M. có khác hẳn với B Hằng. Sau khi khấn vái, cô đồng M ngáp một cái và vong đầu tiên là ông chú tôi (bố của cậu em) rồi lần lượt tới các vong trong gia đình gia chủ (cậu em) rồi gia đình bên phía tôi (nội + ngọai) và gia đình bên vợ tôi.

Cô Mến cu trú ở Hải Phòng: khởi hành từ Hải Phòng lúc 7g15 sáng, đúng 9g cô M. ngồi đồng và nói liên tục từ 9g tới 15g30. Mỗi vong về đều xưng danh và hỏi vợ chồng, con cháu liên hệ và nhiều khi nói những chuyện rất đăc biệt chỉ có cong và nguời đuợc gọi biết mà thôi.

Trung bình mỗi vong ở lại với thân nhân từ 5 tới 10 phút, đôi khi lâu hơn một chút. Sau đó vong nói: “Thôi tôi đi nhé!”. Cô đồng lại khấn và ngáp một cái; vong tiếp theo lại tiếp tục.

Viết đến đây tôi xin mở một dấu ngoặc (nếu các bạn và quý vị đã coi phim “GHOST” với Patrick Swaynw, Deni Moore và Whoopi Goldberg cũng có đọan cô đồng người da đen – do Whoopi Goldberg đóng mỗi khi vong nhập vô thì nguời, ngực và vai cô đồng cựa cậy và nở rộng ra và đó là dấu hiệu một vong đã nhập vào cô đồng. Ở đậy cũng vậy, chỉ có điều khác là mỗi lần cô đồng M. ngáp là một vong mới nhập vô cô đồng!

Dù là lần đầu tiên tham dự một buổi “lên đồng, gọi hồn” tôi cố hết sức giữ cho đầu óc tỉnh táo, không có thiên kiến. Nhưng tôi phải thú thật, phần muốn thỏa trí tò mò của tôi cũng không phải là nhỏ. Tôi cũng sẵn sàng “dự tinh” để lột mặt nạ bọn “buôn thần, bán thánh” hòanh hành trong gian dân ta từ thời xa xưa, và có lẽ cả thời nay.

Những “dự tính” ban đầu của tôi là nghi ngờ nhưng tôi phải công nhận, là với những điều “mắt thấy, tai nghe” tôi không khỏi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Trong cuộc đối thoại với người âm, qua trung gian của cô đồng, tôi không khỏi giật mình khi chú em tôi (mất năm chú mới 17 tuổi) nói về những chuyện, mà chỉ có tôi biết ở trên trần, (và chú ấy biết, hay quyết đoán lấy một mình ở cõi âm!!)

Xin mời quý vị và các bạn nghe đọan đối thọai duới đây:

Cô đồng M. (sau khi được vong thứ 5 nhập vô):

       – D đây! anh T đâu ?

       – Tôi: Anh đây, Chào Chú

       – Vong của chú D (qua cô M.): Anh quên em rồi hả?

       – Làm sao anh quên được chú – Chú vẫn nằm ở nghĩa trang Hợp Thiên đó hả? (Em tôi, kém tôi 2 tuổi, mất vì bạo bệnh lúc 17 tuổi , và được táng tại nghĩa trang Hợp Thiên

       – Ủa bộ anh chưa biết sao? Em bây giờ nằm ở nghĩa trắng Yên Kỳ. Anh A. đưa em về đó. Anh A. lo chỗ ở cho em chu đáo lắm.

       – À, anh có nghe nói phong phanh , nhưng chưa gặp anh A nên chưa biết rõ chuyện này. Chút nữa anh A sẽ tới. (Anh A. là con ông bác tôi, bạn đi dạy học. Anh vẫn đi dạy tư Toán, Lý, Hóa mặc dầu tuổi đã gần 80. Anh nói sẽ gặp tôi ở đây nhưng lúc 10 giờ mới tới được. Tôi cũng chưa gặp anh nên vụ vcuyện mộ em tôi, tôi cũng chỉ nghe nói tới thôi vì chưa gặp được anh A. Khỏang 10 giờ anh A tới và xác nhận với tôi sự việc trên.

Vong chú Đạt: À, trứơc đây, sao anh định đi Pháp bằng thông hành giả, phải không? (Nói xong chú cười to lên một cách ranh mãnh)

Năm 1964, với tư cách Giám Đốc Cơ Quan Kiểm Nghiệm Gia Súc tại Sài Gòn (Saigon Animal Quarantine Station) tôi được chính phủ VN cử đi Geneve (Thụy Sĩ) làm Trưởng Phái Đòan VN dự Hội Nghị Quốc Tế về Thuơng Mại Gia Súc và Súc Sản (International Meeting on Living Animals and Aniaml by Porducts Trading). Tham dự hội nghị, Tòa Đại Sứ VN có cử một ông tùy viên tới. Trong giờ giải lao gần cuối tuần, tôi ngỏ ý muốn lợi dụng chiều thứ bẩy và chủ nhật để sang Paris, nơi tôi đã từng học ở đó để thăm lại mội vài bạn bè. Ngặt vì trên official passport (thông hành công vụ) của tôi Bộ Ngọai Giao có để thêm: “For Swissland Only” (mối bang giao giữa chính phủ quân nhân VN và Pháp thời  đó không được tốt đẹp cho lắm) , ông tùy viên ghé tai tôi nói nhỏ: “Ông cứ nhảy lên tàu mà đi, chiều chủ nhật lại về Geneve bằng tàu. Nếu có kiểm sóat trên tàu, thông hành của ông là thông hành công vụ là họ không làm khó dễ đâu!”

Có vậy mà ông em tôi (vong thứ 5) cho tôi là đi Pháp bằng thông hành giả! Điều kỳ lạ là chuyện xảy ra cách ngày gọi hồn hôm nay 13/12/2003 gần 40 năm: tôi chỉ nhớ mang máng trong đầu đó là một kỷ niệm vui. Tôi chưa hề kể cho ai biết, vì cũng chả có gì là quan trọng, kể cả bà xã tôi!

Nhưng với vong chú em thì chú nhớ và cho đó là tôi đi Pháp bằng thông hành giả. Còn cô M. ngồi đồng, tôi mới gặp cô lần đầu tiên, cách đây nữa tiếng đồng hồ, thì làm sao cô M. biết được những chuyện đó!  Ngôi mộ chú em tôi đã về Yên Kỳ và chuyện tôi ghé Paris 2 ngày cuối tuần mà không có visa (hộ-chiếu)

Vong chú em tôi nói tiếp: “Ở trên trần, anh làm cái gì em cũng biết hết! Lúc nào em cũng ngồi trên vai anh, đây này”. Vừa nói chú vừa đặt tay lên vai trái của tôi. Lúc nào em cũng phù hộ cho anh! “

Thế-giới tâm-linh (tiếp theo )

Buổi “gọi hồn” diễn tiến liên tục từ 9 giờ tới 15 giờ 30, không có ai nghỉ để ăn trưa cả.

Tôi vừa phác họa mẫu đối thọai giữa em trai tôi và tôi: đặc biệt là có 2 điểm đúng, mà chỉ riêng hai anh em tôi biết được mà thôi. Sau đó còn có vong của bố, mẹ tôi – an táng tại một nghĩa trang gần Dreux, ở phía Tây của Paris.

Cũng lại giọng đầy thương cảm của mẹ tôi, và giọng hỏi “hách xì xằng” của bố tôi. Ông anh tôi cũng về và tỏ ý không bằng lòng vì con trai anh – gọi tôi bằng chú ruột – hiện đang ở Hoa kỳ, đã chót làm một cái vườn khá đắt tiền mà không được đẹp lắm. Riêng điều này thì tôi được biết, vì cách đó 6 tháng, tôi sang thăm cháu và cũng được nghe vợ chồng cháu than phiền về vụ làm cái vườn sau nhà này. Chỉ riêng phần tôi, được nói chuyện với bố mẹ, anh và nhất là chú em tôi đã đủ thuyết phục tôi là “PHẢI CÓ MỘT CÁi GÌ” (có thế giới tâm linh, có hồn hay có vong). Tôi vừa mừng “ra nước mắt” là đã nói chuyện được với bố mẹ tôi, và “tâm sự” với em tôi về những chuyện mà chỉ có riêng hai anh em tôi biết. Từ thái dộ phải thức tỉnh “trước một hiện tượng được xếp vào mê tín dị đoan” ý nghĩ của tôi đã thực sự quay 180 độ!

Nhưng không phải chỉ riêng tôi: bà xã tôi cũng đuợc nói chuyện với ông nội, ông cụ thân sinh (bố vợ tôi) mất năm 1943 ở Pháp, cải táng về VN năm 1949,  và một ông chú ruột mất năm 19 tuổi ở Yên Bái. Trong các cuộc đàm thọai với người cõi âm, cô đồng M chỉ giữ vai trò của một người trung gian đối thọai.

Thế-giới tâm-linh (tiếp theo )

Thành-phần tham-dự và Những cảm nghĩ riêng

Theo lời mời của vợ chồng chú em thì chỉ có anh em trong nhà: chú B là một kỹ-sư thuộc bộ công-chánh, lại là đảng-viên, tốt nghiệp từ 20 năm trước, khóa “trường đảng cao cấp “(tôi vẫn trêu chú gọi chú là đảng viên trung kiên, gương mẫu) và chú sẽ nghỉ hưu vào năm tới. Một chú em khác là cựu đại tá pháo binh đã từng tham dự Điên Biên, sau năm 1960 lại vô Nam, hoạt động trong vùng Ban Mê Thuột, Tuyên đức, Pleiku và sau đó chiến trường Cao Mên năm 1979 (Năm 2005, khi về lại VN lần thứ ba, thì chú đã mất , ở tuổi 74, vào đầu năm 2005 ); Anh T. giáo sư toán hậu đại-học ở Đại học tổng hợp: anh không những chỉ giỏi về toán mà lại còn là một chuyên viên nghiệp dư về thâu hình digital và thâu âm audio. Để ghi lại những hình ảnh buổi gọi hồn anh T đã điều khiển 2 máy quay film và 4 máy ghi âm audio.

Nhờ những hình ảnh và tài liệu này tôi đã đưa hình ảnh và tài liệu này cho các bạn tôi ở Canada coi. Điểm đáng ghi là trong suốt 4 năm khi từ VN trở về Canada và mang theo các tài liệu như đĩa DVD, VCD thâu hình và tiếng nói, dùng các lọai băng cassettes để thâu audio (tiếng không thôi), tôi chưa bao giờ gặp khó khăn khi đi qua 2 cửa ải:

  • Quan thuế: có nhiệm vụ coi xem các băng DVD có dán tem cho phép ban hành và lưu hành trên thị trường thương mại trong và ngòai nước không?
  • Công an: xét và nếu cần, chiếu lên coi xem có tài liệu nào có hại cho an ninh và quốc phòng hay không?

Trường hợp các tài liệu này bị giữ lại, hoặc bị tịch thâu ở phi trường là chuyện rất thuờng xảy ra cho bà chị tôi khi bà từ VN về lại Pháp (qua Nội Bài) và cho ông chú tôi khi ông từ VN trở về Hoa Kỳ (qua Tân Sơn Nhất). Các tài liệu này (hòan tòan là tư liệu về tâm linh: gọi hồn và tìm mộ) tôi đã đưa cho bạn ĐTPhán coi khi tôi về lại Canada. Nói một cách khác đi, và dùng ngôn ngữ trong lĩnh vực tâm linh, có lẽ gia tiên các cụ nhà tôi đã “phù hộ độ trì” cho chúng tôi mang đi thóat được các tài liệu trên??

Thế giới tâm linh (tiếp)

Về lại Canada tôi đã đưa bạn Phán coi. Sau đó trong lần anh chị Phán có dịp về VN năm 2005, tôi có giới thiệu cô M cho anh chi Phán. Đọc bài “Gọi Hồn Người Xưa” của bạn Phán và lời đối thọai giữa bạn Phán và bà Cụ thân sinh ra anh (qua cô đồng M), thú thật tôi không cầm được nước mắt. Còn rất nhiều chuyện, và cả chuyện tiêng tư (giữa vong và người thân) tôi phải nói là buổi gọi hồn tại nhà người em tôi ngày 13/12/2003 đã hòan tòan thành công: với tôi nó nói rõ điều này: CÓ THẾ GIỚI TÂM LINH, chết không phải là hết; sau khi chết thì vong hồn ở trong một thế giới tạm gọi là ‘thế giới người âm’. Và trong tình hình hiện nay, qua những nguời có “khả năng đặc biệt về tâm linh” (những nhà ngọai cảm) chúng ta có thể tiếp xúc,bằng đối thọai, nói chuyện được với những người thân thuộc đã mất.

TÌM HÀI CỐT THÂN NHÂN TẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM

Trên đây tôi mạo muội kể thật chân tình buổi gọi hồn đầu tiên mà tôi được tham dự. Tình hình ở bên nhà theo tôi, cũng thuận lợi cho việc liên hệ với thế giới tâm linh. Có lẽ trong một ngày gần đây sẽ có những quyết định táo bạo hơn của nhà cầm quyền hiện tại để giúp đỡ phong trào tìm mộ liệt sĩ nói riêng và của tòan dân nói chung.

VŨ THÂN (1932-2017)

Bác Sĩ Thú Y

Đầu Xuân Đinh Hợi 2007

 TIỄN ĐƯA BS  VT THÂN VỀ CÕI VÍNH HẰNG

Thú Chụp Hình Trong Thú Chơi Lan

Đàm Trung Phán

Hôm nay trời Toronto đang nắng to nhưng lại rất lạnh: -12 độ C. Người viết có thói quen là khi nào trời nắng to, tôi thích được đi bộ. Tuổi về chiều, không dám đi bộ khi trời quá lạnh, bèn hậm hực lái xe vào thư viện gần nhà, nhìn qua cửa kính nhớ về những đóa phong lan và địa lan.

Sau khi viết xong bài “Thú Chơi Lan”, Mỗ tôi thấy còn có hứng để viết thêm về cái “Thú Chụp Hình Phong Lan và Địa Lan”. Bây giờ ngồi trong một góc thư viện vắng người, Mỗ bèn lấy giấy bút ra ghi chép và để đi vào cái thế giới riêng tư tĩnh lặng của riêng mình.

CÁI THUỞ BAN ĐẦU LƯU LUYẾN ẤY

Những bông hoa lan đầu đời của Mỗ già đã ra hoa làm Mỗ tôi mê say đến nỗi phải đi kiếm sách về lan để tìm tòi thêm về các loại lan khác nhau. Mỗ náo nức đi dự những buổi họp hàng tháng của hội lan vùng miền Nam Ontario, Canada (Southern Ontario Orchid Society), vừa để được có dịp mua lan với giá rẻ vừa để nghe “các sư phụ trồng lan” bình phẩm từng chậu lan đang ra hoa. Không quên mang theo cái máy hình chụp bằng phim (hồi đó chưa có máy hình digital). Có nhiều cuộn phim cả mấy tháng sau mới đem đi rửa hình, sau khi hoa đã tàn. Nếu may mắn được tấm hình đẹp, người chụp hình còn có thể lưu lại hình thù và mầu sắc của bông lan. Mỗ cũng đã có cái xui: hình bị hỏng mà lan đã tàn. Chẳng lẽ lại “đập bể máy ra tìm lấy bóng”, chả dại gì mà làm như vậy cho tốn tiền!

DIỄN BIẾN CỦA DIGITAL CAMERA

Người mê lan vẫn tiếp tục trồng lan: trên thành cửa sổ, treo từ trần nhà bên cạnh cửa sổ, dưới ánh đèn nê-ông trong hầm nhà (basement) và bất cứ những chỗ nào trong nhà mà tôi có thể “xâm lấn” được… Rồi “đế quốc lan” lan ra tới cái nhà kính mà Mỗ đã tự xây lén “chính phủ tại gia” (dịch từ chữ ‘spousal government’) ngoài vườn. Chụp hình (bằng phim) tất cả những giò lan đang ra hoa cũng là một cái thú, nhưng đó là một cái thú đau thương: vừa tốn tiền, vừa tốn chỗ để chứa các “albums”. Cũng chỉ vì người mê lan muốn ghi lại những giai đoạn tiến triển của cây lan, nụ lan, hoa lan, hình thù và mầu sắc của các bông hoa mà thôi.

Rồi Mỗ được trời thương: đầu thập niên 2000, khi mang học trò ra công trường thăm nhà máy lọc nước cống, nhà trường cho Mỗ mượn một cái máy hình digital của Sony dùng floppy disk (chứa được chừng 10 tấm hình trong một “cuốn phim cỡ 1.2 MB “). Những tấm hình digital đầu đời của Mỗ chụp nhà máy lọc nước tương đối “ăn ý” so với những tấm hình chụp bằng phim ảnh trong những năm trước đó. Tuy nhiên khi rửa ra hình, tấm hình không được rõ nét cho lắm (vì thiếu “resolution”), Mỗ tôi bèn hăng hái đưa hình lên mạng lưới để học trò dùng làm tài liệu học tập.

Dĩ nhiên là bác phó nhòm không quên mượn cái máy hình digital này để chụp những đóa hoa lan đang nở ở nhà. Vì mê lan nên bác phó nhòm nhà ta bèn đi mua ngay chiếc máy hình digital đầu đời để bắt đầu “mang hình nàng lan về dinh” trong “computer” không những ở nhà mà còn ở trường nữa. Số lượng “floppy disk” của Mõ bắt đầu gia tăng theo tỷ lệ đường cong (curvilinear function) với thời gian, tốn rất nhiều chỗ để lưu trữ “floppy disk”. May mắn thay, Sony đã cho ra đời loại máy hình digital dùng “memory card” có sức chứa rất nhiều hình hơn so với loại “floppy disk” kia (thời đó Sony là “lãnh chúa” trong kỹ nghệ sản xuất máy hình digital). 

Đang buồn ngủ mà lại kiếm được cái chiếu manh, người viết “tậu” ngay một máy hình mới (Sony F707, dùng “memory card”) để thay thế cho máy cũ (Sony MCV dùng “floppy disks”). Cầu được, ước thấy, người viết tha hồ chụp mà không sợ về vụ “hết phim” trong máy hình nữa. Vừa tiện lợi, nhanh chóng, vừa đỡ tốn tiền rửa hình mà lưu trữ hình lại quá dễ dàng nữa. Chỉ cần bỏ hình vào “computer” rồi tự tiện xóa hình, thêm ánh sáng và sửa hình bằng “software” trong những lúc rảnh rỗi ở nhà cũng như ở trường. Vui thú biết bao!

Tuy nhiên, tốc độ chụp được hình ảnh của máy hình Sony F707 cho thật đúng lúc lại khá chậm, nhất là khi Mỗ tôi chụp các cô, các cậu vũ công: những giây phút hình cần phải thu được hình, lại bị chụp hụt vì kỹ thuật máy hình (digital camera technology) hồi đó còn “non” lắm! Vì lẽ đó, Mõ “tậu” thêm một chiếc Sony F828 “hại điện” (hiện đại) hơn, với tốc độ thu hình tiến bộ trông thấy. Mỗ đã đi thăm nhiều nơi tại Việt Nam với chiếc Sony F828 này, chụp hình phong cảnh khi xe còn đang chạy mà hình không bị mờ. Tôi cũng đã chụp hình được rất nhiều giò lan tại Ðà Lạt và Saigon. Sau đời Sony F828, Mỗ bắt đầu chuyển qua loại máy hình SLR với các ống kính (telelens) phù hợp với nhu cầu chụp hình của Mỗ trong những chuyến đi chơi xa. Vào mạng lưới để đọc những tài liệu cập nhật hóa (up-to-date specifications, reviews) về máy hình, ống kính, flash… cũng là một cái thú trong những đêm khuya tĩnh lặng. Rồi Mố còn “mang về dinh” các “nàng” Sony Alpha 100 và 250, Canon EOS 40D, Panasonic Lumix DMC FZ28 để thỏa trí tò mò và sở thích trong việc chụp hình hoa, phong cảnh khi đi du lịch, chụp hình đám cưới, đám ma, chụp hình các cháu nội, cháu ngoại và nhất là thu hình (movie clips) các cháu khi chúng chơi đùa. Bà nhà thấy hình hai cháu gái xinh xắn và đẹp gái nên Bà quên béng việc ông…mang “các nàng cameras về dinh” và …dấu dưới gầm giường!

Sau khi Mỗ tôi có ý định cần có một máy hình cho một công việc đặc biệt (project) nào, Mỗ vào Internet để đọc những bài phê bình những loại máy hình này. Rồi ông già lái xe ra hiệu bán máy hình để sờ mó, chụp thử, hỏi về giá cả … trước khi “mang nàng về dinh”. Dĩ nhiên là phải…dấu kín “chính phủ tại gia”! Cũng xin mở một cái ngoặc kép ở đây: sở dĩ Mố “dính” với Sony khá lâu cũng chỉ vì Sony là một trong những hãng tiền phong về máy hình digital thuở ban đầu khi dùng “floppy disk” và trong những giai đoạn đầu các “lithium batteries” (pin) của Sony đều có thể dùng chung từ “models” này sang “models” khác, rất đỡ “tốn kém ngân quỹ” của kẻ mê máy hình và mê chụp hình này!

Khi ông già mang nàng Canon EOS 40D và hai chiếc ống kính (lenses) về nhà, ông mong mỏi đợi chờ ngày bão tuyết để mang máy ra chụp thử. Mỗ tôi giống như một kẻ bị ma ám vậy: chụp lan, chụp hoa, chụp chim chóc đang hót trên cây hay đang đậu trên các căn cao ốc cao vời vợi.

Thế rồi có những đêm trời lạnh cóng, ông già mang nàng Canon với ống kính F2.8 ra đường phố chụp cảnh tuyết ban đêm! Vào đến nhà, lạnh cóng mấy ngón tay luôn! Ðêm đó, Mỗ say mê ngồi xem xét những tấm hình chụp theo những lối “set up” chụp hình khác nhau. Phải chăng đây cũng là một cơ hội “vào thiền” của riêng tôi?

THEO DÒNG THỜI GIAN

Chúng tôi có một nhóm bạn. Mùa Hè thường hay rủ nhau lái xe đi xem phong cảnh và picnic. Cặp nào cặp nấy đều trang bị đầy đủ với máy hình: cả nam và cả nữa đều trang bị như nhau.

Nhưng có lẽ mùa Thu là mùa tuyệt vời nhất vì nó là mùa của lá đổi mầu, mùa của sự chuyển biến. “Phái đoàn” chúng tôi thường hẹn nhau “lên đường”, không quên mang theo cơm nắm, muối vừng, thịt kho, bình trà…  Có những lần chúng tôi lái xe hàng trăm cây số, lái dọc theo bờ hồ, những con đường hẻo lánh vùng núi. Và cũng có lần, chúng tôi đã suýt nữa ngủ lại trong một motel có bóng ma bà già mang bình cà phê ra mời khách. Chúng tôi đã có những bữa ăn vui nhộn trong tình bạn bè, cười nói thỏa thích. Để rồi sau đó chúng tôi cho nhau xem những tấm hình lá vàng, lá đỏ, quả khô, bờ hồ, ven suối, đàn vịt, đàn ngỗng trời…  

Khi còn đi dậy học, đối với tôi mùa Thu là mùa vừa đẹp lại vừa buồn. Đẹp vì cảnh mùa Thu, buồn vì Mỗ lại phải làm việc hùng hục như trâu như bò sau hai tháng nghỉ hè, và sau mùa Thu là mùa Đông với nàng tuyết khó thương của xứ Canada.  Rồi Mỗ “làm quen” với cái khó thương của nàng tuyết trong mùa lễ Giáng Sinh: vác máy hình đi chụp những đêm trời tuyết và những nơi người ta giăng đèn. Cái lạnh ngoài đường được đem vào nhà qua các hình ảnh được chiếu trên màn ảnh của máy vi tính trong cái ấm cúng của căn phòng là một sự pha trộn rất tuyệt vời trong trí tưởng tượng.

Trong vòng mấy năm nay, Hội Lan của Ontario, Canada thường tổ chức cuộc triển lãm lan vào dịp lễ Tình Nhân (Valentine’s Day) trong cái giá lạnh của Tháng Hai và “phái đoàn chụp hình” của chúng tôi tha hồ mà đi săn hình các bông lan đẹp rực rỡ. Xin mời quý vị vào xem các hình ảnh hoa lan dưới đây, trình bầy dưới các khía cạnh khác nhau. 

Hình ảnh hoa lan dưới con mắt của một nhiếp ảnh gia Việt Nam yêu hoa lan qua nghệ thuật:

http://www.pbase.com/an_nguyen/black_orchid

(NT Phương Anh)

Nếu quý vị không chỉ yêu thích hoa lan mà còn bị “bệnh mê trồng lan” ám ảnh (chúng tôi tạm gọi đó là “chứng bệnh” Orchiditis), xin mời quý vị vào xem 2 links dưới đây:

https://pbase.com/tamlinh/toronto_2009_orchid_show

 (ORCHIDS FOR EVERYONE)

https://photos.app.goo.gl/KixcAWn4f72Dc1FD9

(2019-08-27 – DR. THANG DAM’S ORCHIDS’ ENVIRONMEN, MONTREAL, CANADA)

Đối với người viết bài này, đóa hoa lan là một sản phẩm tuyệt vời của tạo hóa:

Em là kết tinh

Của sương

Của gió

Và của thiên nhiên.

Cũng nhờ mê lan và mê trồng lan, người viết đã vượt qua được nhiều cái hụt hẫng của cuộc đời:

Với riêng ta

Em là tất cả

Vì em đã

Mang lại cho đời

Chất nhẹ trong Tâm…

Thú chụp hình hoa lan trong những ngày hội hoa lan, trong nhà kính, trong vườn, trong thiên nhiên sẽ vẫn còn theo tôi, có lẽ còn sang đến tận kiếp sau cũng nên!

Đàm Trung Phán

Mississauga, Canada

Tháng 5, 2009/Feb 2021

Hội Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam - Vietnamese Boat People Memorial Association

Hội Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam - Vietnamese Boat People Memorial Association

Đàm Trung Phán

Những bài viết .....

Việt Nam

Việt Nam

Kiếm tiền online

Kiếm tiền tại nhà hàng ngày . các cách kiếm tiền free online

Shop Mỹ Phẩm - Nước Hoa

Số 7, Lê Văn Thịnh,Bình Trưng Đông,Quận 2,HCM,Việt Nam.

Công phu Trà Đạo

Trà Đạo là một nghệ thuật đòi hỏi ít nhiều công phu

tranlucsaigon

Trăm năm trong cõi người ta...

Nhạc Nhẽo

Âm thanh.... trong ... Tịch mịch !!!

~~~~ Thơ Thẩn ~~~~

.....Chỗ Vơ Vẩn

Nguyễn Đàm Duy Trung's Blog

Trang Thơ Nguyễn Đàm Duy Trung

%d bloggers like this: