Đàm Trung Phán

Những bài viết …..

Hồng Vân diễn ngâm thơ Đàm Trung Phán

Xin Quý Vị mở speakers và bấm nút để nghe Hồng Vân diễn ngâm thơ Đàm Trung Phán:

1.Lời Giới Thiệu:

2. Bài Thơ Cho Con Ngày Con 20 tuổi

3. Út Tôi

4. Vu Lan Mộng Ảo

5. Phong Lan và Giai Nhân

6. Nhạc Kinh Tây Tạng

7. Nén Hương Cho Mẹ

8. Mộng Thường

9. Hình Bóng Mẹ Tôi

10. Em Đã Đến

11. Đóa Lan Rừng

12. Cha Con

13. Duyên Tình

14. Bước Trần Ai Đi

15.Chiêm bao Tỉnh thức

16.Chuyến Bay đêm

17.Cõi mộng

18.Mưa Hè

19.Ngọc Nữ

20.Đức Mẹ Maria

21.Em

22.Đêm Nay

23.Duyên Phận

24.Chiến Địa Flanders

25.Thu Cảm 2000

26.Tỉnh Say, Say Tỉnh

27.Dù Cho Thoát xác, Mãi Còn Yêu Thương

28.Mừng Sinh Nhật 70 của ĐÀm Trung Phán

29.Áo Trắng Học Trò

30.Phong Lan

31.Bài Thơ Không Tên

32.Đoạn Kết

Quý vị có thể tải về ( download ) tại đây :

DamTrungPhan-HongVan

LỜI NÓI ĐẦU

Sau khi viết xong loạt bài Cây Đa Lối Cũ, Gọi Hồn Người Xưa”, người viết đã có dịp đọc thêm nhiều bài viết về Tâm Linh của các tác giả Tây Phương và Ðông Phương. Tôi đọc say mê vì có nhiều khoa học gia và nhà ngoại cảm Tây Phương đã mô tả một số hiện tượng khá giống với những gì tôi đã cảm nhận được khi đang thức cũng như khi đang ngủ

Đây là một đề tài vừa rộng lớn, vừa mơ hồ vì còn nhiều vấn đề chưa có thể chứng minh một cách cụ thể được dựa theo nền tảng khoa học hiện tại của loài người. Tôi có cảm tưởng là mình giống như là một ông thầy bói mù đang sờ chân một con voi khổng lồ để mà “đoán quẻ” về hình dáng, kích thước và cuộc đời, số mạng của con voi đó.
Vì vậy mà cứ chần chờ trước khi viết loạt bài này về Tâm Linh

Dựa theo một số những kinh nghiệm tâm linh của chính bản thân và những gì mà tôi đã đọc được trong những tài liệu của phương Ðông và phương Tây về linh hồn, vong linh, cõi vô hình, tái sinh, luân hồi, gọi hồn… tôi mạo muội viết ra loạt bài này. Bài viết còn có nhiều thiếu sót, nhiều chỗ chưa hiểu rõ hay hiểu lầm… xin qúy vị rộng lòng thứ lỗi cho. Người viết sẽ rất hoan hỉ khi nhận được những ý kiến xây dựng của quý vị độc giả những mong học hỏi thêm được và để cải tiến bài này trong tương lai. Xin Quý Vị viết email về phandam99@yahoo.com cho người viết.

Xin cứ coi như đây là bài viết mở đầu để chúng ta cùng học hỏi thêm trong tương lai. Trong tinh thần “vạn sự khởi đầu nan”, xin mời quý vị vào đọc…

NHỮNG CÁI TẾT LY HƯƠNG

Ðàm Trung Phán

1998 /2020

Tôi đã xa quê hương 36 năm, tóc đã đổi màu và… thuyền muốn trở về bến cũ, mặc kệ dòng nước lũ cuộc đời.

Ngược dòng thời gian, tôi mong tìm lại những nguồn tình cảm thân thương, những kỷ niệm ấu thơ còn nhạt nhoà trong ký ức.

Tôi học xong trung học vào mùa hè 1960, năm cuối tôi học Đệ Nhất Chu Văn An tại Saigòn.Tuổi trẻ, tôi mơ ước được đi du lịch, giang hồ mạo hiểm. Tôi thích cuộc sống tự lập, xa gia đình. May mắn thay, tôi được học bổng du học ngành kỹ sư ở Úc, sau một cuộc thi tuyển khá gay go. Học ngành Kỹ Sư mà suốt bẩy năm trung học tôi chưa hề nghĩ tới.  Trong thời gian chờ đợi, tôi đã đếm từng ngày để được xuất ngoại, nôn nóng xem xứ lạ quê người.  Nhưng số bị “tuần triệt”, bị sao quả tạ chiếu, vì trong năm 1961, sau khi dinh Độc Lập bị bỏ bom, cụ Diệm không cho phép một ai xuất ngoại du học.  Trình trạng của tôi thật như người ngồi trên đống lửa.

Ở hiền gặp lành, cuối cùng rồi trời cũng thương, tôi được xuất ngoại du học vào cuối năm 1961. Cái Tết xa nhà đầu tiên của nhóm sinh viên du học tụi tôi là ở thành phố Sydney vào đầu năm 1962. Cả thành phố Sydney đất rộng, người đông đó chỉ vỏn vẹn có chừng 15 sinh viên Việt Nam.  Tuy nhiên, chúng tôi cũng tổ chức Tết.  Hai anh bạn và tôi đi xe bus lên phố tầu mua xắm thực phẩm Á động.  Muốn có hương vị Tết Việt Nam thì phải có bánh chưng, dưa hành, hạt dưa đỏ… Nhưng hồi đó ở Sydney, kiếm đâu ra những thứ đó, không như bây giờ, thực phẩm Á đông nào cũng có, thật ê hề. Không có bánh chưng, dưa hành, chúng tôi đành tưởng tượng cho đỡ thèm. Chúng tôi ca hát những bản nhạc xuân quê hương, rồi kéo nhau đi ăn cơm Tầu cho đến khuya.

Rời nhà người bạn, tôi kiếm xe bus lên đồi Bellevue Hill nhìn xuống thành phố Sydney. Trong cái khí lạnh của ban đêm, và nhìn những ngọn đèn vàng phía dưới, tự nhiên nhớ nhà chi lạ! Tôi hình dung ra hình ảnh cha tôi đang khăn đóng áo dài đứng lễ trước bàn thờ tổ tiên. Mẹ tôi đã qua đời vào năm 1955, một năm sau khi gia đình tôi tay trắng di cư vào Saigòn. Cha tôi, trong cảnh gà trống nuôi con, chăm sóc cho ba anh em tôi còn nhỏ dại. Lúc đó, ở Việt Nam, chỉ có cha tôi và một em trai 13 tuổi đang sống với nhau. Còn anh tôi, hơn tôi một tuổi, và tôi, mỗi đứa ở một bán cầu xa lạ: Mỹ châu và Úc châu.

Những ngọn đèn vàng lấp lánh dưới chân đồi đưa tôi về dĩ vãng của những năm nhỏ dại. Quê tôi tại Bắc Ninh, mẹ tôi là người con gái Nội Duệ:

Trai Cồng Vồng Yên Thế

Gái Nội Duệ Cầu Lim

Tôi còn nhớ mang máng những ngày hạnh phúc nhất của gia đình.  Những đêm trước Tết, bố mẹ chúng tôi gói bánh chưng ở làng quê. Tôi cố thức để coi nồi bánh chưng và canh trộm trong những ngày tháng “củ mật” cùng với người lớn. Rồi lăn ra ngủ lúc nào không hay.  Sáng mồng một Tết, mẹ bắt chúng tôi ăn mặc đàng hoàng để đi chào họ hàng, để được mở hàng và đánh tam cúc cùng với gia đình. Tôi cũng còn lờ mờ nhớ được những đêm sáng trăng, những người thợ gặt vừa đập lúa, vừa hát đố với nhau.

Ngày vui qua mau!  Chiến tranh lan tràn đến làng, tôi theo cha đi chạy loạn, mẹ tôi phải ở lại nhà vì mới sinh em trai. Tôi bắt đầu hiểu biết thế nào là ly tán. Hơn 40 năm về sau, tôi đã ghi lại những hình ảnh đó qua những vần thơ mộc mạc:

Tôi sinh ra giữa lúc bom đạn ngang trời,

Người nằm xuống vì bom rơi, vì nạn đói.

Những đêm tối, theo cha tôi đi chạy loạn,

Mẹ ở lại nhà vì vướng bận em thơ.

Buổi tối đói, tôi mong mỏi đợi chờ,

Hình bóng mẹ và im lìm tiếng súng!

Rồi cha tôi bị Tây bắt đi tù, sau đó được thả tù và đi dậy học ở Phúc Yên.  Anh em tôi theo cha đi học, lại phải xa mẹ, vì mẹ tôi phải ở lại quê trông nhà cửa, ruộng vườn. Lúc đó, chúng tôi, đứa 9 tuổi, đứa 8 tuổi. Có những buổi chiều, hai anh em tôi leo lên thang gác của những nhà bị bom ném xập, đứng ngó những xe “ca” từ Hà Nội lên Phúc Yên, hy vọng trong xe có mẹ lên thăm. Cuối cùng, gia đình tôi được đoàn tụ tại Hà Nội vào năm 1952.

 Căn nhà của cha mẹ chúng tôi ở sát hồ Bẩy Mẫu và tôi học trường Đỗ Hữu Vị.  Đường từ nhà tới trường rất xa, nhưng tôi không giám đi tầu điện vì người anh họ của tôi có tính “yiêng hùng” hay thích đánh lộn với những học sinh khác cùng đi một chuyến tầu điện với tụi tội, thành thử tôi phải cuốc bộ từ 5 giờ rưỡi sáng.  Trên lộ trình, tôi chỉ còn nhớ mang máng những “villa” rất thơ mộng và những cái lạnh buổi sớm mai của Hà Nội.

Những ngày gần Tết, tôi xin phép bố mẹ cho tôi ghé qua chợ Đồng Xuân xem chợ hoa sau giờ hoc.  Tôi bắt đầu mê hoa từ đó.  Về sau, trong những năm trung học, tôi đọc đi đọc lại cuốn “Gánh Hàng Hoa” và giờ đây, ở tuổi ngũ tuần, tôi thích trồng phong lan để sống lại những kỷ niệm của tuổi ấu thơ. Những ngày đầu năm, đi lễ đền Ngọc Sơn với mẹ, đội mũ “bê rê”, mặc “blouson” đi chợ phiên cạnh hồ Hoàn Kiếm, tôi chẳng thấy lạnh là gì!  Cuộc sống thật êm đềm như một bài thơ.

Nhưng cuộc đời vô thường đầy biến đổi, hiệp nghị Genevè chia đôi đất nước được ký kết, gia đình tôi di cư vào Nam vào tháng 8 năm 1954.  Đấy là lần đầu tiên trong đời tôi được đi máy bạy.  Giờ đây, mỗi lần đi máy bay, tôi đều có cảm nghĩ mất mát, xa vắng:

Phi cơ đem đến chờ mong,

Bay đi biền biệt ai lòng  buồn ai!

Sung sướng nhất là những năm 57, 58 khi tôi còn học trường Trần Luc.  Trước khi nghỉ Tết, trường tổ chức đi xe lửa lên Biên Hoà xem các vườn cây ăn trái. Cùng đi trong toa xe, tôi nhớ nhất là thầy Doãn Quốc Sĩ, mà tôi thương mến từ năm Đệ Lục, Đệ Ngũ.  Thầy đã dậy cả hai anh em chúng tôi môn Việt Vặn. Chính nhờ thầy mà tôi thích Việt Vặn từ hồi đó.

Nhắc đến cái Tết tha hương đầu tiên luôn luôn làm tôi xúc động, vì hình như nó đánh dấu khúc quanh quan trọng nhất của cuộc đời tôi? Trước Tết năm 1964 tại Sydney, tôi đã dành dụm đủ tiền mua được chiếc xe Peugeot 203, mà chỉ những vị sồn sồn như tôi mới may ra có thể hình dung nổi cái dáng dấp của nó.  Xe le lắm cơ, có cả cái “sân thượng” (dịch từ chữ “sunroof” ý mà)!  Đêm ông Táo chầu Trời, tôi chở 4 ông bạn Mít da vàng, mũi tẹt đi chơi bờ biển cho đỡ nhớ nhà. Xe đang ngon trớn thì bị một thầy phú lít mắt xanh mũi lõ bắt tôi ngừng xe. Lúc bấy giờ tôi mới chợt vỡ lẽ là tôi đã đi ngược chiều. Tôi lo quýnh quáng vì nếu thầy biên phạt thì hỏng to, sẽ làm tiêu tan cả cái gia sản của tôi. Tôi cố chấn tĩnh để đối thoại với thầy.

Cảnh sát:

Your driving license, please!

You drove crazy

And didn’t you see:

“One way” only

Hung on a tree?

Chủ xe: 

Me Vietnamese

And me buddies

Go to party.

Me did not see

Sign on the tree!

Excuse me please:

“Rộng lòng từ bi

Đừng phạt làm chi,

Ticket costs money

Please let me ‘đi’

I‘ll be damn happy!”

Cảnh sát:

Hey, you, smarty:

You’re crazy

You’d better drive and see!

I let you go free 

Enjoy and leave!

Thôi, đi đi!

Sau khi xe chuyển bánh, một Trạng Lợn Vietnam (Dr. Vietnamese Pig) bèn phóng tác ngay một bài thơ để tặng mọi người trong xe, tựa là:

Đi Xem Hội

“Bẩm thưa thầy đội

Em đi xem hội

Cùng mấy cha nội

Chẳng may cây cối

Che mất phố phường

Nên đi ngược đường

Vậy xin thầy thương

Chớ nên biên phạt

Lần sau phạm pháp

Thầy “charge” gấp hai

Thôi nhé bái bai

 … Hẹn không gặp lại !”

Cuộc đời lăn như một hòn bi không bao giờ ngừng và từ đó tôi không còn có cái may mắn để ăn Tết ta, tết tây với gia đình, họ hàng nữa.

Sinh viên chúng tôi chỉ có thể tổ chức văn nghệ sinh viên và ăn Tết tập thể với nhau.  Cũng có năm, tôi phải đi thực tập tại một công trường trong đại lục Úc châu nên không thể về chung vui ăn Tết Việt Nam với bạn bè được.  Sự lạc lõng này đã gợi cho tôi những câu thơ như:

Quê hương tôi giờ này xa lắc

Tôi, một người lạc lối giữa Á và Âu.

Sa mạc này, tôi đã tìm thấy tôi!

Những dự tính của tôi khi còn học hoàn toàn đi trái ngược với thực tế.  Tôi đã không đi làm công việc của một kỹ sư công chánh như đã định và tôi cũng chẳng trở về Việt Nam để đoàn tụ với cha già và anh chị em . Tôi đã đến lập nghiệp ở Canada và trở thành một giáo sư dậy ngành công chánh mà tôi chẳng bao giờ định trước!

Hơn 36 năm rồi, xa quê hương, mỗi lần Tết về, tôi cố nhớ lại những gì đã mất. Còn chăng, đó chỉ là những hình ảnh nhạt nhoà của chợ hoa Hà Nội, chợ hoa Saigon, cảnh gói bánh chưng cùng cảnh xum họp gia đình trong ba ngày Têt…

Ðàm Trung Phán

Dec. 1998 / Feb. 2020

Toronto, Canada  

CHIA XẺ KINH NGHIỆM VỀ PHƯƠNG CÁCH GIẢNG DẠY TẠI CENTENNIAL COLLEGE, CANADA

GS Ðàm Trung Phán

Thể theo lời yêu cầu của một số thân hữu, chúng tôi xin bắt đầu viết đề tài về những kinh nghiệm của đời đi dậy. Bài viết “Chia xẻ …” này được viết để ra mắt quý độc giả trong loạt bài viết về “Ðời Ði Dậy”. Bài này được viết dựa theo bài “Principles of Teaching” mà tôi đã nộp cho Ban Giám Khảo của Centennial College khi họ tuyển lựa và trao giải thưởng “Cách Giảng Dậy Xuất Sắc” (Teaching Excellence) vào năm 2001 trước khi tôi được Centennial College tại Canada và University of Texas at Austin tại Hoa Kỳ trao tặng cho tôi giải thưởng này.

Tuy rằng đây là những kinh nghiệm giảng dậy trong lãnh vực khoa học và kỹ thuật của riêng tôi nhưng tôi muốn viết ra đây như để chia xẻ với độc giả, với những thầy/cô, với những ai đang muốn đi vào ngành giáo dục … những gì mà tôi đã học hỏi được khi tôi còn là một nhà giáo trước khi tôi về hưu. Hy vọng rằng những ai đã từng đi dậy cũng có thể tìm thấy ít nhiều mẫu số chung qua bài viết này.

Xin kính mời quý độc giả vào xem các hình ảnh liên quan tới mái trường bằng cách bấm vào Website dưới đây:

http://www.pbase.com/tamlinh/mai_truong__getting_involved_with_education

* * * * *

Sau khi tôi đã dạy được vài năm, tôi thường nói với học trò:

“Học hỏi là gì? Theo tôi thì tự mình phải biết là mình thực sự không hiểu, không biết những điều gì trong lãnh vực nào, ở đâu … để rồi mình có thể bắt đầu học từ những phần không hiểu biết đó.”

Theo lối nhìn của một kỹ sư như tôi, học trò cần phải thực hiểu bài (lesson) hay môn mình đang học (subject) để mà có thể áp dụng phần lý thuyết (theory) hay khái niệm (concept) vào công việc mình làm và ngay cả vào đời sống của mình nữa. Cả thầy/cô lẫn học trò cần phải cảm thấy thoải mái trong lớp học; học trò phải cảm nhận được cái hứng thú để mà có thể tìm hiểu, phân tích, tổng hợp và áp dụng. Thầy/cô nên hướng dẫn tường tận để học trò được rèn luyện cho họ có lòng tự tin và hứng khởi để mà tự họ đi tìm kiếm tài liệu, sau đó tự học hỏi bởi vì rằng số giờ để giảng dậy trong lớp tương đối khá ít ỏi.

Bản thân tôi đã có cái may mắn được cập nhật hóa với nhiều điều mới lạ trong lãnh vực kỹ thuật tân kỳ vì tôi có cơ duyên liên lạc được với nhiều sinh viên đã tốt nghiệp và đang đi làm. Các sinh viên này đã móc nối cho tôi tới nhiều nhân viên trong ngành kỹ thuật ngoài đời và họ đã cung cấp cho tôi biết bao nhiêu là tài liệu quý báu mà họ đã hay đang dùng. Những tài liệu này không có (hay chưa có) trong các sách giáo khoa vì hãy còn mới lạ. Tôi đã phải tự học hỏi những tài liệu mới lạ này và áp dụng vào các bài soạn (lecture notes) để rồi cả thầy và trò cùng được cập nhật hóa và theo kịp đà tiến hóa của nền kỹ nghệ ngoài đời.

Những năm về sau này, tôi vẫn tiếp tục gặt hái thêm được nhiều kinh nghiệm về nghệ thuật ăn nói (communication skills), phương cách giảng dậy và học hỏi (teaching-learning skills), những kỹ thuật mới trong kỹ nghệ (new technology). Vì những lý do đó mà tôi cảm thấy không bị “dậm chân tại chỗ” và điều này làm cho tôi thêm thích thú trong công việc dậy học nhất là những khi tôi bắt buộc phải phải soạn thảo để dậy một môn học mới (tôi đã dậy tất cả 33 môn khác nhau trong Phân Khoa Kỹ Thuật tại Centennial College trong vòng 32 năm của đời đi dậy). Mỗi lần mà tôi phải dậy một môn mới, phần soạn bài vở là một thử thách rất là nặng nề nhưng tôi cảm thấy hứng khởi (motivated) trong cái “thử lửa” (new challenge) đó; tôi hăng say cố gắng để tìm kiếm những phương cách trong việc soạn bài, giảng dậy những môn học mới mẻ này.

Khi hết học kỳ (semester), tôi thấy như được đền bù khi nghe thấy những điều sinh viên nói với tôi như :

“Chúng em không có gì phàn nàn về nội dung (course content), về phần trình bầy (lecture delivery), cách chấm điểm của Thầy hết. Chúng em cũng biết có đôi khi Thầy bị lúng túng vì Thầy mới dậy môn này lần đầu, nhất là trong phần làm thực tập ở trong phòng thí nghiệm. Chung quy là vì nhà trường không có đủ máy móc cho sinh viên thực tập, mà lớp lại đông học trò. Chúng em mong rằng chúng em còn được tiếp tục học ở Thầy những môn học khác trong những học kỳ tới (semester). Chúng em xin cám ơn Thầy rất nhiều, nhất là phần tận tâm (commitment) của Thầy!”

Càng dậy thêm các môn mới trong Phân Khoa Khoa Học và Kỹ Thuật (School of Engineering Technology and Applied Sciences), tôi càng thấy rõ những mối tương quan khắng khít của các môn học (courses) và của các ngành nghề kỹ thuật (technical programs). Sau khi đã đi dậy được nhiều năm, tôi cảm thấy rất may mắn và hứng khởi vì tôi đã học thêm được biết bao nhiêu là điều mới lạ. Là một nhà giáo trong phân khoa Kỹ Thuật, tôi cảm thấy tôi may mắn hơn và học hỏi được nhiều hơn so với “đời sống bay nhẩy” của một kỹ sư chuyên nghiệp (Professional Engineer)  mà tôi đã hằng mong ước trong những năm đầu tiên khi tôi trở thành một “nhà giáo bất đắc dĩ”!

Nhiều năm về sau, một số cựu sinh viên đang đi làm cho tôi biết là họ vẫn còn giữ lại tất cả các “lecture notes” (tất cả các tài liệu liên quan tới môn học) của các môn học do tôi phụ trách. Không những vậy, nhiều người còn mang vào văn phòng làm việc của họ những “cours” này để làm tài liệu tra khảo khi họ phải “design” (kiến tạo), hay họ phải “construct” (xây dựng) hay “inspect” (khám xét) một số những công việc mà họ đang phải làm. Ðối với tôi, đây là một phần thưởng tinh thần rất quý giá vì những nỗ lực đi tìm kiếm tài liệu để tự học hỏi và những đêm khuya ngồi soạn bài giảng (lecture notes), bài nộp (assignments), bài thi (tests, exams), tuy có nhiều lúc làm tôi lên cơn đau bao tử nhưng chúng đã mang lại những kết quả khả quan. Những tài liệu này đã đáp ứng được những nhu cầu (up-to-date and relevant materials) của ngành nghề (industry) mà nhiều khi không tìm được trong các sách giáo khoa.Vì vậy mà tôi càng cảm thấy thích thú trong việc tiếp tục đi tìm kiếm tài liệu (manuals, drawings, reports, specifications, videos …) và những kỹ thuật mới lạ (new technology) trong ngành công chánh và trong lãnh vực khoa học và kỹ thuật để rồi tôi phổ biến phần kiến thức này trong những môn học mới cũng như cũ mà tôi đã từng hay đang giảng dậy .

Trong quãng đời đi dậy tại College, tôi đã được chứng kiến rất nhiều những thay đổi trong ngành giáo dục tại tỉnh bang Ontario. Trong thập niên 90, sự thay đổi có tác động mạnh mẽ nhất tại College, theo tôi, chắc đó là hiện tượng “đa dạng” (diversity) trong hệ thống giáo dục tại Ontario liên quan tới gốc gác của sinh viên và ban giảng huấn. Số sinh viên da mầu (visible minority), các di dân nói chung (immigrant) mà Anh Ngữ không phải là tiếng mẹ đẻ (non native speakers of English) đã lên tới 45% của tổng số sinh viên không những tại trường tôi mà còn tại các Colleges khác nữa. Vì là một người di dân (immigrant) mà Anh Ngữ không phải là sinh ngữ mẹ đẻ của tôi (mother tongue) cho nên tôi có thể cảm nhận và thấu hiểu được những cái khó khăn của sinh viên di dân (immigrant students) trong lãnh vực học hành như: sinh ngữ, khác biệt về văn hóa, những kỳ vọng trong xã hội mới (expectations in the new society), những khó khăn về tài chánh, lòng nhớ quê quán cội nguồn (homesickness), đời sống gia đình và xã hội gặp nhiều khó khăn, cũng như nghề nghiệp và tương lai bấp bênh của họ. Trong tư thế của một giáo sư, tôi còn đóng vai trò của một người bạn, một người hướng dẫn (mentor, guide), một người cổ võ (advocate), một người cố vấn (adviser), một mẫu người để họ noi theo (role model) trong xã hội mới hội nhập.

Tôi thường hay trò truyện với học trò trong lớp học cũng như ngoài giờ học và vì vậy mà tôi được biết nhiều về họ hơn. Cũng chính vì vậy mà tôi biết cách để làm sao tôi có thể giảng dậy cho có hiệu quả hơn cho cả lớp.Thầy trò tôi đâm ra tránh được ít nhiều những xích mích với nhau. Trong những giờ phút giảng dậy và học hỏi (teaching-learning process), thầy trò chúng tôi không thấy không khí căng thẳng cho lắm (stressful moments). Nhờ giao thiệp với các sinh viên, các đồng nghiệp, các bạn hữu trong trường cũng như ngoài xã hội mà đời sống của tôi được thêm phong phú hơn (enriched) vì chính bản thân tôi đã học hỏi được ở họ những kinh nghiệm cá nhân, sự khôn khéo (wisdom) và những điều hay trong nền văn hóa của họ (cultures)… Tôi cũng đã từng gặp nhiều bà mẹ của học trò khi họ đến văn phòng nhờ tôi đóng vai một người cha để chỉ dẫn và bắt buộc con trai của họ phải đi học cho đều đặn (regular class attendance) và học hành cho có kết quả khá hơn. Xin thú thực với quý vị rằng cái “bổn phận bất đắc dĩ” này chẳng có dễ dàng gì hết mà thực sự ra cũng chẳng phải là “bổn phận trong nghiệp đoàn giáo chức” của tôi nữa nhưng tôi cũng đã có hai con trai nên tôi thông cảm với các bà mẹ này nên tôi hứa tôi sẽ cố gắng giúp họ được chút nào hay chút ấy.Tôi cũng đã bị một, hai “quý tử” trả lời “Việc gì tới Ông Thầy!?” (Mind your own business!) nhưng mà kỳ diệu thay, sau đó tôi thấy tay “yêng hùng” đi học đều đặn trở lại. Không những thế, sau khi các “đứa con nuôi bất đắc dĩ” này của tôi đã ra trường và đi làm, họ đã gọi điện thoại cho tôi để nói lời cám ơn và :

“Mẹ em cũng gửi lời hỏi thăm Thầy và cám ơn Thầy nữa đấy, thưa Thầy!”

Tự nhiên tôi cảm thấy có một đại gia đình (extended family), thật là trân quý biết bao.

Tôi xin “vào đề” và nói rõ về Phương Thức Giảng Dậy (Principles of Teaching) mà tôi đã áp dụng trong nhiều năm:

1.0

Vấn đề truyền thông (Communications)

Theo tôi nghĩ, đây là một việc hết sức quan trọng. Các thầy/cô có thể làm cho học trò thêm hứng khởi (motivated) trong công việc giảng dậy và học hỏi (teaching-learning process) nhưng ngược lại, các thầy/cô cũng có thể làm cho học trò nản chí (turned off) qua các bài giảng (lectures, lesson plans), qua các cử chỉ và lời ăn tiếng nói của họ trong lớp học hay cách ứng xử của họ khi tiếp xúc với học trò.

Nghệ thuật ăn nói tùy thuộc vào:

1.1

Soạn bài (Lecture preparation, lesson plan)

Tôi xin mạn phép méo mó nghề nghiệp viết theo khía cạnh của ngành kỹ thuật mà tôi biết khá rành rõi. Hầu hết các môn học trong ngành kỹ thuật đều có phần thực hành trong các phòng thí nghiệm (hands-on components), phòng vẽ (drafting room, Auto Cad lab, field work).

Tôi đã từng phải tự ý kiến tạo (design) và thực tập (conduct) những bài học trong phòng thí nghiệm (laboratory experiments). Vì nhà trường không đủ ngân sách để thuê thêm chuyên viên làm việc trong các phòng thí nghiệm , trước khi vào lớp, chính tôi đã phải tự ý kiểm soát tất cả những dụng cụ liên quan tới bài học đó trong phòng thí nghiệm và phải tự hỏi rằng liệu sinh viên có đủ thì giờ và dụng cụ để làm xong các phần thí nghiệm trong những giờ thực tập của họ không? Các bài học trong phần thí nghiệm (lab experiments) liệu có thể giúp học trò hiểu rõ thêm phần lý thuyết không? Tôi thường chỉ dẫn học trò đi theo từng bước một (step-by-step method) từ dễ đến khó (logical and numerical sequence) trong những giờ làm thực tập cũng như trong các giờ học trò ngồi học ở trong lớp (lecture, tutorial sessions). Nhờ phương pháp chỉ dẫn này mà tôi có thể móc nối khá dễ dàng được các bài giảng trong lớp đến các chương (chapters) trong sách giáo khoa và tài liệu học tập (textbook, reference book, handout materials …), các bài tập và các bài nộp (exercises and assignments) và các đề án (projects)…

Thầy/cô không nên ỷ y cho rằng ”điều này quá dễ, chắc là học trò biết hết rồi mà”! Thực ra, có rất nhiều điều, học trò chẳng biết, hoặc là chưa biết gì hết. Chẳng biết có phải tại học trò đã bị đuối sức trong những năm học ở trung học hay không!?

Các bài thi (tests, exams) được soạn thảo với mục đích để đo lường khả năng (measure) xem học trò đã hiểu và có thể áp dụng được những phần họ đã học đến mức độ nào? Các bài tập, bài nộp và đề án có mục đích làm cho học trò thực tập các bài giảng để họ thấy “thích thử lửa” (challenging) mà tự tìm hiểu hoặc là chính họ sẽ đến gặp tôi để hỏi thêm. Học trò phải làm các bài tập, bài nộp, đề án ở nhà trước để họ tự ý biết những phần nào họ bị lúng túng và không hiểu để rồi trong giờ giảng dậy sau đó, tôi sẽ giải nghĩa cho họ hiểu rõ ràng hơn và tôi sẽ chỉ dẫn cho họ cách làm bài. Sinh viên sẽ phải tự ý làm các bài giải để mà họ “học hành là để biết những điều mình không biết hay không hiểu để rồi tự đó mà học hỏi cho đến nơi, đến chốn”.

Ðể tránh nạn “cọp dê” (copy), tôi thích ra các đề thi theo lối “mở sách” (open book tests/exams). Lời văn viết trong mỗi câu hỏi (questions) trong đề thi (test/exam papers) thì giống nhau nhưng đề thi trong lớp lại có 3 loại các con số khác nhau (3 different sets of given data) cho nên trong giờ thi, tôi có 3 loại đề thi A, B, C (test papers A, B, C).Học trò không thể viện lý rằng “đề thi của em khó quá so với đề thi của bạn em” vì rằng tất cả các đề thi A, B, C đều giống nhau về cách chấm bài và cho điểm nhưng chỉ khác nhau ở các con số (given data) mà thôi. Trước khi vào lớp, các đề thi đã được xếp theo thứ tự A, B, C, A, B, C…và tuyệt nhiên học trò không hề hay biết cái “món ăn chơi này” của chúng tôi! Sau khi các sinh viên đã ngồi vào chỗ đâu vào đó, người coi thi cứ việc đi theo từng giẫy bàn (rows of tables) mà phát đề thi theo thứ tự A, B, C, A, B, C, A, B, C … kia. “Quân gian” khó lòng mà có thể tráo được các đề thi để mà A ngồi cạnh A, B ngồi cạnh B, C ngồi cạnh C được. Ðây là một bài học mà nhà giáo chúng tôi đã học được qua những “kinh nghiệm chiến trường cọp dê” của các “yêng hùng vua cọp dê người bạn láng giềng” để đối phó với họ cho “hợp lý, hợp tình”!.

Trong lãnh vực khoa học, kỹ thuật, các chuyên viên kỹ thuật (technicians, technologists), các kỹ sư … thường phải dùng đến các “handbooks” (sách cẩm nang chuyên môn cho ngành nghề), các “manuals” (sách chỉ dẫn), các sách giáo khoa (textbooks, reference books), các đồ thị (graphs, charts, tables) và họ phải thật hiểu rõ cách dùng những tài liệu này để mà lấy các dữ kiện (data-gathering) để rồi dùng trong các bài giải (solution) cho các câu hỏi trong đề thi . Lối thi “mở sách” (open book tests/exams) giống như khi học trò đang đi làm vậy: họ phải biết cách tự đi tìm các tài liệu để mà áp dụng cho các phần giải đáp. Mà thật ra cái phần tính toán giải đáp (analysis and problem solving) mới là phần chính và phần “mở sách” chỉ là phần phụ giúp cho sinh viên đi kiếm các dữ kiện mà thôi. Sinh viên phải thật hiểu các câu hỏi của đề thi để phân tích rồi đặt phương trình để đưa đến đáp số (answer). Sinh viên mà bí quá thì cũng chẳng thể “cóp đại” người “hàng xóm” được vì thực sự là họ có 2 đề thi khác nhau! Cọp dê bài của người bên cạnh là “giẫm trúng mìn” liền!

Người viết đã cảm thấy “đỡ nhức đầu” khi phải trả lời những câu hỏi “cổ như trái đất” của các chàng/nàng “gà mờ” như:

  • Thầy ơi, bạn em nó được 10 trên 10, tại sao Thầy lại cho em zero điểm trong khi em có cùng đáp số y như bạn em?

Tôi sẽ sàng trả lời:

  • Em mang bài của bạn em và của em lên đưa cho tôi coi, tôi sẽ trả lời em, OK?

Rất nhiều lần, ông thầy sau khi xem 2 đề thi của “đôi bạn song sinh”, đã chu chéo la lên:

  • Trời đất ơi, bài thi của em thuộc loại “A” (giả dụ như có 360 con gà), trong khi đó bài thi của bạn em thuộc loại “B” (giả dụ như có 630 con gà, trông hơi giông giống như 360 con gà vậy!). Một đằng có 360×2=720 chân gà, một đằng có 630×2=1260 chân gà thì làm sao mà hai đề thi của 2 em có thể có cùng chung một đáp số được?

Cả lớp nghe khoái trí, cười rộ làm “đôi tri kỷ” cảm thấy “quê một cục” trước mặt các “bá quân văn võ“ và không dám phàn nàn gì thêm nữa.

Các “yêng hùng” mà làm khó dễ hay nặng lời với thầy/cô, thầy/cô bèn đề nghị “đôi ta” lên gặp ông/bà Trưởng Phòng (Program Co-ordinator) để người này phán quyết, đỡ phải cãi vã tay đôi cho mất thì giờ của thầy/cô!

Sách giáo khoa (textbooks) càng ngày càng đắt tiền cho nên tôi đã cố gắng dùng chung một cuốn sách giáo khoa cho 2 môn trong 2 học kỳ (Semesters) khác nhau để giúp học trò đỡ tốn tiền mua sách. Ðây là một việc làm chẳng đặng đừng nên tôi đã phải soạn ra và cho nhà trường đem in phần bài soạn thêm (Supplementary Lecture Notes, Laboratory Manuals) mà sách giáo khoa không có. Phần in thêm này được bầy bán trong hiệu sách nhà trường (college bookstore), giá rẻ mạt so với cuốn textbook và dĩ nhiên là “tác giả bất đắc dĩ” chẳng nhận được đồng xu teng nào để mà mua quà bánh cho vợ con! Ðược cái an ủi là học trò không hề than phiền về vụ phải mua thêm phần tôi viết vì họ thừa biết là họ đã được một “good deal” (giá hời) đỡ phải tốn tiền mua thêm một cuốn sách giáo khoa mắc mỏ (giá chừng 150 dollars Canadian một cuốn).

1.2

Giảng bài trong lớp (In-class lecture delivery)

Học trò hay viện cái “lý sự cùn” như:

  • Thế hôm nay tụi em có phải học phần nào quan trong lớp không hả Thầy?

hay

  • Tại sao tụi em lại phải học cái phần này, thưa Thầy?

Ðể tránh những câu hỏi này, trước khi vào đề, tôi thường kể một câu truyện liên quan tới đề tài mà tôi sắp giảng dậy và sau đó tôi đặt câu hỏi cho học trò để cho họ có cơ hội thi nhau tìm hiểu và trả lời. Lấy một thí dụ: Trong giờ Ðịa Chánh (Field Surveying), cách dễ nhất để đo chiều cao của một cái cao ốc (building) là trèo lên sân thượng rồi thả cái đầu thước đo xuống đất và đọc con số của chiều cao. Trên phương diện thực tế, làm như vậy thật là khó. Tôi hỏi học trò các lý do khó khăn này và tôi cũng hỏi học trò cho biết cách làm sao mà ước lượng cho khá chính xác chiều cao của cái cao ốc đó.

Ðây là cách vào đề trực tiếp (direct approach) để tôi dậy học trò cách sử dụng cái máy đo góc (transit) mà chúng tôi dùng trong phần Ðịa Chánh. Tôi mang cái transit ra, đặt tạm tại một vị trí cho vững, rồi đo bề dài theo chiều ngang (horizontal distance) – tạm gọi là “L” – từ cái transit theo chiều thẳng góc đến cái building ( giả dụ là một chân tường của lớp học). Sau đó, học trò sẽ dùng máy để mà đo góc giữa đường ngang chân trời (horizontal line “L”) và nóc của building (tạm gọi là góc “A”).Tôi đứng cạnh cái transit để chỉ rõ cho học trò chiều ngang “L” và góc “A” rồi vẽ trên bảng đen cái họa đồ đó . Vẽ xong, tôi hỏi học trò cách tính chiều cao – tạm họi là “H”- của building. Lúc này là lúc học trò thích “chỉ” cho thầy biết cách tính toán ra sao: (H = L x tanA).

Sau khi học trò đã hiểu nguyên lý, tôi dần dần chỉ dẫn học trò tất cả các chi tiết sử dụng transit và đọc góc cho thật chính xác. Nói tóm lại, tôi muốn học trò phải lắng nghe và chú ý đến (focus) đề tài mà tôi sẽ nói tới và tôi đặt câu hỏi với học trò để họ trả lời thay vì chỉ một mình tôi nói trong lớp mà thôi. Có những đối thoại và vài câu pha trò giữa thầy/cô và học trò mới có cái lý thú trong lúc giảng dậy và học trò mới không buồn ngủ trong lớp học vì chính họ cũng đang “diễn tuồng” (getting involved with the teaching-learning process)!

Thầy/cô cần phải nói (tiếng Anh hay ngôn ngữ dùng trong lớp học) cho đúng (precise), ngắn gọn và giản dị (short sentences and simple words), nói to (loud voice) để cho cả lớp nghe thấy rõ ràng, dễ hiểu và để gây uy thế của thầy/cô với học trò (in control of the classroom); điệu bộ của nét mặt và chân tay cho tự nhiên (good body language) để học trò cảm thấy như đang được xem một cái “show” cho đỡ buồn ngủ (interested)! Tính hài hước (sense of humour) của thầy/cô làm cho học trò/người nghe cảm thấy tươi vui, thoải mái (entertained) và nhờ vậy mà thầy/cô và học trò dễ phá tan được cái bức tường vô hình (invisible barrier) ngăn cách giữa thầy/cô, học trò và nhất là đề tài đang được trình bầy không khô khan và khó hiểu.

Chữ viết của thầy/cô trên bảng đen cần phải rõ ràng (good/neat handwriting), quy củ (organized) và các hình chiếu (overhead transparencies) trên phông (screen) đâu ra đấy sẽ giúp học trò thấy thoải mái (less stressful) và dễ theo kịp thầy/cô hơn (easy to follow, effective communication skills). Ngoài ra, đây cũng là lúc mà học trò còn học hỏi được nghệ thuật ăn nói trước công chúng (public speaking) để sau này họ sẽ đỡ bị bỡ ngỡ khi chính họ phải trình bầy một vấn đề gì cho nhân viên trong sở.

Trong lớp, thây/cô nên hỏi học trò:

  • Các em có theo kịp thầy/cô không? (Are you with me / do you follow me?). Nếu không hiểu, các em cứ giơ tay lên mà hỏi, OK?

Tôi còn hay hỏi thêm:

  • Nếu có ai trong lớp này bị khuyết tật (handicapped), xin cho tôi biết với!

Ở tỉnh bang Ontario, Canada, các sinh viên bị khuyết tật như: loạn sắc (colour blind), lãng tai (hearing problem), chậm hiểu (slow learning)… thường được nhà trường cho hưởng những quyền lợi đặc biệt. Thầy cô nên biết trước để biết cách chỉ dẫn cho họ một cách có hiệu quả hơn và cũng để chuẩn bị tinh thần luôn.

Thầy/cô cần phải nghiêm túc (professional)  khi trả lời các câu hỏi của học trò và cổ võ học trò hỏi thêm để họ thực sự hiểu bài giảng ở trong lớp. Cách ăn nói (communication skills) vừa cởi mở (easy-going), vừa đi thẳng vào vấn đề (direct approach) mà lại thêm phần pha trò làm cho thầy/cô và học trò thấy vui vẻ (enjoyable), thoải mái (relaxing, less stressful), nhất là cho các thầy/cô trong lúc giảng dậy.

Thầy/cô nên tránh tối đa lối nói gièm pha học trò (belittle students), thí dụ như:

  • Dễ như vậy mà tại sao em lại không hiểu? Chắc em không đọc sách thêm chứ gì? Thôi, đừng hỏi tiếp nữa cho đỡ mất thì giờ của tôi ở trong lớp, OK? Em về nhà đọc thêm phần sách giáo khoa đi! (Everything is in the textbook, just read it!).

Học trò sẽ có nhiều phản ứng dội ngược lại (strong reactions) đối với thầy/cô vì họ cảm thấy bị chạm tự ái (belittled, humiliated), chán nản (frustrated, turned off) và do đó họ trở nên “tác yêu tác quái trong lớp” (rebellious) để trả đũa lại với thầy/cô (get even with the teacher). Một số thầy/cô đã mắc phải lỗi lầm này và vị giáo sư Trưởng Phòng (Program Co-ordinator) đã phải nghe các sinh viên than phiền đến điếc tai về thầy/cô vì cách ăn nói này đã làm cho học trò không muốn tới lớp học của các thầy/cô này nữa. Trong nhiều trường hợp, một số sinh viên còn cùng nhau lên gặp vị Khoa Trưởng (Faculty Dean) với hy vọng là nhà trường sẽ có thái độ rõ rệt với các thầy/cô này.

2.0

 Giáo dục ngoại lớp (Non-class-room education)

Nhà giáo chúng tôi đã thấy có nhiều sinh viên khi đi học thì học rất giỏi nhưng khi ra đời thì lại lẹt đẹt về nghề nghiệp và đời sống riêng tư của họ nữa. Thoạt đầu, chúng tôi không rõ ngã ngũ ra sao. Sau nhiều lần cùng ngồi xuống để mà bàn luận, mổ sẻ, tìm nguyên nhân, chúng tôi nhận thấy cách ứng xử (interpersonal skills) thuộc về phần “thông minh cảm xúc” (emotional intelligence quotient, viết tắt là EQ) là cái đầu mối để đưa con người tới thành công hay thất bại khi bắt đầu ra đời làm việc.

Phần thông minh đầu óc (Intelligence quotient, viết tắt là IQ) giúp con người suy nghĩ, học hành dễ dàng hơn và nhà trường thường chỉ chú trọng tới phần IQ này mà thôi! Phần “thông minh cảm xúc” (EQ) giúp con người biết cách ứng xử để rồi thành công và thăng tiến trong nghề nghiệp. Cho tới bây giờ (năm 2005), nhà trường vẫn chưa có các ngân khoản hay phương tiện giúp cho học trò để họ có thể học hỏi (learn), áp dụng (practice) và thâu nhận (acquire) phần “thông minh cảm xúc” này trong lớp học hàng ngày (regular classes). Các sinh viên nói trên có phần IQ khá cao nhưng phần EQ theo chỗ chúng tôi nhận xét thì lại khá thấp cho nên mới ra như vậy.

Tôi đã tạo cơ hội cho sinh viên để cho họ có thể hiểu biết thêm, áp dụng và thâu nhận phần ”thông minh cảm xúc” này bằng cách tham gia vào các sinh hoạt ngoại khóa như:

  •  

Các Hội quán (Clubs) cho sinh viên

  • Hội quán cho các sinh viên ngành Công Chánh của Centennial College: Club này được thành lập năm 1980 và đóng cửa theo ngành vào năm 1995. Tôi là giáo sư hướng dẫn (professor and adviser)
    • Hội quán cho các sinh viên ngành Bảo Vệ Môi Sinh của Centennial College: Hội này được thành lập vào năm 1991 và vẫn còn hoạt động mạnh mẽ sau khi tôi về hưu năm 2002
    •  Hội Ái Hữu Sinh Viên – Cựu Sinh Viên Việt Nam của Centennial College: Hội này được thành lập năm 1985 và bành trướng mạnh mẽ vào năm 1994. Tôi là một trong những sáng lập viên của hội (founding members) và cũng là Giáo Sư hướng dẫn từ năm 1985. Sau khi tôi về hưu, tôi vẫn còn là Giáo Sư hướng dẫn.

Các Hội Quán này hoàn toàn do các sinh viên quản trị và điều động các chương trình hoạt động. Nhờ vậy mà sinh viên học được cách ứng xử, cách tổ chức, cách ăn nói giữa đám đông và làm việc trong tinh thần đồng đội và thiện nguyện (volunteer team work). Cũng nhờ vào các clubs này mà Centennial College đã thâu nhận được thêm nhiều sinh viên mới qua sự giới thiệu của các “club members” (hội viên của các clubs). Ngoài ra, một số sinh viên mới ra trường đã kiếm được việc do các cựu sinh viên hiện đang làm việc trong công kỹ nghệ giới thiệu và “chỉ đường dẫn lối” cho biết cách ăn nói cho đúng cách trong lúc được “job interview” (phỏng vấn). Cũng nhờ các hội viên của các clubs này mà nhiều sinh viên của chúng tôi cũng như cá nhân tôi đã móc nối được với giới công kỹ nghệ (industry) và được giới này trợ giúp rất nhiều về phần kỹ thuật (technical know how, cho các tài liệu “mới ra lò”) và phần kiếm việc cho sinh viên (job placement).

Hội Ái Hữu Sinh Viên Việt Nam đã tổ chức các buổi sinh hoạt như: Tham dự ngày triển lãm thế giới hàng năm (Annual International Day) tại College, các buổi nói truyện về học hành và nghề nghiệp, các sinh hoạt thể thao (bowling, indoor/outdoor soccer, badmington), đi cắm trại, đi picnic, dạ vũ Giáng Sinh (Christmas party), ăn Tết Nguyên Ðán (Vietnamese Lunar New Year celebration), ăn mừng các tân khoa (graduation dìnner party), hướng dẫn các tân sinh viên trước khi tựu trường (orientation session) … Nhiều sinh viên tốt nghiệp đã có những cơ sở thương mại tại Việt Nam và Canada khá thành công tạo một niềm vui cho College và cộng đồng Việt nam sở tại.

2.2

Các nhóm Email (Email groups)

Các sinh viên của ngành Công Chánh, Bảo Vệ Môi Sinh, Hội Ái Hữu Sinh Viên Việt Nam đều có nhóm Email riêng của họ để tiện việc loan báo cho nhau biết các tin tức về học hành, công ăn, việc làm, các tiến triển về ngành nghề (technical changes, new technology), các sinh hoạt văn hóa – xã hội… Các tân sinh viên và cựu sinh viên đã trao đổi tin tức với nhau rất là thoải mái, mặc dù là họ chưa hề gặp nhau nhưng họ cảm thấy gần gũi nhau hơn vì họ học chung cùng một chương trình tại cùng một College.

Tôi đã học được nhiều bài học quý giá về các kinh nghiệm hoạt động ngoại khóa (extra curricular activities) này khi còn là một sinh viên đang theo học tại đại học New South Wales, Úc Ðại Lợi và tôi cũng đã từng hăng say tham dự các sinh hoạt sinh viên lúc bấy giờ. Sau khi bắt đầu đi dậy, những kinh nghiệm rút tỉa được qua các sinh hoạt ngoại khóa này đã giúp ích cho tôi rất nhiều trong việc ứng xử, điều động, nghệ thuật ăn nói trước đám đông, sinh hoạt chung với sinh viên … Trong cương vị một giáo sư và nhất là giáo sư hướng dẫn của các “clubs”, tôi muốn chia xẻ và truyền lại cho các sinh viên những kinh nghiệm quý báu mà tôi đã may mắn có được trong thời đi học và dậy học .

Sang đến thế kỷ 21, trên mạng lưới toàn cầu (worldwide web) đã có nhiều các bài viết về ngành nghề (technical papers) rất mới mẻ và bổ ích cho sinh viên trong nhiều môn học. Thầy-trò chúng tôi đã tận dụng triệt để các bài viết này để bổ túc cho phần “lecture notes”, một điều mà tôi không dám mong ước trong các thập niên trước đó . Bắt đầu từ năm 2001, sinh viên còn mang máy hình digital (digital cameras) vào lớp và xin phép tôi cho họ chụp hình những phần tôi viết trên bảng đen trong giờ dậy học vì lý do

“Tụi em viết chữ vừa chậm lại vừa xấu xí nên không chép kịp. Các hình ảnh này sẽ giúp chúng em “ghi chép” vừa nhanh, vừa rõ ràng lại vừa có thì giờ nghe Thầy giảng bài”!

Năm 2000, nhà trường đã bắt đầu rục rịch dậy hàm thụ qua Internet (ngày xưa gọi là Correspondence Study, sau đó đổi là Distance Learning và bây giờ – năm 2005 – được mệnh danh là online education). Online education rất là tiện lợi cho sinh viên vì họ không phải mất thì giờ lái xe đi học, họ chỉ cần có Computer và Internet; nhà trường thì tha hồ mà “vỗ tay reo” vì càng có nhiều sinh viên ghi danh, nhà trường càng thu nhận được nhiều tiền. Chỉ khổ cho nhà giáo phải ngày đêm đầu tắt mặt tối mà đánh vật với bài vở, thi cử, trả lời Email, chấm bài qua Internet, đưa bài lên mạng lưới…! Hú hồn là tôi đã về hưu non và thoát nợ được cách giảng dậy trên xa lộ thông tin này: mệt thân, mệt óc, mệt mắt lắm lắm vì phải đọc bài của học trò đến hụt hơi … quý vị ơi!

2.3

Các Giải Thưởng (Awards)

Ðể khuyến khích sinh viên trong việc học hành cho thật giỏi khi theo học chương trình mà chúng tôi giảng dậy, với sự giúp đỡ và trợ cấp về tiền bạc của nhiều giáo sư trong Phân Khoa Kỹ Thuật, chúng tôi đã may mắn lập ra được một số giải thưởng bằng hiện kim trao hàng năm cho sinh viên như:

  • Giải Thưởng của ban giảng huấn ngành Công Chánh (Civil Faculty Award) từ năm 1981 cho đến năm 1995 khi ngành Công Chánh phải bắt buộc đóng cửa .
  • Giải Thưởng của ban giảng huấn ngành Bảo Vệ Môi Sinh (Environmental Protection Faculty Award) bắt đầu từ năm 1994.
  • Giải Thưởng của ban giảng huấn ngành Sinh Vật Học (Biological Technology Faculty Award) bắt đầu từ năm 1998.
  • Giải thưởng Gia Long (Gia Long Award) bắt đầu từ năm 1994, với sự trợ giúp về tiền bạc rất hồ hởi của các chi em cựu học sinh trường trung học Gia Long, tôi đã là người trung gian giữa nhóm Gia Long Toronto với Centennial College. Nhà trường đã phát giải thưởng Gia Long cho một nữ sinh viên Canadian, không phân biệt chủng tộc, có điểm số cao nhất trong Phân Khoa Kỹ Thuật.

Các giải thưởng này đã mang lại một tác dụng rất sâu đậm tới những sinh viên được lĩnh thưởng. Nữ sinh viên Maria Campos, gốc người Phi, đã viết cho tôi như sau:

“Số tiền mà em nhận được qua giải thưởng của các giáo sư trong ngành Sinh Vật Học đã được em dùng để mua sách giáo khoa cho học kỳ thứ 4 (Semester 4). Em cũng xin báo tin cho Thầy biết là chính Thầy cũng là một trong những người đã giúp em được thành công trong đời. Em xin chân thành cám ơn Thầy và xin Thượng Ðế ban phước lành cho Thầy!”

Ðể kết thúc bài viết này, người viết chỉ biết xin thưa cùng quý vị là tôi rất yêu thích nghề đi dậy bởi vì biển học mênh mông, học cả đời không hết và nhất là cái tình người đối xử với nhau (human bondage) đã làm tôi say mê và trân quý đời đi dậy. Tôi đã học được rất nhiều từ các sinh viên, bạn hữu ở trong trường cũng như ở ngoài xã hội. Những vị này và gia đình, anh chị em của tôi đã là niềm hứng khởi (inspiration) giữ chân tôi ở lại với mái trường thay vì là tôi “bay nhẩy” trong cương vị của một kỹ sư chuyên nghiệp (professional engineer) trong các công, tư sở ở ngoài đời. Tôi đã rất may mắn được sống trong cả hai văn hóa Ðông Phương lẫn Tây Phương để mà hấp thụ được nhiều cái hay, cái đẹp của hai nền văn hóa này. Tôi cố gắng tìm cách chia xẻ những điều này với học trò của tôi cũng như là các kiến thức ngành nghề mà tôi đã may mắn học hỏi được trong rất nhiều năm.

Tôi đã giảng dậy từ trong tâm huyết của tôi (from the bottom of my heart), từ trong cái trí tò mò luôn luôn muốn học hỏi (inquisitive mind) và tôi đã cố gắng dùng hết khả năng của mình trong cương vị của một giáo sư để góp phần vào ngành giáo dục đa văn hóa tại Ontario, Canada trong 32 năm dậy học. Tôi vẫn còn yêu thích nghề đi dậy nhưng thân xác đã thấy khá mệt mỏi với nghề nghiệp này rồi: con tằm đã thấy thấm mệt trong cái kiếp“con tằm nhả tơ” rồi! Chỉ xin ghi lại nơi đây những gì tôi đã thu nhận được qua những kinh nghiệm dậy học mà tôi rất trân quý mà thôi.

Ðàm Trung Phán      

Giáo sư hồi hưu

Centennial College. Toronto,

Canada August 29, 2005 / Feb. 2020

ÐỜI ÐI DẬY: Bước đầu bỡ ngỡ

Ðàm Trung Phán

HAI.

Ngay sau khi đi khám bệnh và làm các thủ tục giấy tờ xong, tôi đi làm liền vì theo lời ông Trưởng Phòng trường Công Chánh (Civil Technology Department Chairman) “mình muộn rồi đấy, anh bạn trẻ à!”

Tôi thức dậy thật sớm để đi làm chả là vì từ cái “basement apartment” của chúng tôi, tôi phải đi bộ ra trạm cuối của xe bus cũng mất 10 phút. Ngồi trên xe bus mất 15 phút mới tới trạm xe điện ngầm (subway station). Ði xe điện ngầm từ Bắc xuống Nam đến khu đổi xe điện ngầm mất 10 phút rồi đổi xe điện ngầm đi về hướng Ðông mất chừng 15 phút nữa. Ra khỏi xe điện ngầm, tôi lại phải lấy xe bus mất chừng 5 phút mới tới cái “campus” (khuôn viên) của nhà trường. Vị chi là gần 1 tiếng đi trên xe bus và xe điện ngầm, chưa kể thì giờ đứng đợi 2 lần xe bus và 2 lần xe điện ngầm. “Chính phủ tại gia“ (“spousal government”) và tôi đồng lòng “ký hiệp ước” để hai chúng tôi dọn nhà đến gần nhà trường hơn và cũng rất tiện cho “chính phủ” đi làm việc.

“Nhà mới” mà chúng tôi thuê là một “apartment” ở tận trên lầu cao nhất (penhouse) của một cao ốc (building) vừa mới xây xong. Từ cái trung cư (complex) của chúng tôi, chúng tôi có thể đi bộ trong một cái cầu có mái (catwalk) để đi thẳng vào trạm xe điện ngầm mà không sợ mưa hay bão tuyết hành hạ. Từ cái “nhà mới” này, tôi đi “subway” mất có 5 phút và thêm 5 phút đi xe bus là tôi tới trường rồi. Về phần “chính phủ” thì T. chỉ mất chừng nửa tiếng đồng hồ ngồi trên subway và xe điện (street car) là tới sở làm tại ngay trung tâm (downtown) của thành phố Toronto. Cái “apartment” còn mới nguyên xi và cái “building” này còn rất bụi bậm và ồn ào vì họ đang xây thêm hai cái “buildings” nữa trong cái trung cư này. Ðứng trên ban công (balcony) của “apartment”, chúng tôi có thể nhìn thấy một phần nào của thành phố Toronto một cách khá nên thơ, nhất là vào ban đêm khi ánh điện giăng đèn. Chuyện “nhà cửa” và công ăn việc làm của đôi uyên ương kể như là đã tạm yên ổn sau khi chúng tôi lấy nhau được một năm rưỡi.

Tôi thích đi bộ hay đi xe đạp đi tới trường nhưng mà “cuốc bộ” từ trường về nhà sau giờ làm việc thì thật là “bá thở” nên tôi mua ngay một cái xe đạp có thể gấp lại được (folding bicycle) rất tiện lợi trong việc di chuyển và cất xe trong “apartment” cũng như tại trường. Mỗi buổi sáng sớm, tôi ăn sáng thật no và đạp xe tới trường: xe lên dốc trên đường tới trường và ban sáng chừng khoảng mười giờ rưỡi là thấy đói bụng rồi, vừa đúng lúc “coffee break”! Buổi chiều tối, trên đường về nhà, tôi cứ việc thả dốc mà đi về, thật là tiện cho vì lúc này không còn sung sức như ban sáng nữa.

Sáng hôm đầu tiên, tôi đến trường rất sớm và chưa có ai đến đến hết. Tôi mở cửa Phòng Thí Nghiệm Vật Liệu Xây Cất (Construction Materials Testing Laboratory), không còn thấy “hoa cả mắt” nữa vì lần đầu tiên khi giáo sư Tom Level và George Sen dẫn tới phòng này, tôi đã thấy các dụng cụ nằm ngổn ngang trên các bàn thực tập của sinh viên (work bench), trên sàn nhà và trên cái “bàn giấy tương lai” của tôi. Thú thực là lần đó, tôi cảm thấy rất thất vọng vì tại sao lại có thể bừa bộn như vậy được? Mãi về sau, khi đã “quen nước, quen cái”, tôi mới biết rằng vị giáo sư phụ trách phòng thí nghiệm này đã có nhiều xích mích trầm trọng với Ông Trưởng Phòng và ông ta xin được việc tại một College khác nên đã “chơi đòn” (sabotage) ông McKnight “cho bõ ghét”. Khổ nỗi người “bị ăn đòn” đau điếng là tôi chứ không phải là ông Trưởng Phòng McKnight vì ông giáo sư kia đã dấu hết các tài liệu chỉ dẫn cách sử dụng các dụng cụ (Instruction manuals). Ngoài ra nhiều dụng cụ, đồ đạc bị mất vài bộ phận nhỏ. Ðúng là số bị “chó cắn áo rách” vì tôi đã có quá ít thì giờ để làm việc mà còn phải mò mẫm mãi để đoán thử cách sử dụng các dụng cụ sau khi đã “mò” ra được các bộ phận thiếu sót từ trong các hộc tủ (drawers), trong các tủ có ngăn khóa (locked cabinets). Cũng may cho tôi là trong cái “campus” này của chúng tôi còn có trường Cơ Khí (Mechanical Technology Department) với cái nhà máy (shop) đầy đủ các dụng cụ, vật liệu, đồ phụ tùng …nên tôi đã nhờ anh chàng chuyên viên cán sự (technician) giúp trong việc sửa chữa dụng cụ. Hú hồn, thật là may mắn được “quái nhân phò trợ” nên tôi đã có thể sửa chữa các dụng cụ trong một thời gian kỷ lục.

Trường Công Chánh của chúng tôi (Civil Engineering Technology Department) không nằm trong cái “building” của Warden Campus -một trong 2 “campus” của Centennial College – mà lại ở “riêng một góc trời”! Văn phòng của Ban Giảng Huấn chúng tôi là một “portable office” (căn phòng có thể di chuyển được vì không có nền móng cố định như của một căn nhà hay một building thực sự). Riêng tôi có 2 văn phòng: một cái chung với các giáo sư và một văn phòng ở ngay trong Phòng Thí Nghiệm Vật Liệu Xây Cất. Phòng thí nghiệm này và phòng Thực Tập Vẽ (Drafting Room) của sinh viên nằm trong một căn nhà gạch một tầng, tách rời khỏi “building” của “campus” và nằm ngay bên cạnh Văn Phòng “portable” của chúng tôi trong một khu đất dành riêng cho Trường Công Chánh. Ngoài ra “department” của chúng tôi còn có Phòng Thí Nghiệm về Thủy Ðộng Học (Hydraulics and Hydrology Laboratory), Phòng Thí Nghiệm về Cơ Học Ứng Dụng (Applied Mechanics Laboratory), phòng chứa dụng cụ về Ðịa Chánh (Field Survey Storage Area). Mỗi phòng thí nghiệm này nằm riêng trong 2 “lab portables” khác nhau.

So với các phòng nghiệm của Trường Công Chánh, Phòng Thí Nghiệm thử Vật Liệu Xây Cất (Construction Materials Testing Lab) lắm dụng cụ nhất và hay được dùng nhất trong cả hai học kỳ Mùa Thu và Mùa Ðông (Fall and Winter semesters) cho nên ông McKnight đã chấp thuận cho tôi “ở lì” trong phòng thí nghiệm này với một đường giây điện thoại riêng biệt cho tôi nữa.

Tôi chỉ có được 2 tuần lễ làm việc để trước khi nhà trường bắt đầu khóa học Mùa Thu năm 1970 và trước mắt, tôi chỉ thấy hết việc này đến việc khác phải làm xong trước cái “deadline” cắc ké này đó là chưa kể cái mối lo sợ nhất của tôi: chưa hề dậy học lần nào mà tôi lại là một người da vàng gầy nhom, mặt còn non choẹt trong một lớp học da trắng to con mà học trò tuổi từ 18 trở lên, có người còn hơn 30 tuổi và nghịch như quỷ sứ! Việc đầu tiên là phải xếp đặt và dọn dẹp tất cả các dụng cụ đang nằm ngổn ngang trong phòng thí nghiệm này. Cái khó khăn nhất là tôi phải biết được các bộ phận (parts) nào đi với các dụng cụ (equipments) nào. Tôi phải cố gắng kiên nhẫn quan sát từng thứ một trong khi đó phải định kế hoạch làm sao cho có đủ thì giờ dàn xếp công việc để có thể chỉ dẫn cho sinh viên trong phòng thí nghiệm này ngay trong ngày tựu trường của niên khóa Mùa Thu năm đó.

Trong những ngày tháng này, lúc nào tôi cũng phải lo lắng và nhiều lúc thấy sốn sang trong dạ dầy!

Ðến xế trưa, ông Trưởng Phòng John McKnight đến gặp tôi trong Phòng Thí Nghiệm:

– Chào anh bạn trẻ! (Hi, young fellow!) Anh thấy cái phòng thí nghiệm này ra sao?

-Thưa Ông, chắc tôi cần rất nhiều thì giờ để “vật lộn” với nó quá vì dụng cụ thì mỗi thứ một nơi và nhiều dụng cụ mất ốc, mất lò so và các bộ phận nho nhỏ. Tôi phải tạm thời dẹp chúng vào một bên để có chỗ làm việc cái đã.

Ông chậm rãi hút píp thuốc lá (tobaco pipe), lâu lâu lại đánh diêm châm cái píp và dùng cái píp gãi râu mép và thong thả nói với tôi:

-Tôi biết là anh sẽ vất vả với các phòng thí nghiệm này lắm nhưng thôi, mời anh lên phòng tôi, phòng 1098, lúc 1 giờ chiều hôm nay để tôi giới thiệu anh với tất cả các giáo sư và bà thư ký của Trường Công Chánh. Chúng ta sẽ họp để phân chia công việc. Gặp anh sau, OK?

Ông Trưởng Phòng lúc này cũng đã gần 60 tuổi và tôi mới 28 tuổi. Con trai duy nhất của ông cũng cỡ tuổi tôi nên ông hay gọi tôi bằng “young fellow” là vì vậỵ. Ông học xong bằng Cao Học Kỹ Sư Công Chánh (Master of Applied Science in Civil Engineering) tại Ðại Học Toronto chuyên môn về Structure (bộ môn tính toán và kiến tạo các bản vẽ trong ngành Công Chánh) trước khi tôi sinh ra đời. Ông đã từng là Kỹ Sư Trưởng về Structure (Structural Chief Engineer) tại Canada, Hoa Kỳ và Brazil.

Năm 1965 khi chính phủ tỉnh bang Ontario thiết lập 22 trường Cao Ðẳng (Community Colleges, còn được gọi là Colleges of Applied Arts and Technology), chính phủ bắt đầu tuyển lựa các Viện Trưởng (College Presidents) cho các trường Cao Ðẳng. Các vị viện trưởng này là những người đã từng có kinh nghiệm dậy tại Ðại Học, kinh nghiệm đi làm trong các hệ thống chính phủ hay công/tư sở, phải có tài tổ chức hệ thống hành chánh cho nhà trường và phải quen biết lớn trong xã hội để dễ bề móc nối (lobby) và những mong lấy thêm được phần tài trợ ngoài phần tài trợ của chính phủ cho hàng năm.

Vị Viện Trưởng đầu tiên của trường Centennial College khi tôi bắt đầu làm việc là ông John Harr. Ông Harr là người bổ nhiệm ông Khoa Trưởng đầu tiên của Phân Khoa Kỹ Thuật Frank Pounsett sau khi ông Pounsett đã được “lọt sàng” trong việc tuyển chọn của “Uỷ Ban Tuyển Chọn Khoa Trưởng Phân Khoa Kỹ Thuật”. Ông Frank Pounsett còn “già” hơn ông McKnight nữa: ông học xong Cao Học ngành Kỹ Sư Ðiện tại Ðại Học Toronto năm 1934. Ông đã từng làm Vice President của hãng Phillips of Canada trước khi ông trở thành vị Khoa Trưởng đầu tiên của Phân Khoa Kỹ Thuật (School of Engineering Technology).

Chính Phủ tỉnh bang Ontario (Ontario Provincial Government) thiết lập các trường Cao Ðẳng với mục đích chính là để đào tạo các chuyên viên có ngành nghề rõ rệt trong các phân khoa thương mại, kỹ thuật, truyền thông, y tế, mỹ nghệ, giao thông … và sau khi các sinh viên này đã ra trường, họ có “tay nghề vững chắc” và sẵn sàng làm việc ngay. Các giáo sư dậy Cao Ðẳng phải là những chuyên gia vừa có bằng cấp lại vừa có kinh nghiệm thực tiễn liên quan tới ngành họ dậy. Nhiệm vụ chính của họ là dậy học chứ không phải là làm nghiên cứu (research work) như các Giáo Sư Ðại Học. Vì những lẽ đó mà ngay từ năm 1965, khi hệ thống các trường cao đẳng được thành lập tại tỉnh bang Ontario (có 22 trường Cao Ðẳng cả thẩy), các viên chức quan trọng của mỗi College được tuyển lựa theo một quy luật chặt chẽ và rất là tỉ mỉ.

Khi tôi bắt đầu làm việc vào tháng 8 năm 1970 thì ông Pounsett đã về hưu nhưng ông vẫn còn tiếp tục làm việc với nhà trường trong chức vụ của một Cố Vấn (Consultant). Chính ông Khoa Trưởng đã phỏng vấn và bổ nhiệm ông Trưởng Phòng Công Chánh John McKnight vào năm 1966. Ông John McKnight có nhiệm vụ tuyển lựa các giáo sư và nhân viên cho Trường Công Chánh.

Các giáo sư đầu tiên của Trường Công Chánh chúng tôi gồm có (xin tạm không dùng tên thật):

  • Ông Tom Level chuyên dậy các môn về Ðịa Chánh. Ông là một Ontario Land Surveyor (Ðịa Chánh gia chuyên nghiệp, có cái triện nổi để đóng dấu trên các bản vẽ Surveying Drawings). Ông đã từng có công ty riêng với nhiều năm kinh nghiệm trong nghề.
  • Ông Don Pike chuyên dậy các môn về Ðường xá, Vật liệu xây cất, Kiều lộ và trông coi các Phòng thí nghiệm. Ông đã từng là một Kỹ Sư Chuyên Nghiệp (Professional Engineer của Hội Kỹ Sư Tỉnh Bang Ontario, có triện riêng để đóng dấu trên các bản vẽ) làm việc với Bộ Giao Thông của Tỉnh bang Ontarion (Ontario Ministry of Transportation). Vì bất đồng ý kiến với ông Trưởng Phòng John McKnight nên ông Pike đã chuyển sang một College khác và tôi được tuyển dụng để “trám vào một phần cái lỗ trống” này.
  • Ông George Sen chuyên môn dậy bộ môn Cơ Học Ðất Ðá (Soil Mechanics), Kiều lộ (Public Works). Ông là một Kỹ Sư Chuyên Nghiệp và đã từng làm việc với các hãng Kỹ Sư Cố Vấn (Consulting Engineering firms). Ông gốc người Tích Lan (Ceylon, Shri Lanka)
  • Ông Rajah Singh chuyên dậy bộ môn Tĩnh Lực Học (Statics), Cơ Học Áp Dụng  (Applied Mechanics), Sức Chịu Ðựng của Vật Liệu (Strength of Materials). Ông đã từng làm Giáo Sư dậy các môn này tại một Trường Công Binh bên Ấn Ðộ và ông cho biết Sinh Viên của Ông phần lớn đã là sĩ quan cấp tá nên ông đã thấy “quen tai” khi thấy học trò gọi ông là “Sir” rồi. Ông cũng hay gọi ông Trưởng Phòng John McKnight là “Sir” luôn!

Ông McKnight có hoài bão đào tạo các chuyên viên của trường Công Chánh tại Centennial College chuyên môn về:

  • Structure (bộ môn tính toán và kiến tạo các bản vẽ trong ngành Công Chánh): phụ giúp các Kỹ Sư Chuyên Nghiệp trong công việc tính toán (calculations), kiến tạo (design), vẽ các đồ án (drafting), ước lượng (estimating), kiểm tra (inspection) các công trình xây cất (construction projects)…
  • Field Surveying (các công trình địa chánh): phụ giúp các Ðịa Chánh gia chuyên nghiệp (Ontario Land Surveyors), các Kỹ Sư Chuyên Nghiệp (Professional Engineers) trong việc đo đường, định hình thù và các công tác xây dựng đường xá, cầu cống, cao ốc, nhà cửa, ước lượng vật liệu và giá cả (estimating)…
  • Kiều Lộ (Public Works): phụ giúp các Kỹ Sư Chuyên nghiệp về Kiến Tạo (design), Xây Cất (construction), Kiểm Tra (inspection) các đồ án như: đường xá, cầu cống, nhà máy lọc nước uống, nhà máy lọc nước cống, điều động việc hốt rác, chôn rác, hốt tuyết cho thành phố…

Mùa hè năm 1970, nhân dịp ông Don Pike từ chức, Ông Trưởng Phòng McKnight đã được phép tuyển người thay thế ông Pike đồng thời tuyển thêm 2 giáo sư khác. Ngoài tôi, hai Giáo sư khác là:

  • Ông Ian Thomas. Ông là 1 Kỹ Sư Chuyên Nghiệp và đã có 7 năm kinh nghiệm làm việc với các hãng Kỹ Sư chuyên môn xây cầu và xa lộ, đường xá trong thành phố. Ông Thomas và tôi sẽ thay thế ông Pike và chúng tôi có nhiệm vụ nghiên cứu để mở thêm các môn học mới dựa theo các môn học và kinh nghiệm sở trường của chúng tôi, điều mà ông Trưởng Phòng đã mơ ước từ mấy năm trước. Ông Thomas gốc người Trinidad, Trung Mỹ.
  • Ông Rick Chan: Ông Chan là một “Structural Engineer” chuyên về kiến tạo các kiến trúc công chánh, cùng một “lò” với ông McKnight. Ông gốc người Tầu và sinh quán tại Jamaica. Ông đã có 6 năm kinh nghiệm đi làm với chức năng của một Kỹ Sư Chuyên Nghiệp. Ông Chan sẽ phụ trách dậy các môn dính dáng tới “Structural Design” (kiến tạo các dự án), “Structural Analysis” (tính toán các sức lực trong mỗi phần của một dự án) và ông phải soạn thảo các “course outlines” (chương trình giảng dậy của môn học) liên quan tới phần “Structure” để ban giảng huấn chúng tôi bàn luận và sửa đổi cho hợp với Chương Trình Công Chánh (Civil program) học trong 2 năm hay 3 năm (Civil Engineering Technician program – 2years, and Civil Engineering Technology program  – 3 years) trước khi chúng tôi được Ủy Ban Học Trình Toàn Trường (Academic Council) của College chấp thuận trong việc giảng dậy. Những năm về sau, tất cả các chương trình dậy (Academic Programs) thí dụ như Chương Trình Ðiện Tử, Công Chánh, Cơ Khí … đều phải nộp lên cho Bộ Ðại Học và Cao Ðẳng  (Ministry of Universities and Colleges) duyệt xét để cho tất cả các chương trình dậy nghề trong 22 Colleges khác nhau được đồng đều. Vì lý do đó, ban giảng huấn chúng tôi phải sửa đổi (revise) lại cả cái Chương Trình Công Chánh gồm có biết bao nhiêu các môn học khác nhau. Công việc này tuy rất tốn thì giờ nhưng đây cũng là cơ hội để ban giảng huấn chúng tôi cập nhật hóa chương trình giảng dậy với sự trợ giúp của rất nhiều các chuyên gia đầy kinh nghiệm trong ngành nghề và hiện đang giữ những chức vụ quan trọng trong công kỹ nghệ.

Tôi là nhân vật trẻ tuổi và ít kinh nghiệm nhất trong Department. Tôi chưa kịp có nhiều kinh nghiệm đi làm ngoài đời như các bậc đàn anh nhưng tôi lại có những kinh nghiệm thực tiễn mà nhà trường đang cần và các bậc đàn anh lại không có. Tôi có 3 năm kinh nghiệm trong cương vị một Kỹ Sư Kiến Tạo Ðập Nước (Dam Design Engineer) khi tôi làm việc với chính phủ Úc. Thêm đó là 2 mùa hè tôi làm phụ tá (assistant) cho các Kỹ Sư Xây Cất (Construction Engineer) khi tôi là một sinh viên đi thực tập trong những tháng hè. Cái kinh nghiệm “quý giá” của tôi mà ông Trưởng Phòng và 2 vị giáo sư kia đánh giá khá cao là cách đo các áp lực của nước trong lòng đất (water pore pressure). Kinh nghiệm này tôi có được là do tôi phải đi khám xét (inspection) các dụng cụ đo áp lực của nước khi họ đang xây đập nước tại Wyangala Dam trong nội địa Úc. Khi tôi trở về Sydney, tôi được vào làm trong phòng thí nghiệm đo lường áp lực của nước, mức lún (consolidation) của đất dưới sức nặng của xe cộ, của các công trình xây cất … Tôi cũng đã rất may mắn được ông Kỹ Sư trưởng phòng thí nghiệm thử đất, đá của “Water Conservation and Irrigation Commission” tại Sydney chỉ dậy cho tôi rất ngọn ngành và đặc biệt là ông ta hay gọi tôi là “My Son”(“Tiểu Tử của ta”). Mỗi lần mà “Tiểu Tử” không hiểu điều gì, “Sư Phụ” lại từ tốn ngồi xuống mà giảng dậy trên giấy trắng, mực đen cho dến khi “Tiểu Tử” hiểu ngọn ngành. Nhờ vậy mà tôi thông suốt được với môn Cơ Học Ðất Ðá (Soil Mechanics) mà nhiều bạn hữu trong ngành Công Chánh của tôi ở Úc cũng như ở Canada mệnh danh là môn học đầy “bí ẩn” (mistery subject) vì sách giáo khoa hồi đó rất ít mà các phường trình thì nhiều và rất là “bí hiểm” chẳng được sách vở hay các giáo sư giải thích rõ ràng! Trong khi đó, các dụng cụ thực tập trong phòng thí nghiệm trong Ðại Học lại thô sơ mà nếu có chăng nữa thì cách sử dụng lại rất là “ở chốn dân gian không thể hiểu”! Các vị giáo sư đàn anh của tôi ở trong Department đều biết rõ điều này, ngay cả ông giáo sư và kỹ sư thâm niên nhất trong ngành – ông George Sen – đều biết đến các “điều bí ẩn” này. Không ngờ vì “Tiểu Tử” đã được “Sư Phụ” truyền dậy cho các “bí kíp” của “những điều bí ẩn” trong môn Cơ Học Ðất Ðá, “Tiểu Tử” đâm ra may mắn có một cây gậy dẫn đường cho hắn đi vào cuộc đời dậy học bất đắc dĩ lúc ban đầu khi “Tiểu tử” này chưa biết cuộc đời đi làm sẽ ngã ngũ ra sao!

Chính vì tôi có những “bí kíp” để hóa giải những “điều bí ẩn” trong cách sử dụng những dụng cụ trong phần Thí Nghiệm Thử Ðất Ðá (Soil Mechanics Testing) và các vật dụng xây cất (Construction Materials Testing) mà ông John McKnight, qua sự ưng thuận của 2 giáo sư Tom Level và George Sen,  cả 3 người này đã quyết định tuyển lựa tôi với kỳ vọng là Department của chúng tôi về sau này sẽ đào tạo được các sinh viên chuyên môn về Thử Ðất Ðá (Soils, Sands, Aggregates), Xi Măng (Cements), Bê Tông (Freshly Mixed and Hardened Concretes), Gỗ (Timber), Nhựa Ðường (Asphalts and Asphalt concretes), Kim Loại (Metals)… mà nền kỹ nghệ của Canada đang cần tuyển lựa nhiều chuyên viên trong thập niên 70 và 80.

Khi mới bắt đầu làm việc trong College này, tôi chỉ muốn “lánh nạn” trong trường ít lâu để tiếp tục đi kiếm việc làm của một Kỹ Sư Chuyên Nghiệp trong ngành Công Chánh tại Canada. Không ngờ rắng những “bí kíp” mà “Sư Phụ” đã truyền lại cho “Tiểu Tử” này đã mở đường cho tôi đi vào một ngã rẽ của cuộc đời nghề nghiệp mà lúc đầu tôi cứ nghĩ là chỉ để làm tạm thời trong lúc chờ thời cơ nhưng rồi cuộc đời dậy học về sau đã đem lại cho tôi biết bao là niềm vui và lòng phấn khởi cho nên tôi đã quyết định “ở vậy” với nó cho tới khi đủ điều kiện để về hưu non!

Ðàm Trung Phán

Mississauga, Canada

Dec.4, 2005 / Feb.6, 2020

ÐỜI ÐI DẬY: NGHỀ VÀ NGHIỆP

Ðàm Trung Phán

MỘT

Thân phụ của tôi là một nhà giáo. Lúc tôi lên tám, anh P. chín tuổi, hai anh em được theo chân thân phụ đi học xa nhà.

Vì là một nhà giáo nên thân phụ chúng tôi “gò” anh em chúng tôi dữ lắm. Không phải chỉ riêng hai đứa chúng tôi mà cụ còn “gò” tất cả các anh chị em chúng tôi kể cả các anh con của bác chúng tôi nữa. Khi còn bé tí thì cụ đã bắt chúng tôi đồ (tô) bằng bút mực các hàng chữ bút chì mà chính tay cụ viết. Chúng tôi mà tô không đúng nét hay cẩu thả thì chỉ có “ăn thước kẻ” vào tay mà thôi! Xong cái vụ “đồ chữ” là cụ dậy chúng tôi cách đọc, viết tiếng Việt, làm toán đố từ lúc mới học cho đến Lớp Nhất luôn. Ðến khi bắt đầu học tập làm luận văn và tiếng Pháp, cụ đích thân dậy từng đứa một vì cụ sợ chúng tôi bị mất căn bản ngay từ đầu. Cụ giảng nghĩa từng chữ một (vocabulaire) rồi đến phần văn phạm (grammaire), cách đặt câu và cụ bắt anh em chúng tôi phải đọc to phần lecture để xem chúng tôi đọc có đúng không.

Tôi những tưởng đã “thoát thân” sau khi học xong tiểu học. Ðâu ngờ rằng lên đến Trung Học, thân phụ chúng tôi vẫn tiếp tục dậy thêm cho anh P. và tôi môn Việt văn và Pháp văn. Vốn bản tính “thích chơi hơn thích học” nên mặc dù cụ muốn dậy cho tôi thêm chữ Hán, tôi “né” rất tài tình. Từ lúc học Ðệ Thất lên Ðệ Tứ, tôi thường phải đọc to các bài thơ văn tiếng Việt. Bố tôi nghe thấy là thế nào bố tôi cũng giải thích những chữ khó của từng câu văn để cho tôi hiểu rõ ý nghĩa của bài văn đó. Tôi thường hay gật đầu văng mạng để cho xong chuyện, xong càng sớm thì càng được đi chơi ngay với bạn bè. Anh tôi, với bản chất văn chương cho nên anh ấy hay ngồi chăm chú nghe cụ giảng bài hơn tôi vì thế mà cuộc đời về sau này, anh ấy có “vốn liếng” về văn chương nhất là chữ Hán hơn tôi nhiều.

Nhiều đêm khuya, khi mở mắt thức giấc, tôi vẫn thấy bố tôi ngồi đọc sách hay chấm bài cho nên cảm thấy “ớn đến xương sống” cái nghề đi dậy học của bố tôi. Thêm vào đó, bố tôi lại rất cẩn thận từ lời ăn, tiếng nói đến cách hành xử trong đời nữa. Vì vậy mà tôi đã hoạch định rõ ràng chương trình cho tương lai: tôi sẽ không bao giờ nối gót chân cụ vào cái nghề đi dậy đâu!

Tôi sẽ đi học Y Khoa, vì theo ý tôi nghĩ, tôi sẽ giúp ích cho thiên hạ được một cách thực tế mà ban đêm lại không phải ngồi soạn bài và chấm bài nữa. Ngoài ra, ngành Y khoa sẽ cho tôi nhiều cơ hội để đi dây, đi đó cho thỏa cái ý thích giang hồ kỳ thủy của tôi.

Thế là tôi đã có “kế hoạch” cho tương lai rồi và sau khi đậu xong Tú Tài, tôi quyết định đi học Y Khoa. Chỉ khi học dự bị Y Khoa, mới biết rằng tình trạng tài chánh của thân phụ (mẹ mất lúc tôi học Ðệ Lục) không thể cáng đáng nổi cho tôi học 7 năm Y Khoa được. Lý do chính là vì thân phụ tôi đã về hưu và cha mẹ đã trắng tay khi gia đình chúng tôi di cư vào Nam năm 1954. Tôi thi đậu vào Quân Y nhưng lại “rớt” môn sức khỏe vì lúc đó tôi quá gầy yếu.

Tôi  may mắn “thoát thân” bằng cách “thi đậu” được học bổng Colombo Plan đi học ngành kỹ sư Công Chánh tại Úc Ðại Lợi. Ít nhất thì tôi cũng sẽ tránh né được nghề đi dậy cái đã. Hồi còn học Trung Học, xem ciné thấy hình “bà chị” Marilyn Monroe chèo cái bè trên dòng sông nước đang chẩy như vỡ bờ, tôi đâm mê cái hình ảnh “bà chị” đẹp vừa khỏe mạnh lại vừa lồ lộ đang chống chỏi với dòng nước. Tôi mơ ước là ngày sau sẽ có cơ hội đi xây cất tại những nơi khỉ ho cò gáy để chế ngự những dòng nước đang lôi kéo “bà chị” xinh đẹp này. Ngành Công Chánh cho tôi ít nhiều cái đam mê của tuổi đang lớn. Tôi đã may mắn ra trường và hành nghề kỹ sư chuyên về kiến tạo (design) và xây cất (construct) các đập nước trong nội địa Úc. Ban ngày, đi làm cho chính phủ Úc, ban đêm tôi đi học part time ngành Cầu Ðường (Highway Engineering) chuyên môn kiến tạo và xây cất các đường xá và các cây cầu bắc qua các sông, ngòi. Rồi lại còn lấy vợ mà lại là vợ Việt Nam trên xứ lạ quê người nữa! Ôi chao, đời tôi sao lúc đó giống như trong mơ, đang trúng xổ số không bằng!

Nhưng mà cơn mơ của tôi bỗng đâu”đứt giây cót” và đôi vợ chồng trẻ vừa mới lấy nhau được 5 tháng thì chính tôi đã phải “dắt” vợ bay từ xứ Úc sang Canada lập nghiệp. Chuyện xẩy ra rất là đột ngột y hệt như trong loại truyện “Mission Impossible” vậy! Chúng tôi tới Vancouver trước. Ở Vanvouver, cặp vợ trồng son cùng nhau đi kiếm việc hợp với nghề nghiệp của mỗi đứa. Tôi hăng say đi gõ cửa từng hãng kỹ sư lớn của Vancouver, những mong kiếm ra việc hợp với kinh nghiệm của tôi. Nhưng hồi 1969, 1970, xứ Canada đang rất “hót” (rất hợp với chữ “hot” trong Anh ngữ!) về vụ ông Thủ Tướng Pierre Trudeau đẹp trai, trí thức, không những đã chịu chơi mà lại còn “chưa có vợ” nữa nên rất nhiều nơi họ chỉ “hót” những truyện cà kê dê ngỗng về ông Thủ Tướng “không/chưa có vợ” này mà thôi. Tôi đâm chán cái cảnh “có vợ mà không có job ở Vancouver” của tôi mà cứ phải nghe hoài cái truyện “ông thủ tướng không có vợ mà có job ngon lành ở Ottawa” này nên tôi bàn truyện với “chính phủ tại gia” (“spousal government”) về vụ rời khỏi Vancouver và chúng tôi quyết định dọn sang vùng Toronto lập nghiệp.

“Chính phủ” của tôi may mắn hơn tôi nên chỉ sau một tháng tại Toronto là nàng đã kiếm được việc. Thật hú vía, thế là cặp vợ chồng trẻ chúng tôi may mắn có đủ tiền để mua thịt cá mà ăn thay vì cái món “mì chay 7 món” cho 7 ngày trong tuần! Rồi sau đó 2 tháng “chính phủ” của tôi được thăng chức và trở thành một “Full time permanent Librarian” (Quản thủ thư viện). Thế là chúng tôi thấy vững bụng hơn và có ý định “xin nhận nơi này làm quê hương dẫu có …cãi nhau”!

Tôi vẫn tiếp tục đi kiếm việc trong ngành Công Chánh. Cái mộng kiếm được việc trong ngành xây đập nước tại Canada rất khó mà thực hiện được vì xứ Canada không còn xây đập nước như xứ Úc nữa. Rồi một hãng cho tôi việc đi kiếm quặng mỏ tại Manitoba, nơi khỉ ho cò gáy và phải đi làm ngay trong mùa đông năm đó. Trước khi tôi ra công trường để nhận việc, ông Xếp dặn tôi tới gặp ông ta ngay để hãng đưa tôi đi mua quần áo. Tôi thấy việc này “hơi lạ” và ngây thơ hỏi:

  • Sao mà tôi phải đi sắm quần áo, thưa Ông?
  • Tại vì rằng nhiệt độ có thể xuống tới -50 (trừ 50!) độ Celscius đó và anh phải có quần áo đặc biệt để chống lạnh thì anh mới làm việc được.

Nghe ông ta nói như vậy làm tôi rùng mình vì ở Toronto những lúc thấy nhiệt độ hạ xuống -20 độ C là tôi đã chịu không nổi rồi, đó là chưa kể đến cái vụ “Wind chill factor” nữa. Tôi bàn với T. (“chính phủ” của tôi) có “nên” nhận cái “job” này không vì tôi rất phân vân. Thành phố Toronto lúc bấy giờ hãy còn khá xa lạ đối với chúng tôi, bạn bè thì chỉ có 3 người quen biết và về sau này tôi mới biết rằng cả thành phố Toronto lúc đó mới có khoảng 50 người Việt Nam mà thôi. Tôi thoáng thấy T. lưỡng lự và có phần “ướt mi” nên tôi không đành lòng để T. ở lại Toronto một thân một mình. Cái yếu tố “Nhân” đã không ổn lại thêm cái yếu tố “Hàn” làm tôi lạnh phát run lên cả thân xác lẫn tinh thần cho nên tôi quyết định “tút suỵt” xin kiếu cái vụ nhận “job” này!

Những lúc T. đi làm, tôi ở nhà một mình. Chúng tôi là dân “lính mới tò te” không dám ho he đụng tới cái hầu bao vì ít tiền nên cặp uyên ương mới 26, 27 tuổi bèn đi thuê một cái “basement apartment” (căn phòng có đầy dủ tiện nghi tại dưới hầm nhà) cho đỡ tốn tiền. Tôi tiếp tục đọc báo và ra thư viện lục lọi báo chí, sách vở để dò xét các hãng nào đang cần kỹ sư công chánh. Lúc nào rảnh rỗi, tôi mang sách giáo khoa (textbooks) ra mà đọc cho “vững tay nghề” (tôi đã đóng thùng mang hết tất cả các sách giáo khoa từ Úc sang Canada). Chúng tôi không còn phải quá lo về vấn đề tài chánh nữa nhưng tôi đã phải nằm nhà mất 7 tháng trời, vả lại, tôi “cầm tinh con ngựa” nên tôi cảm thấy chồn chân nếu cứ phải ru rú ở só nhà cả ngày. Tôi lo việc chợ búa dùm T. và tôi “quen” luôn cả mấy bà bán hàng tại một cái “grocery store” gần nhà. Gặp các bà già là truyện nổ như pháo và họ thường hay hỏi vụ đi kiếm việc đã đến đâu rồi.

Mùa Xuân đến, mùa Xuân vào đầu tháng 5 năm 1970 của chúng tôi thật đẹp tuyệt trần đời sau mấy tháng mùa Ðông băng đá, tuyết lạnh cóng. Chim hót, hoa nở và đi lại dễ dàng biết bao nhiêu so với những tháng mùa Ðông và nhất là tôi không còn phải giam mình trong cái “basement apartment” suốt ngày để tránh cái lạnh nữa. Lúc này, đọc báo, tôi thấy có nhiều hãng kỹ sư (consulting engineering firms) đang cần các nhân viên thử đất, đá, bê tông. Tôi chán cảnh ngồi nhà đợi chờ công việc ngon lành đến, tôi bắc điện thoại và xin đại cái việc tạm thời này. Họ mướn tôi ngay vì tôi đã có khá nhiều kinh nghiệm về phần thử vật liệu (construction material testing) rồi. Công việc này cần phải làm việc bằng tay chân hơn là ngồi tính toán nhưng tôi cảm thấy thoải mái vì ngày nào tôi cũng “đi làm” như ai! Tôi vẫn tiếp tục đọc báo và tôi thấy một số trường Cao Ðẳng (Community College hay College of Applied Arts and Technology) tại tỉnh bang Ontario đang cần nhiều nhân viên kỹ thuật và giáo chức. Tôi thầm nghĩ:

  • Thì mình cứ đi xin việc để “thử thời vận” với các College này. Nếu được “job”, ta sẽ làm tạm thời trong vòng 1, 2 năm. Sau đó, ta sẽ đi kiếm việc Kỹ Sư sau. Cứ coi như đây là thời kỳ chuyển tiếp mà thôi!

Bắt đầu từ năm 1965, tỉnh bang Ontario thiết lập các trường Cao Ðẳng để đào tạo các chuyên viên về Kỹ Thuật, Kế Toán, Thương Mại, Y Tế, Giao Thông …mà các trường Ðại Học không thể đào tạo được. Nền Kinh Tế của Canada hồi đó rất mạnh nên các trường Cao Ðẳng của tỉnh bang Ontario (22 Colleges cả thẩy) được chính phủ tỉnh bang (Provincial Government) và chính phủ liên bang (Federal Government) tài trợ tối đa. Vì lý do đó mà các trường Cao Ðẳng có đủ ngân quỹ để thuê thêm các giáo sư và nhân viên nhà trường. Tôi thấy 2 trường Cao Ðẳng đăng báo cần nhân viên làm trong Phòng Thí Nghiệm của Ngành Công Chánh: Loyalist College và Centennial College. Những kinh nghiệm mà họ đòi hỏi phần lớn tôi đã có khi tôi còn là sinh viên đi thực tập ngành nghề trong những tháng hè tại nội địa Úc. Tôi nộp đơn xin việc tại cả 2 nơi đó.

Loyalist College nằm tại Belleville cách xa Toronto khoảng 2 tiếng lái xe gọi tôi tới “interview” trước. Họ rất “impressed” (“mát ruột”) với kinh nghiệm và bằng cấp của tôi trong lúc nói truyện nhưng sau đó họ đã trả lời trên lá thư “rất tiếc là chúng tôi đã kiếm được người ngay tại trong College rồi”!

Tôi không hề tiếc là tôi không được trường Loyalist cho việc làm vì như vậy cặp vợ chồng trẻ chúng tôi lại phải sống xa nhau trong tuần. Chẳng lẽ T. lại phải bỏ công ăn việc làm ngon lành tại Toronto để mà theo tôi xuống cái “tỉnh lẻ đêm buồn”này sao?

Ngày hôm sau, tôi vừa mới “đi làm” về thì ông John McKnight gọi điện thoại cho tôi:

  • Tôi là Giáo Sư Trưởng Phòng (hồi đó tên tiếng Anh là Chairman) của ngành Công Chánh tại Centennial College. Tôi muốn ông đến gặp tôi càng sớm càng tốt vì chúng tôi muốn “interview” ông!

Tôi tới gặp ông John McKnight ngay ngày hôm sau. Sau khi chào hỏi vài nói vài câu xã giao, ông vào đề ngay:

  • Tôi thực sự không hiểu tại sao mà anh (young fellow) lại bỏ xứ Úc mà sang cái xứ Canada lạnh như quỷ này (cold like hell!) để mà lập nghiệp?
  • Thưa Giáo Sư Trưởng Phòng, chẳng nói dấu gì ông: tôi không phải là dân có quốc tịch Úc. Tôi chỉ là một sinh viên du học có quốc tịch Việt Nam đã tốt nghiệp và tôi đi làm với chức vụ của một Kỹ Sư Kiến Tạo (design engineer) với chính phủ Úc chuyên về xây cất các đập nước. Quê hương tôi đang có chiến tranh khốc liệt. Cha tôi già rồi, già hơn cả ông Chairman nữa và cha tôi khuyên tôi phải ở lại ngoại quốc vì sau biến cố Mậu Thân 1968, rất có thể là Miền Nam nước Việt (South Viet Nam) chúng tôi sẽ mất vào tay Cộng Sản. Tôi cũng nghĩ như cha tôi nên tôi không muốn phải trở về Việt Nam rồi kẹt lại với Cộng Sản vì thế cho nên tôi đã phải tìm cách ở lại ngoại quốc. Tôi không được phép ở lại Úc vì tôi là dân học bổng Colombo Plan. Tôi có giấy tờ đi Pháp. Tôi cũng đã nộp đơn đi Brazil nhưng tôi đã chọn Canada vì tôi nghĩ rằng trên phương diện nghề nghiệp và học vấn, Canada sẽ thích hợp với tôi và vợ tôi hơn!

Ông John McKnight im lặng một hồi và ông ta tiếp tục:

  •  Anh à, thú thực với anh là con trai duy nhất của tôi nó trẻ hơn anh 2, 3 tuổi và cũng vừa mới tốt nghiệp Kỹ Sư Công Chánh như anh và tôi. Nếu mà hắn gặp khó khăn như anh tại ngoại quốc, tôi chẳng biết phải làm gì để giúp hắn nữa! À mà tôi tưởng người Úc chỉ uống bia thôi, họ đâu có uống nước thì họ xây đập nước làm gì nhỉ?

Nói rồi, ông lấy cái píp (pipe) gãi gãi cái râu mép và mỉm cười hiền hậu. Tôi cảm thấy những lời nói của ông đối với tôi như lời của một người cha già đang nói với một đứa con trai đang đi vào nghề vậy. Ông cho tôi biết ông đã tốt nghiệp bằng Cao Học về Công Chánh năm 1939 tại Ðại Học Toronto, trước khi tôi ra đời! Ông muốn biết những môn tôi học bên Úc vì ông muốn được “cập nhật hóa” ngành nghề nhất là môn Cơ Học Về Ðất Ðá (Soil Mechanics); môn học này còn khá mới mẻ trong thập niên 60 và dĩ nhiên ông không hề biết gì về môn này hết vì ông đã ra trường trước đó 30 năm. Môn Soil Mechanics đang là môn rất “hót” (hot) trong kỹ nghệ tại Úc cũng như tại Canada và cũng khá “hóc búa” (hard to swallow) trong việc giảng-dậy (teaching-learning process) tại Ðại Học cũng như tại College. Ông cũng muốn biết tôi có những kinh nghiệm gì trong Phòng Thí Nghiệm về thử các vật liệu xây cất (construction materials testing laboratory) như đất, đá, cát, bê tông, xi măng, kim loại, gỗ và nhựa đường. Ông cho biết Phân Khoa Kỹ Thuật của College đang đi kiếm một chuyên viên có khả năng và kinh nghiệm để chỉ dẫn cho sinh viên các thí nghiệm liên qua tới môn Soil Mechanics và thử nghiệm các vật dụng xây cất. Thật quả là một cái may mắn bất ngờ cho tôi là vì trong 2 mùa hè đi thực tập tại nhà máy điện Munmorah và đập nước Wyangala Dam tôi đã phải vào làm việc trong các phòng thí nghiệm cũng như đi ra ngoài công trường để khám xét các phần đã và đang được xây cất. Sau khi ra trường rồi, trong chức vụ Kỹ Sư Kiến Tạo, tôi còn phải chọn lựa đất (soils), đá (aggregates), cát (sands), xi măng (hydraulic cements), bê tông (concretes) để xây các đập nước khác cho nên tôi cảm thấy rất vững bụng khi tôi mô tả từng phần cho ông McKnight nghe. Tôi biết sử dụng rất nhiều các dụng cụ trong phòng thí nghiệm và nếu cần, tôi còn có thể sửa chữa các dụng cụ này nữa.

Ông còn hỏi tôi thêm về các môn học trong ngành Ðường Xá (Highway Engineering) cấp Cao Học và các kinh nghiệm mà tôi đã liệt kê trong cái “Résumé” (tờ khai về học vấn và kinh nghiệm). Những năm sau này, khi đã dậy một thời gian dài và trở thành Giáo Sư Trưởng Phòng tại College, tôi mới biết những cái khó khăn mà ông McKnight đã gặp phải: nhiều giáo sư rất lúng túng khi phải dậy một môn mới lý do là vì hoặc là họ không thông suốt môn học hay là vì không soạn bài kỹ càng.Vị Giáo Sư trưởng phòng phải nghe sinh viên than phiền đến đau cái đầu. Ngoài ra còn có cái rủi này nữa: khi mà một vị giáo sư nào đau yếu và phải tạm nghỉ dậy, nhà trường rất khó mà có thể kiếm người vào dậy thay cho vị giáo sư đó.Ông McKnight có ý định dùng tôi làm giáo sư thay thế các giáo sư này (giống như các supply teachers ở Trung Học vậy) trong khi đó nhiệm vụ chính của tôi là trông coi các phòng thí nghiệm như Phòng Thí Nghiệ thử Vật Liệu (Construction Materials testing laboratory), Phòng Thí Nghiệm về Thủy Ðộng Học (Hydraulics laboratory), Phòng Thí Nghiệm về Cơ Học Ứng Dụng (Applied Mechanics lab), Phòng Vẽ Kỹ Thuật (Civil Drafting Room) và ngay cả phòng chứa dụng cụ Ðịa Chánh nữa (Surveying Storage).

Sau hơn 90 phút “hỏi cung” tôi, ông McKnight dẫn tôi sang phòng hai ông giáo sư đã đứng tuổi. Hai ông này dẫn tôi đi xem hết tất cả các phòng thí nghiệm và kho chứa dụng cụ Ðịa Chánh. Tại mỗi nơi, hai ông thay phiên nhau hỏi tôi về những kinh nghiệm và lý thuyết của từng môn học liên quan tới các phòng thí nghiệm nàỵ. Hai ông còn hỏi tôi đã có kinh nghiệm giảng dậy chưa. Các kinh nghiệm về làm thí nghiệm thì tôi có khá nhiều nhưng kinh nghiệm dậy học thì tôi chưa bao giờ có và tôi nói với họ như vậy. Nhiệm vụ của hai vị giáo sư này là để họ nhận xét về cách tôi trả lời, cách tôi giảng giải để họ chấm điểm thêm về tôi (“their second opinion about me”) lý do chính là về sau này, tôi sẽ phải làm việc trực tiếp và trợ giúp họ trong những phòng thí nghiệm này.

Sau tất cả 3 tiếng đồng hồ tôi bị “hỏi cung” trong cái “job interview” này, ông Trưởng Phòng -sau khi đã thảo luận với hai vị giáo sư kia- đã nói với tôi:

  • Này anh bạn trẻ (young fellow), tôi không có quyền bổ nhiệm anh nhưng tôi sẽ đề nghị với nhà trường tuyển anh vào làm việc với chúng tôi trong Ngành Công Chánh. Tôi và nhà trường sẽ quyết định về lương bổng cho anh, tôi sẽ cố gắng nói College cho anh hưởng tiền lương tối đa, OK? Anh sẽ làm phụ tá (Laboratory Demonstrator) trông nom tất cả các phòng thí nghiệm. Vài năm sau, khi anh có đủ kinh nghiệm dậy học và Chương Trình Công Chính (Civil Technology Program) có đủ sinh viên, anh sẽ trở thành giáo sư, OK không? Thôi anh về đi, có gì tôi sẽ gọi điện thoại báo tin cho anh sau.

Trên đường về, tôi cảm thấy thoải mái và vui vẻ, chẳng bù với lúc tôi trên đường tới trường lo nghĩ đủ thứ trước khi tôi “được interview”! Tuy nhiên, sau nhiều lần đọc thư của các hãng trả lời, tôi không thực sự dám “tin lời hứa” của ông John McKnight nữa, nhất là sau cái kinh nghiệm với trường Loyalist.

Hai hôm sau, ông Trưởng Phòng gọi điện thoại cho tôi:

  • Anh được nhà trường chấp thuận cho việc làm rồi đó. Tôi có lời chúc mừng cùng anh. Anh có thể đến trường gặp tôi ngay ngày hôm nay được không vì chúng tôi muốn anh đi khám bệnh và làm các thủ tục hành chánh ngay lập tức. Nhớ là mình chỉ còn có hơn 2 tuần nữa là tựu trường rồi đó!

Ðây thực sự là một tin mừng về công ăn việc làm cho tôi, đúng một năm sau khi chúng tôi bỡ ngỡ đặt chân tới miền đất mới này. Trong vòng 2 năm trước đó tôi đã có rất nhiều việc phải lo liệu: học hành, làm việc overtime bù đầu, xin giấy tờ đi Pháp, đi Brazil, đi Canada và nhất là việc tôi đi … lấy vợ nữa! Bây giờ tôi có việc làm trong phòng thí nghiệm với các giáo sư và học trò, mặc dù chưa thực sự là việc mà tôi mong ước nhưng ít nhất tôi cũng có công ăn việc làm không đến nỗi cho lắm và tôi bắt đầu cuộc đời thực sự lưu vong giống như những ngày tháng trước nhưng lại ở một miền “đất hứa thật mới lạ này”.

Tôi những tưởng tôi sẽ tránh né được cái nghiệp đi d ậy giống như cái nghiệp đi dậy học của cha tôi và các cụ tổ trong dòng họ nội của tôi. Tôi cũng không có thể ngờ rằng tôi đang dần dần đi vào cái nghề và cái nghiệp đi dậy kéo dài trong suốt thời gian đi làm của tôi tại Canada. Tôi đã cố trốn tránh nghề đi dậy vì tôi đã có thành kiến với nó lúc ban đầu nhưng rồi dần dần tôi lại rất yêu cái nghề và nghiệp này của tôi cho đến khi tôi về hưu non sau 32 năm trong đời đi dậy.

Ðàm Trung Phán

Giáo Sư hồi hưu

Toronto, Canada

Sept.6, 2005 / Feb 2020

TÔI MUỐN MỜI EM VỀ

Bùi Đức Tính

“Tôi muốn mời em về…

Thăm lại Hà Nội xưa

Cổ Ngư chiều đổ lá

Trong mưa buồn lưa thưa.

Tôi muốn mời em về…

Thăm lại Sài Gòn xưa

Duy Tân chiều say nắng

Uống môi nồng hương xưa.

Tôi muốn mời em về…

Nhưng quê hương tôi quá xa

Bên kia bờ Thái Bình bao la.

Lời nhạc “Mời Em Về” của Việt Dzũng tha thiết, thật quá!

Quê hương tôi quá xa!

Quê hương tôi với sông ngòi, cửa biển và tình người đã quá xa, chỉ còn trong ký ức. Miền Nam tôi, nơi hội tụ của kênh rạch, sông ngòi. Khởi nguồn từ dòng Cửu Long, trải rộng thành các nhánh sông dài, dẫn ra chín cửa biển lớn. Hai nhánh chính là Tiền Giang và Hậu Giang. Như tên gọi, Cửu Long Giang giống chín con rồng uốn lượn, vươn mình ra tận Biển Đông. Nguồn phù sa, nguồn sống cho đất, cho đời người, được truyền dẫn vào sông, rạch, và hàng triệu xẻo, khóm, mương, ngòi… Từ ngàn xưa, Cửu Long Giang với các nhánh sông mang giòng nước êm đềm đầy thơ mộng, cùng hình ảnh những chiếc ghe, chiếc xuồng trên sông rạch, đã gắn bó với đời sống dân làng miền Nam, qua thơ văn, câu hát, điệu hò dân gian nặng nghĩa tình.

Hò ơ… ơi! 

Sông Cửu Long chín cửa, hai dòng,

            Người thương anh vô số,… ơ…

nhưng chỉ một lòng với em!

Nhờ phù sa màu mỡ của sông Cửu Long, miền Nam nước Việt thật đa diện, nổi tiếng với ruộng đồng phì nhiêu, nhiều loại trái cây thơm ngon suốt bốn mùa. Đồng bằng sông Cửu Long là địa đàng của miền Nam, Việt Nam. Không như những sông lớn khác, làng xóm bên sông Cửu Long, không cần phải đắp đê ở hai bên bờ. Hàng năm, vào mùa nước nổi, khoảng tháng Mười âm lịch, sông nước mang phù sa tràn ngập khắp ruộng đồng. Lúc nước rút đi, để lại một lớp bùn. Đây là nguồn phân bón cho ruộng vườn, cây trái; tạo ra một khu vực trù phú độc đáo, ở hạ lưu sông Cửu Long. Nơi đây, chỉ cần một mẫu vườn nho nhỏ, vài công ruộng, dân chúng dễ dàng tạo dựng cuộc sống thong dong, nhàn hạ. Phong cảnh miền đồng bằng sông Cửu Long đầy thơ mộng, quyến rũ, dễ làm say đắm tình người…

Sông nước chằng chịt như mạng nhện đã tạo cho vùng châu thổ miền Nam, những sắc thái và tình cảm riêng biệt. Trải qua hàng bao thế kỷ, gắn bó với sông nước trùng trùng ấy là chiếc ghe, chiếc xuồng. Ghe, xuồng, sông, rạch,… đã trở thành những hình ảnh không thể thiếu vắng, trong đời sống của người dân nơi đây. Chừng như, vùng nước ngọt, lòng người miền Nam ngọt ngào hơn và vùng nước mặn cho tình người thêm mặn nồng.

– Đổi… nước… hơ…ơ… ơ!

Nắng miền biển, nóng gay gắt, chói chang chang. Nắng nung cháy, làm đen sạm thêm làn da trần. Sức nặng của 200 lít nước trong thùng, khiến chiếc xuồng chỉ còn nổi lấp xấp trên mặt sông. Người bơi phải khéo giữ thăng bằng cho xuồng đừng bị lật chìm, và thỉnh thoảng cất tiếng rao mời “đổi nước!” Chữ “nước” được đưa lên thật cao, rồi chuyển sang “hơ ơ” kéo dài, nhỏ dần trong nhịp dầm bơi rào rạt.  Xa trên bờ, người ta chừng như chỉ nghe “… nước hơ… ơ… ơ…” Tuy vậy, dân chúng đều biết, đó là tiếng rao “đổi nước” bên dưới sông; từ chiếc xuồng chở cái thùng “phuy” chứa nước sạch, để cung cấp “nước ngọt” cho người sống quanh đây. Người ta chọn làm cái nghề ít vốn này, lấy công sức chở nước để “đổi” lấy tiền mà sinh sống và gọi là “đổi nước”. Tiếng rao và hình ảnh chiếc xuồng “đổi nước” quen thuộc với người địa phương, ở vùng gần biển, vùng nước mặn; đã có từ lâu đời lắm rồi. Thế nhưng, hầu hết những người xa lạ, chưa từng nghe biết, mới nghe qua tiếng rao mời “đổi nước” trên sông, có phần ngạc nhiên, thường hay thắc mắc: chở nước đi bán lấy tiền, sao không gọi là “bán nước” cho dễ hiểu?

Hiểu ra, với truyền thống chống xâm lược, dù là người dân lao động ít học trong thôn làng, họ cũng biết rằng “bán nước” là một điều sỉ nhục ghi khắc muôn đời trong lịch sử.

Nhắc nhớ đến lịch sử của dân tộc mình. Lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước; với biết bao anh hùng lưu danh thiên cổ và cũng có những kẻ nhục hèn bán nước cầu vinh, lưu xú vạn niên.

Năm 1042, vua Lý Thái Tông sai Trung Thư duyệt xét luật lệ, chấn chỉnh sao cho thích ứng với thời thế, chia ra môn loại, biên thành điều khoản, lập nên bộ luật của triều đại, gọi là Hình Thư. Việc ra đời của Hình Thư cũng như các cơ quan Bộ Hình và Thẩm Hình, được xem là bước tiến quan trọng trong tổ chức điều hành quốc gia thời Lý, tuy hiệu lực vẫn còn hạn chế.

Sau khi ban hành Hình Thư, nhà Lý còn cho ban hành thể lệ chuộc tội: những người già trên 70 tuổi, trẻ con dưới 15 tuổi, người có nhược tật, những người họ nhà vua và người có công nếu phạm tội có thể chuộc tội bằng cách nộp tiền phạt, ngoại trừ những kẻ phạm phải một trong 10 trọng tội, được gọi là Thập Ác. Trong Thập Ác, một trong những trọng tội hàng đầu, chính là “Mưu Bạn Nghịch”, tức là tội bán nước, theo giặc, phản bội tổ quốc. Điều này cho thấy, thật rõ ràng, từ ngàn xưa, tội bán nước đã là một trọng tội, không thể chuộc tội hay tha thứ!

Nhà Trần là triều đại rực rỡ với chiến công ba lần đánh bại giặc Mông-Nguyên, có nhiều vị vua anh minh, tài giỏi và danh tướng anh hùng như Phạm Ngũ Lão, Trần Quang Khải, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, con trai thứ sáu của vua Trần Thái Tông,… Nhất là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, tên tuổi lẫy lừng gắn liền chiến công ba lần đánh bại giặc Mông-Nguyên, loại quân hung hãn và tàn bạo nhất vào thời đó. Chiến thắng đã đưa ông trở thành một trong những nhà quân sự kiệt xuất trong lịch sử thế giới. 

Thế nhưng, thời đó cũng có những kẻ trong giòng họ nhà Trần, bán nước cầu vinh, để lại tiếng xấu suốt ngàn năm, làm bài học cho đến đời nay. Hai tên bán nước thời nhà Trần được nhắc đến nhiều đó là: Trần Kiện và Trần Ích Tắc; nhiều nhất là Trần Ích Tắc.

Trần Kiện là con Trần Quốc Khang, cháu nội vua Trần Thái Tông; vốn người có tài, giỏi thơ văn, thông thạo cưỡi ngựa, bắn cung, được triều đình tin tưởng, được triều đình cho thay cha làm Tĩnh Hải Quân Tiết Độ Sứ và còn được Thượng tướng Trần Quang Khải gả con gái cho.

Năm 1285. Nhà Nguyên đem quân xâm lược Đại Việt lần thứ hai. Phía Bắc, Thoát Hoan cùng A Lý Hải Nha thống lĩnh 50 vạn đại quân tiến sang. Từ phía Nam, Toa Đô đang ở Chiêm Thành, cũng được lệnh mang 20 vạn quân tiến đánh vùng Thanh Hóa, Nghệ An.

Trấn thủ Thanh Hóa là Chương Hiến Hầu Trần Kiện. Tuy được trọng vọng, thay vì chống giữ Thanh Hóa, Trần Kiện lại đem toàn gia quyến đầu hàng quân Nguyên. Trần Kiện đã đầu hàng, theo giặc và trợ giúp cho quân xâm lược, khiến cho quân Đại Việt nhiều trận bị thiệt hại nặng nề. Do phía Nam nước ta bị bỏ ngỏ, Trần Quang Khải được lệnh thống lĩnh quân đến phía Nam, để  đánh chặn quân của Toa Đô.

Trần Kiện theo Toa Đô về gặp Thoát Hoan, được trọng thưởng. Thoát Hoan cho viên tướng Minh Lý Tịch Ban đưa bọn Trần Kiện và con trai Trần Ích Tắc là Nghĩa Quốc Hầu cùng bọn tôn thất phản bội khác về Yên Kinh. Đến ải Chi Lăng, chúng bị quân ta chặn đánh. Trần Kiện bị tướng của Trần Hưng Đạo là Nguyễn Địa Lô bắn chết trên lưng ngựa. Lê Trắc chở xác chủ tướng chạy tiếp đến Khâu Ôn. Nhưng rồi, cuối cùng cũng phải vùi xác tên bán nước Trần Kiện tại nơi đây để chạy thoát thân.

Trần Ích Tắc!

Tắc sinh ra là hoàng tử nhà Trần, có tài văn chương thao lược nức tiếng đương thời, được vua cha và đại thần hết sức khâm phục, quý mến. Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc, nổi tiếng là người tài hoa, hào hoa phong nhã bậc nhất kinh kỳ, một người sành sỏi và tinh tế trong cả văn chương và các ngón chơi, kết giao với những bậc văn nhân học rộng tài cao nhất thời ấy. Là người có tham vọng lớn, tự hào với tài năng của mình, Trần Ích Tắc tự cao, bất phục khi ngôi vua được truyền cho hoàng huynh Trần Hoảng, tức vua Trần Thánh Tông. Lợi dụng cơ hội quân Nguyên sang xâm chiếm nước ta (1285), Tắc đem cả gia đình hàng giặc, và được Hốt Tất Liệt phong cho làm An Nam quốc vương. Khi quân Nguyên bị đánh bại, Trần Ích Tắc phải theo giặc, chạy về Tàu, rồi chết ở đó. Tắc đã bị nhà Trần gạch tên ra khỏi dòng họ, cho gọi là “Ả Trần”, có nghĩa là một người đàn bà họ Trần nào đó. Chỉ vì ham hố danh lợi, Trần Ích Tắc đã tự biến mình thành kẻ bán nước nổi tiếng trong lịch sử, bị nguyền rủa, suốt đời không còn đường về quê.

Đời nhà Lê, cũng có anh hùng và kẻ bán nước!

Kẻ bán nước họ Lê này, khi sinh ra được đặt tên là Lê Duy Khiêm, về sau đổi thành Lê Duy Kỳ; vốn là cháu đích tôn của vua Lê Hiển Tông, được người Việt mình nhắc đến tên qua các bài học lịch sử từ lớp tiểu học, với cái tựa bài dài mà khó quên: “Lê Chiêu Thống cõng rắn cắn gà nhà”. Thống là vua thứ 16, vị vua cuối cùng vào thời Hậu Lê.

Sau khi được Nguyễn Huệ đưa lên ngôi hoàng đế, Duy Kỳ lấy niên hiệu là Chiêu Thống. Vua Lê Chiêu Thống lo ngại uy thế của nhà Tây Sơn. Để bảo vệ triều đại nhà Lê, tháng 7 năm 1788, Thống nhờ Hoàng thái hậu sang Tàu cầu viện Mãn Thanh. Vua Thanh thuận, cấp cho Tôn Sĩ Nghị quân của bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và Quý Châu. Thế là quân Thanh mượn cớ phò Lê, ồ ạt kéo quân sang thôn tính nước Đại Việt.

Lê Chiêu Thống đã “cõng rắn cắn gà nhà”!

Mồng 5 Tết, năm Kỷ Dậu (1789), quân đội Tây Sơn do vua Quang Trung chỉ huy kéo ra Bắc đã đánh tan 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh ở gò Đống Đa, giành lại độc lập cho nước ta.

Thống theo giặc, nên phải chạy thoát thân cùng tàn quân nhà Thanh mà về Tàu. Vua Lê Chiêu Thống phạm tội bán nước, không còn đường quay về với quê hương và dân tộc, chết bỏ xác tại nước Tàu năm 1792. Khác với các vị tổ tiên họ Lê, như Bình Định Vương Lê Lợi, đã có nhiều công lao đánh đuổi quân Minh xâm lược và lập nên nhà Lê; Lê Chiêu Thống lại mang tiếng là ông vua bán nước, kẻ để lại tiếng xấu muôn đời về sau.

Lê Chiêu Thống, thêm một cái tên đã bị lưu xú vạn niên!

Chính vì tinh thần quý trọng Tổ Quốc, dân mình không muốn dùng chữ “bán nước”, dù là tên gọi cho cái nghề tầm thường, bơi xuồng chở nước sạch đi bán cho những người sinh sống dọc theo bờ sông ở vùng nước mặn. Vì chữ “bán nước” nghe rất là trái tai, nên từ xưa đến nay, dân chúng đã thay bằng chữ “đổi nước”.

Đồng bào mình không ai chịu rao gọi “bán nước”!

Trong khi đó, đảng cộng sản tự xem mình là tối cao, trên cả Tổ quốc. Tham vọng và quyền lợi cá nhân của các đảng viên cao hơn quyền lợi của dân tộc. Đảng còn thì các đảng viên cầm quyền còn cơ hội để tiếp tục vơ vét tài sản của nhân dân. Chính vì thế, tập đoàn lãnh đạo cộng sản đã dẹp bỏ lương tri, bất chấp sỉ nhục để cắt đất bán biển cho Trung cộng, hầu được mẫu quốc phương Bắc che chở.

Bây giờ cứ nhắc đến danh xưng “nhà nước” là lập tức đồng bào mình liên tưởng ngay đến hai chữ “bán nước”. Cứ nhắc đến Hoàng Sa, Trường Sa, thì dân Việt khắp nơi trên thế giới lại không thể quên được cái công hàm mà Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đã gửi cho Trung cộng vào ngày 14 tháng 9 năm 1958, nội dung công hàm đó là hiến dâng các biển đảo cho Trung cộng. Người Việt đã không kềm được nỗi uất hận để gọi cái công hàm ấy là “công hàm bán nước”!

Năm 1974, khi hải quân Trung cộng tấn công lực lượng bảo vệ Hoàng Sa của quân đội Việt Nam Cộng Hòa thì nhà cầm quyền Hà Nội không có một lời phản đối, và còn đồng thuận với hành vi xâm lấn đó. Nhà cầm quyền Hà Nội đã bị chủ nghĩa cộng sản hủy diệt lương tri, không còn chút tình nghĩa đồng bào. Trong khi máu đồng bào mình đang chan hòa trên biển Đông, thì đảng cộng sản ở Hà Nội thản nhiên ăn mừng và chúc tụng các “đồng chí” Trung cộng đã chiếm được Hoàng Sa của Việt Nam.

Như hàng năm, hôm Chủ nhật 19 tháng Giêng vừa qua, Cộng đồng người Việt tại Vancouver đã làm Lễ Tưởng Niệm Ngày Hoàng Sa, để tưởng nhớ đến các chiến sĩ Hải quân của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, đã hy sinh trong trận hải chiến chống lại Trung cộng, để bảo vệ Hoàng Sa, lãnh hải của tổ quốc Việt Nam mình. Dân tộc Việt Nam không quên và sẽ không bao giờ tha thứ cho những kẻ đã can tâm ký dâng lãnh hải, qua công hàm bán nước cho Trung cộng.

Thế nhưng, không chỉ có cái công hàm đó. Đảng cộng sản còn có nhiều hành động tiếp tay cho Trung cộng. Chẳng hạn như tấm bản đồ thế giới của bộ Tổng tham mưu, hay tấm bản đồ của cục Đo đạc và các bản đồ thuộc Phủ thủ tướng CSVN cho in ấn, đều có chú thích câu: “Các đảo ở Nam Hải, bao gồm cả quần đảo Nam Sa, tức Trường Sa, là thuộc lãnh thổ Trung Quốc”. Độc hại nhất là họ đã in trong sách giáo khoa môn địa lý, giảng dạy cho học sinh như sau: “Các đảo Tây Sa (tức Hoàng Sa), Nam Sa (tức Trường Sa), cùng đảo Hải Nam và đảo Đài Loan… đã tạo thành một bức trường thành bảo vệ đại lục Trung Quốc”.

Cướp chính quyền ở miền Bắc, rồi xua quân cưỡng chiếm miền Nam. Sau hơn 64 năm trao dồi nghề nghiệp, cái nghề bán nước của đảng cộng sản trở nên tinh xảo, khiến dân tộc đang trực diện với đại họa mất nước.

Có đến nửa diện tích biển tại vịnh Bắc Bộ Việt Nam, cùng biết bao điểm chiến lược, vị trí quan trọng của tổ quốc Việt Nam đã lần lượt bị cắt giao cho giặc Tàu, như Ải Nam Quan, bãi Tục Lãm, thác Bản Giốc, núi Lão Sơn hay còn gọi là cao điểm 1509 thuộc xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang…. Theo tài liệu của World Bank về lãnh thổ quốc gia: Diện tích nước Việt Nam năm 1999 là: 325.490 cây số vuông, đến năm 2015 chỉ còn 310.070 cây số vuông. Như vậy, từ 1999 đến 2015, chỉ trong 16 năm, Việt Nam đã mất 15420 cây số vuông đất liền về tay Trung cộng.

Đã thế, gần đây nhà nước cộng sản còn âm mưu chính thức chia cắt lãnh thổ nước Việt, dâng Phú Quốc, Vân Đồn và Bắc Vân Phong cho Tàu cộng; qua những mưu đồ gian manh và ngôn từ xảo quyệt như “Đặc khu hành chánh – kinh tế”. Chữ “nước ngoài” trong dự luật bán nước ấy, nhắc cho người dân nhớ đến thái độ hèn nhát của đảng cộng sản đã từng gọi tàu, thuyền Trung cộng là “tàu lạ”, khi chúng xâm nhập vào lãnh hải nước ta, đánh, bắt, giết ngư dân người Việt mình. Hơn nữa, mặc dù chưa chính thức ký ban hành luật, nhà cầm quyền Việt Nam đã bao che, cho phép bọn Tàu cộng đã và đang có mặt tại Phú Quốc, Vân Đồn và Bắc Vân Phong, ồ ạt công khai xây dựng 3 cái gọi là “đặc khu” nêu trên rồi!!

Từ hàng chục năm qua, đảng cộng sản Việt Nam đã dọn đường Hán hóa dân tộc Việt Nam cho quan thầy Tàu cộng, qua nhiều cách như: cho mở cửa biên giới phía Bắc để dân Tàu tự do xâm nhập vào Việt Nam, ru ngủ người dân bằng các luận điệu phản quốc như “Đời đời nhớ ơn Trung Quốc”, “Sơn thủy tương liên, lý tưởng tương thông, văn hóa tương đồng, vận mệnh tương quan”, “16 chữ vàng – 4 tốt”…. Ngoài ra, đảng còn ban hành các điều luật 258, 88, 79 và luật An Ninh Mạng với mục đích bịt miệng người yêu nước, sửa sai lịch sử, bảo vệ đảng, bảo vệ chế độ để làm tròn sứ mạng rước giặc vào nhà, rước voi về giày mả tổ, do quan thầy Tàu cộng giao phó.

Tôi muốn mời em về

Thăm lại phố phường xưa

Những chiều trời mưa phủ

Lời yêu nói sao vừa…

Bây giờ, phố phường xưa, quê hương tôi không chỉ quá xa!

Từ Ải Nam Quan, từ các hải đảo chiến lược Hoàng Sa và Trường Sa, từ các công trường, hầm mỏ vùng Tây Nguyên, v.v… bọn giặc xâm lược Trung cộng đang chuẩn bị chiếm đoạt đất nước Việt Nam mình, nhờ công lao bán nước của đảng và nhà nước!

Và…

người còn trốn đi!

Cũng đành thôi!

Tôi không muốn mời em về!

Bùi Đức Tính

Đường Vào Tâm Linh

Đàm Trung Phán

Hôm nay, tôi có cái “duyên” được cảm thấy rảnh rỗi. Bà vợ đi vắng, “một mình một chiếu” thảnh thơi … nằm. Bèn ngưng nằm và lấy giấy bút ghi lại đôi dòng.

Tôi tuy là “Thầy Phán” (Mr. Clerk í mà) nhưng là một … “Thầy Chạy! Thầy Dậy” nên hãi cái vụ “uýnh mái” lắm. Viết bằng tay nhanh hơn và nhất là đỡ đau cái lưng hơn nhiều. Sau đó nhờ người đánh máy dùm!

Thường thường tôi thích nhất là được có một hôm nào đẹp trời, ấm cúng, có mặt trời nhưng không quá nóng, quá lạnh, không mưa gió, bão tuyết hãi hùng mà được ở ngoài Park hay bên cạnh bờ hồ, bờ sông, con lạch rồi có thì giờ ngồi viết… Ý ra tràn đầy như đang mở “faucet” để…”have a bath” vậy. Bèn focus vào một đầu đề nào đó, kiếm ý tưởng chính rồi ngồi ruỗi chân, vuốt mặt và rồi ngồi viết. Sướng lắm cơ. Tay cứ ngồi mà viết y như có người đọc cho tôi viết, viết và viết… Cho tới khi bị “sửa lưng” vì nàng … LƯNG “em” nó đau lắm rồi, ông già ơi! Thế là ông già trên bẩy bó bèn phải xếp bút chì, theo việc… sửa lưng. Bèn phải viết ngay phần kết luận và đứng lên làm vài động tác tay chân rồi đi bộ tiếp.

Tôi đã bỏ rất nhiều thi giờ để tìm phần “content” cho series viết về “Quan niệm về Tâm Linh trong Khoa Cận Tâm Lý của người Tây Phương”. Lý do tại sao tôi viết? Thưa rằng có vài ba người bạn của tôi “sát xà bông” tôi vì tôi đã viết ra những “của cấm” mà họ không ưng ý. Tôi thấy phần “Freedom of information” của tôi bị chèn ép, đè nén chẳng khác gì dân Viet Nam đang bị Cộng Sản đàn áp vậy. Sồ người này vẫn còn muốn bảo tồn quan niệm là TRÁI ĐẤT BẰNG PHẲNG!!!

Ngoài ra tôi còn một số bạn bè chỉ tin vào thứ “thật khoa học” 1+1=2 và khi đọc những gì mà tôi viết rất trong series “Cây Đa Lối Cũ”, “Gọi Hồn người xưa” họ thấy bực bội lắm và thích công kích những gì tôi viết ra. Cũng xin thưa với Quý vị: tôi là một kỹ sư Công Chánh khi đi học và khi dậy học, đầu óc của tôi thường dùng lý luận, đắn đo trong những “design project”… Tôi cũng không thể tin một cách mù quáng trong vụ “Gọi Hồn” và nhất là trong những giấc mơ ngủ lạ lùng của tôi được…

Tôi cho rằng mình có cái may mắn đã có nhiều giấc mơ mầu nhiệm. Nhờ những giấc mơ này mà tôi có hứng thú để đi tìm kiếm những hiện tượng có tính cách TÂM LINH. Sau vụ gọi hồn và nhiều giấc mơ như báo tin cho tôi, cho nên tôi thực sự tin là có linh hồn. Vì sinh ra trong một gia đình mẹ gốc Phật Giáo, bố gốc “Atheist” nên khi nghe những câu chuyện tâm linh trong Phật Giáo, tôi cho rằng đó là chuyện hoang đường, giả tưởng.

Hồi trẻ khi tôi nghe các truyện thì cho nó đi vào tai trái, rồi cho nó đi ra qua tai phải. Khi nghe một số người đả phá những câu truyện này theo kiểu CSVN đấu tố “địa chủ”, tôi cũng hãi họ luôn.

Lớn lên, sau khi đã đi dậy học, tôi tự hứa: mình đi tìm chân lý, không đả phá và cũng không tin trừ trường hợp tự mình cảm nhận, tự mình kiểm chứng đâu là sự thật.

Cha mẹ chúng tôi có tất cả 7 anh em chúng tôi, 6 trai và một gái. Một anh trai của tôi (anh Hán trong mục “Gọi hồn”) chết trẻ khi mới 6 tuổi. Tôi là đứa con trai áp út hay được bố mẹ “về thăm nhiều nhất”. Hồi còn bé (mẹ tôi mất lúc tôi 13 tuổi), mẹ thường hay “vén mùng, ngồi bên giường ngủ để “thăm” tôi. Thân phụ tôi đã “gà trống nuôi con” khi cụ 60 tuổi (mẹ tôi mất lúc bà 50 tuổi).

Tôi không là “con cưng” của thân phụ khi còn nhỏ dại, nhưng trong 40 năm cuối đời của cụ, cụ có vẻ thương tôi nhiều nhất, vì tôi hay bị “lận đận”, vì cái ngôi sao “quả tạ” nó đì tôi. Định mệnh cuộc đời đã “an bài” không cho bố con được gần nhau những năm cuối cuộc đời, cụ thích ngồi nói chuyện đời với tôi.

Điểm “son” trong những năm sau khi cụ đã mất (1988): mỗi lần gặp chuyện buồn hay bị tức tối về một điều gì đó, y như là tối hôm đó tôi nằm mơ ngủ “thấy” cụ đứng ngay trước mặt hay bên cạnh tôi. Không hề “nhìn thấy” cụ đang đến hay đang đi. Chỉ “thấy“ cụ ở ngay bên tôi, mặt mũi hiền từ, tóc bạc, chẳng nói với tôi điều gì mà chỉ lặng lẽ nhìn tôi mà thôi. Tôi không hề sợ hãi, mà lại còn cảm thấy rất thoải mái. Tôi cho rằng “định mệnh” đã chia rẽ cha con tôi thì bây giờ cụ đang sống ngay bên trong tôi.

Một điều kỳ lạ nữa: tôi có thói quen hay thích đi vào xem những vườn tược có vẻ u ám. Trong nhiều giấc mơ, đi như vậy thấy hơi “ớn cái xương sườn” nhưng mà lạ thay, tự nhiên lại “nhìn” thấy cụ đang đi bên cạnh tôi rất hiền từ, nhìn tôi mà chẳng nói một lời!

Thế là hai bố con chúng tôi thanh thản đi dạo quanh cái vườn đó, chẳng sợ ma quỷ gì nữa.

Trong giấc một mơ tôi thấy tôi đang ở trong vườn của cái “matrimonial home” cách đây khoảng 30 năm (tôi quyết định bán cái nhà đó trước khi ly dị). Chính cụ đã “báo mộng” cho tôi biết nên bán nó đi, chẳng có tốt gì cho tôi đâu, nếu tôi cứ níu kéo cái “nghiệp dĩ” này.  Đang đứng dưới cái cây “cherry blossom” bỗng thấy cụ đứng ngay bên cạnh. Cụ đang đứng giữ một cái “stand” chứa một chồng sách về tâm linh viết băng tiếng Anh. Tôi nhìn thấy gáy của các bìa sách. Tôi cũng “nhìn thấy” cái danh sách với chữ viết của chính tôi trình bầy phần nội dung của những bài mà tôi sẽ viết về tâm linh.

Nhìn thấy thân phụ và mấy cái tờ giấy của tôi đã được stapled nằm ngay ngắn trên đống sách đặt trên cái giá sách, tôi thấy vui chi lạ. Không hề sợ hãi. Mấy hôm sau, sau suy nghĩ hoài nghĩ hoài về giấc mơ, tôi mới “ngộ” ra điều này: chính cụ là người ra hiệu cho tôi biết nên dẹp cái vụ làm Youtubes đi để mà còn có thì giờ viết về tâm linh! Tôi mỉm cười với Papa:” OK, Papa! Con sẽ làm như lời Cụ dặn.”

Ngờ đâu, từ năm 2016 cho đến cuối năm 2019, tôi đã phải bận bịu với công viêc xây dựng Tượng Đài Thuyền Nhân.

Trong thời buổi này, bài thơ dưới đây đã được viết ra qua ba đợt “mơ ngủ” khác nhau:

TRI ÂN, TƯỞNG NIỆM, CỘI NGUỒN                                                       

GRATITUDE, COMMEMORATION, ORIGIN

Bài thơ này

This poem

Đã được phôi thai trong rất nhiều đêm.

Was written during many a night.

Trong cơn ngủ say,

During my deep sleep

Tôi đã thấy

I saw floating

Bập bềnh trong đầu óc

In my mind

Một ngôi mộ bằng granite mầu hồng

A tomb made of pink granite

Lững lờ trôi trong không gian.

Wandering in space.

Tôi không hề sợ hãi

Without fear

Bình thản mà ngắm nhìn nấm mồ

I was lying still to watch the tomb

Nổi trôi trong đầu óc.

Drifting in my head.

Một nấm mồ mầu hồng

The pink granite tomb

Bồng bềnh trong nhiều đêm khác nhau.

Floating – night after night.

Thế rồi,

Then

Cũng trong nhiều giấc ngủ nửa đêm về sáng

Also during my midnight slumbers

Trong đầu óc đã hiện ra

In my mind loomed

Một màn đêm tối đen

A pitch-dark night

Ở phía dưới

At the bottom

Với phần xám xịt

And a dull-gray part

Ở phía trên.

On top.

Trong cái màn đêm đó,

In that pitch-dark night

Là những đốm lờ mờ

Were blurry specs

Trông giống như những que củi ngắn

Shaped like short wooden sticks                      

Lững lờ, bập bềnh trôi

Floating aimlessly

Trong khoảng trống không gian vô định.

In the immense space

Tôi không hề sợ hãi

I was not scared

Nhưng cảm nhận thấy lòng buồn vô hạn.

But overwhelmed by sadness.

Cảnh vật này

This sight

Đã theo tôi

Had followed me

Tự đêm này qua đêm khác.

Night after night. 

Thế rồi,

Then came

Lại có nhiều đêm

Many nights

Trong giấc ngủ bình thường,

In my sleep

Lúc trời sắp rạng đông.

At the break of dawn I saw

Những xác người

Human bodies

Không có đầu lâu

Without their heads

Bập bềnh trôi theo giòng nước.

Bobbing in the sea

Xót xa vô cùng

A tremendous sorrow arose in me

Giấy bút nào tả được

No words could express

Nỗi niềm xót thương này.

This gnawing pain

Những giấc mơ

Dreams like these  

Tiếp tục theo tôi

Kept recurring

Đêm này qua đêm khác.

Night after night.

Tôi chợt hiểu và nguyện cầu:

Intuitively, I understood and prayed:

“Hỡi các oan hồn mất xác lúc vượt biên,

“Pitiful spirits of freedom-seekers who perished at sea

Tôi hứa sẽ làm

I promise to you

Một điều gì đó

I shall do something

Để các vong linh vất vưởng

So that you, woeful lost souls

Có nơi trở về hội tụ

May have a place to be together

Để dương gian tưởng nhớ.”

 And remembered by the living.”

Chúng tôi đi xin miếng đất

We are acquiring a piece of land

Xây dựng tượng đài

As the site of a monument in your memory

Để tri ơn Canada và thế giới

As a token of gratitude to Canada and the world

Đã cưu mang mạng sống Thuyền Nhân.

That have saved myriad lives of boat-people.

Cho các vong linh người bị chết oan nghiệt

As a place for the wandering spirits

Có nơi hội tụ.

of those who perished at sea to meet.

Để dương gian

For the world

Cầu nguyện cho các oan hồn

To pray for their expeditious

Được vãng sinh

Ascension to the land of eternal peace

Để nhắc nhở con cháu sau này

As a reminder to our offspring

Không nên sống bạo tàn

To renounce tyranny

Cho đời sống dương gian

To bring to the world

Được an bình, êm ấm.

Peace and happiness

Hỡi Thế Giới Tâm Linh:

To the Afterworld:

Chúng tôi xin thắp nén hương lòng

Burning incense within ourselves

Cầu nguyện cho các vong linh

We pray for the lost souls

Sớm được siêu thoát.

An expeditious trip to the land of eternal peace

Cát bụi ai cũng trở về,

To dust everyone will return

Vong linh vất vưởng người đời nhớ cho.

Remember the wandering spirits.

Công bằng, bác ái, tự do

Equality, compassion, freedom

Xin người dương thế sống cho nhân hòa.

May the world exist in harmony.

Đàm Trung Phán

Tháng Tư/April, 2016

Translation into English:

Dr. Dam Trung Phap, Professor Emeritus

HAPPY NEW YEAR 2020 !

MERRY CHRISTMAS AND HAPPY NEW YEAR 2019 – VBPMA PROJECT BUILT AND COMPLETED ON TIME – TƯỢNG ĐÀI ĐÃ XÂY XONG TRƯỚC MUÀ TUYẾT RƠI 2019

PHOTO JOURNAL – PHÓNG SỰ BẰNG HÌNH:

A.

GROUND BREAKING CEREMONY + All CONSTRUCTION LINKS – UP TO NOV.08, 2019

1.0

2019-06-11 – GROUND BREAKING CEREMONY OF THE VIETNAMESE BOAT PEOPLE MONUMENT IN MISSISSAUGA, CANADA — LỄ ĐỘNG THỔ CỦA TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN:

http://thuduc-ontario.ca/folder/tntnvn/ledongtho/index.html

2.0

DELAYED CONSTRUCTION NOW PROGRESSING – STARTING DATE: SEP. 18, 2019 — DIÊN TRÌNH XÂY CẤT BỊ ĐÌNH TRỆ – KHƠI CÔNG: SEPT. 18, 2019

2.1

https://photos.app.goo.gl/HysW2JssqNSLQEW17

2019-09-18 –VBPMA’S CONSTRUCTION FINALLY GOT STARTED – WHAT A GOOD FEELING! Khởi công chậm cả tháng trời

2.2

https://photos.app.goo.gl/krqS4MJcEsiDXfSMA

2019-09-20 – VBPMA TREE PROTECTION FENCING –  Hàng rào xung quanh cây

2.3

https://photos.app.goo.gl/RuNnmXEm233YwZuS9

2019-09-24, 25, 26 -EXCAVATION-FOOTING – FOUNDATION CONCRETE WORKS – Đào móng trườc khi đổ concrete

2.4

https://photos.app.goo.gl/R6X9C5RmWDHeqYiy6

2019-09-30 – VBPMA ACTIVITIES FROM SEPT.18 TO SEPT.30, 2019

2.5

https://photos.app.goo.gl/R6X9C5RmWDHeqYiy6

2019-09-30 – VBPMA ACTIVITIES FROM SEPT. 18 TO SEPT. 30, 2019 – Đợt xây cất từ ngày 18 đến 30 tháng 9, 2019

2.6

https://photos.app.goo.gl/2Rp2A8uzNC4TU39k6

2019-10-4/5/6/7 – VBPMA REINFORCED CONCRETE WORKS ON PEDESTAL, BENCHES, CIRCULAR CENTRAL AREA – Móng, Bệ, Ghế ngồi, Xung quanh Tương Đài đưọc xây bằng concrete với các thanh sắt cho bền vững.

2.7

https://photos.app.goo.gl/2Rp2A8uzNC4TU39k6

2019-10 – 4/5/6/7 – VMBPMA VIDEO CLIPS ON THE CONSTRUCTION OF PEDESTAL, BENCHES, CIRCULAR AREA – TV INTERVIEW – Phóng sự bằng Video clips cho phần xây bề đài, phần ghế ngồi, phấn concrete xung quanh Tường Đài và Phỏng Vấn Ban Xây Cất của HTNTN và Thành Phố Mississauga.

2.8

https://photos.app.goo.gl/PYWenBpWCVm2Wjcx8

2019-10-10 – VBPMA’S 3 WALK WAYS EXCAVATION

2.9

https://photos.app.goo.gl/z2jiWW1vCmckqxas7

2019-10-13,14 – VBPMA CONCRETE BENCHES – ENGRAVING ON GRANITE FACES IN ENGLISH AND VIETNAMESE

2.10

https://photos.app.goo.gl/cPpwemZxvssLhaMc9

2019-10-16, 17, 18 – CIRCULAR AREA CONCRETE WORKS

2.11

https://photos.app.goo.gl/xECBGbRvK1BRRYTL9

2019-10-28 – PHOTOS – CONCRETE POURING FOR THE 3 WALK WAYS

2.12

https://photos.app.goo.gl/kisyegxsh4pGLvQVA

2019-10-29,30…3 BENCHES AND PEDESTAL INSTALLATIONS, STEP BY STEP

2.13

https://photos.app.goo.gl/o4QGxhPbKsZQDRhS8

2019-11-02 – INSTALLATION OF 5 GRANITE FACES

2.14

https://photos.app.goo.gl/u2rjBrZTj98CGzYo7

2019-11-04- INSTALLATION OF THE GRANITE PENTAGON TOP

2.15

https://photos.app.goo.gl/HmdaTaqoNp3FKtEB9

2019-11-05 – VBPMA STATUE INSTALLATION

2.16

https://photos.app.goo.gl/S8kR6pAjuSw77jR79

2019 -11- 06 – SODDING – CAULKING – INSPECTION – CITY STAFF

B. UNVEILING CEREMONY – NOV. 9, 2019

VBPMA’S UNVEILING CEREMONY – NOV.9, 2019 – PART 1 – Khánh Thành 1

VBPMA’S UNVEILING CEREMONY – NOV. 9, 2019 – PART 2 – Khánh Thành

***

UNVEILING CEREMONY – DHS’S BULLETIN – DTP YOUTUBE

http://thuduc-ontario.ca/folder/khanhthanh-tdtn/index.html

C. PHOTO LINKS – UNVEILING CEREMONY:

NOV.9, 2019 – GOOGLE PHOTO LINKS- VBPMA UNVEILING CEREMONY

1.0

https://photos.google.com/share/AF1QipPPp8uTB91KkFfV-5KnIcTvDPF7IlEwnnxXkt40df9yb9RHqq7KzPdK77zElKc0XA?key=NnhGbDkxRVJGcVJULWU5UGR2N2huTHRsWGViMVdR

Lễ Khánh Thành Tượng Đài Thuyền Nhân VN – Mississauga (by Đỗ Nghĩa)

2.0

_HA_9590

Lễ Khánh Thành Bức Tượng Thuyền Nhân Việt Nam tại Mississauga, Paul 20031

3.0

https://photos.google.com/share/AF1QipMPvkdVzfW4t4dWA_sohm8HYpnKjqbiNk7OA_mDlryjeodFudNyRgj3bf280HdbiQ?key=X29pcUVXVmIxSzR6V2ptZFRxZ1B5cVdEbE53MEJR

Vietnamese Boat People Monument Unveiling Ceremony/Lễ Khánh Thành Tượng Đài Thuyền Nhân VN tại Mississauga

4.0

https://photos.google.com/share/AF1QipN8jW4KqoWSeNaSz200ohT80ns1QDWclMnfa8P47XjPaRp83qZMHiNkT4HWAIjIuQ?key=M2tqWDB4TnBDREVYU3M1NFU2M3hzbGE4M2Y3Y1pR

Le Khanh Thanh Tuong Dai Thuyen Nhan 2019 – Tran Thai Luc

5.0

https://drive.google.com/drive/folders/1eo7CZ84OYr7szn_XXU3s_jkWsG_IYsjI

    Le Khanh Thanh , Tran Thong

6.0

https://photos.google.com/share/AF1QipM9gDEiwjl5QX75eUXcFWSaex-kNGL7KR0vWwyfwKeiTY3DeHgOgm3X8IxrXIr4aw?key=NGFwX2hKaTNiZmsxOTk1Nk0wbVNKZUpYaDJTejVB

Lễ Khánh Thành Tượng Đài Thuyền Nhân VN (by Phú Hữu Nguyễn)

7.0

https://photos.google.com/share/AF1QipP06PWAk-006r1gxFJXE1KAxd3Y2rZJfOEqH67fOT6E5HrkYwXM8VQZQCpcJH396w?key=akQzT2ZPYV94TGRhd1BDNjJGY19vaDNSdGJ4SkJR

Lễ Khánh Thành Tượng Đài Thuyền Nhân VN (by Max Trần)

8.0

https://photos.google.com/share/AF1QipPbr2VnDd0l8_56lt7kqASAs30uKKRBlGBxF1pmQ1UZQbTvWfiJD6UvAxM9rFiDww?key=VV8wcmFqc25RSVI3czBCQm5JbGNMTkNWc29keE9R

Tượng Đài Thuyền Nhân , Van Pham

9.0

https://photos.google.com/share/AF1QipPROihYqBXUvpIe0ANV_GxhY0RpPnqC1-dpetbalCO7HyJjsAn1pFbsj-MPpEx5kQ?key=endleGphdHFMV0FBYlFBczlzV3JxZnVrX25CUzBn

( Diem Huong Tong Hop)

D. FUND RAISINGS

4 MAJOR FUND RAISING GALAS ORGANIZED BY VBPMA (2017, 2018)

1.

http://www.boatpeoplememorial.com/mississauga/2017/07/

2017-07-15 – PHOTOS- HÌNH ẢNH – VBPMA / HTNTN – FUND RAISING GALA NIGHT- ĐÊM GÂY QUỸ

http://thuduc-ontario.ca/Folder/gayquy-tdtn/index.html

TIỆC GÂY QUỸ 1, JULY 15, 2019

2.

http://www.boatpeoplememorial.com/mississauga/2017/11/

HÁT CHO THUYỀN NHÂN/SINGING FOR BOAT PEOPLE

http://thuduc-ontario.ca/folder/hatcho-thuyennhan/index.html

TIỆC GÂY QUỸ 2- NOV.18, 2018 – Do Nhóm Nghệ Sĩ Toronto  và Thân Hữu Thực Hiện

3. http://thuduc-ontario.ca/folder/gayquy-tdtn/gayquy-070418/index.html

HỘI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TỔ CHỨC TIỆC GÂY QUỸ LẦN 3, NGÀY April 07, 2018

4.

ĐÊM GÂY QUỸ 22/9/2018 – FUND RAISING GALA, SEPT. 22, 2018

    Kính mời Quý Vị bấm nút dưới đây để đọc bài viết, xem hình và youtubes: http://thuduc-ontario.ca/folder/gayquy-tdtn/gayquy-220918/index.html http://thuduc-ontario.ca/folder/gayquy-tdtn/gayquy-220918/index.html   VÀI YOUTUBES: https://www.youtube.com/watch?v=s4E0eOEEdNo&feature=youtu.be1:44 / 6:01 Hội Trưởng Hội TNTN Nguyễn Phan Pha chào mừng quan khách.   https://www.youtube.com/watch?v=n1O3QUhZnw4&feature=youtu.be   ( Gs … Continue reading ĐÊM GÂY QUỸ 22/9/2018 – FUND RAISING GALA, SEPT. 22, 2018

http://www.boatpeoplememorial.com/mississauga/wp-content/uploads/2017/06/cropped-Icon-32x32.png

Vietnamese Boat People Memorial Association

ĐÊM GÂY QUỸ 22/9/2018 – FUND RAISING GALA, SEPT. 22, 2018\

ĐÊM GÂY QUỸ 22/9/2018 – FUND RAISING GALA, SEPT. 22, 2018

E.  GRATITUDE, COMMEMORATION, ORIGIN – TRI ÂN, TƯỞNG NIỆM, CỘI NGUỒN – A poem by Phan Dam

GRATITUDE, COMMEMORATION, ORIGIN – TRI ÂN, TƯỞNG NIỆM, CỘI NGUỒN

Kỹ sư Nguyễn Hùng Quân: Nhớ ơn Thầy, Trả ơn Đời

NGUỒN: THỜI BÁO TORONTO, NOV.28, 2019

VPY

Trong buổi lễ khánh thành Tượng đài Thuyền nhân, hôm 09/11, do Hội Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam (Vietnamese Boat People Monument Association – VBPMA) tổ chức trong khuôn viên thư viện Dixie-Burnhamthorpe, ít ai biết đến kỹ sư Nguyễn Hùng Quân, một thành viên thầm lặng trong nhóm thực hiện dự án này, chỉ xuất hiện khi công trình sắp bước vào giai đoạn thi công nhưng ông giữ một vai trò quan yếu về phương diện kỹ thuật. 

Nguyễn Hùng Quân, dân Sài gòn, sinh tại Quận 5, học tiểu học Cầu Kho, đệ nhất cấp ở trường trung học kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ ( trước đó có tên là Thực Nghiệp) , lên đệ nhị cấp học Kỹ thuật Cao Thắng, tốt nghiệp kỹ sư Công nghệ khoá 17, Trung Tâm Kỹ Thuật Bách khoa Phú Thọ , ghi danh học Cao học ở Viện đại học Toronto và ra trường với văn bằng Cao học Kỹ thuật (Master of Engineering) vào năm 1984.


Hành trình hội nhập xã hội Canada.

Có nghề nghiệp chuyên môn nhưng không có cơ hội để được thu dụng là hoàn cảnh chung của những chuyên viên miền Nam sau ngày Sài Gòn thất thủ và cũng không thể sống dưới chế độ đảng trị, kỹ sư Nguyễn Hùng Quân bỏ nước ra đi tìm Tự do, với mong ước sẽ đến được vùng đất hứa.

“Tôi vượt biển bằng tàu ngày 19 tháng 12 năm 1979 ở cửa biển Bình Đại, Mỹ tho, đến Pulau Bidong mùa Noel 1979, được Canada nhận và đến Ba Ngòi Trois-Rivières, tỉnh bang Quebec ngày 13 tháng 6 năm 1980. Tốt nghiệp COFI (Centres d’orientation et de formation des immigrants- Trung tâm đào tạo và hướng dẫn thường trú nhân) sau 6 tháng, học được ba mớ tiếng Tây, tôi quyết định chuyển về cư ngụ ở Toronto vì tiếng nào cũng là ngôn ngữ thứ nhì nhưng tiếng Anh có nhiều vùng sử dụng hơn. Lập gia đình năm 1981 tại Toronto với cô bạn đi cùng thuyền, ở cùng nhà trên đảo Bidong”, ông Nguyễn Hùng Quân, hồi tưởng.

“Welcome House (cơ quan cung cấp các dịch vụ cần thiết cho tân thường nhân nhập cư Canada) giới thiệu làm họa viên được 3 tháng, nhưng tôi tự ý xin nghỉ việc vì không “xử lý” được tiếng “réo gọi” liên tục của chuông điện thoại. Chị Dung ở Hội Người Việt gửi tôi đến hãng Muffler, chuyên làm ống “bô” xe, nhưng sau 6 tháng, tôi bị đuổi vì làm dở. Sau đó, nhờ một người bạn chỉ dẫn đến xin việc ở hãng Stackpole. Làm một thời gian, được “thăng chức” lên tới trưởng nhóm ca đêm nhưng rồi cũng bị sa thải vì …. kinh tế xuống dốc năm 1981”.

Kinh tế suy thoái vào đầu thập niên 80, thế kỷ trước, khiến cho kỹ sư Nguyễn Hùng Quân mất việc nhưng lại là một dịp may, mang đến cơ hội cho ông trở lại với ngành chuyên môn đã được đào tạo trước năm 1975, nếu không, ông đã phải an phận với chức “trưởng toán” ca đêm.

“Khi bị đuổi ở Stackpole tôi tức muốn khóc vì tôi nghĩ tôi đã làm việc… rất giỏi và tận tụy cho công ty nhưng sau đó nghiệm ra kiểu làm ăn bên Bắc Mỹ, hết việc thì mời ra, cần thì mời lại. Tôi quyết tâm đi qua quỹ đạo khác tìm đường để lấy cho được bằng cấp Canada và phải thông thạo Anh ngữ ít nhất là trong ngành của mình. Tôi xin học Cao học ở đại học Toronto nhưng lúc đó Viện đại học Toronto không công nhận bằng cấp của “Trung tâm Kỹ Thuật Bách khoa Phú Thọ- TTKTPT ” có giá trị tương đương vi TTKTPT chưa phải là viện đại học. Tôi cương quyết tranh đấu xin học Cao học với lý do tôi đã tốt nghiệp Cử nhân ở Việt Nam với chương trình học tương tự như chương trình của Viện đại học Toronto. Tôi đưa ra chứng cứ cho thấy những người Thầy từng dạy tôi đang dạy ở những Đại học nổi tiếng bên Mỹ. Cuối cùng Văn phòng Viện đại học Toronto đồng ý cho tôi … học thử 2 tín chỉ Cao học với điều kiện là kết quả phải được ít nhất B+ mới được tiếp tuc, nếu không thì… ra đi. Thời gian đó là lúc… ăn thua, phải học lại mấy con lăng quăng tích phân (phép tính căn bản trong toán giải tích – nghịch đảo của tích phân là vi phân – PV) sau khi bỏ quên gần 10 năm. Qua con trăng đó,  thì mọi việc êm ả. Tôi và anh bạn nối khố cùng học ở trường Công nghệ là Nguyễn Đăng Hoà tốt nghiệp Master of Engineering in Mechanical (Cao học Kỹ thuật chuyên ngành Cơ khí) năm 1984.

Đề cập đến lý do chọn ngành Kỹ thuật Cơ khí, kỹ sư Nguyễn Hùng Quân cho biết: “Tôi đâu có dám học ngành khác. Thêm nữa, Mechanical Engineering chú trọng về thiết kế và tôi nghĩ mình là “con nhà nòi ” về vẽ kỹ thuật và thiết kế. Mục đích chánh của tôi lúc đó là có tấm bằng Canada lận lưng và “mua thời gian” để rèn luyện thêm Anh ngữ”.

Gây dựng công ty

“Tôi đi làm cho hãng làm phụ tùng xe hơi gần 2 năm nhưng lúc nào cũng muốn tự kinh doanh riêng nên năm 1986 cùng với một số anh em, chúng tôi mua nhà , sửa, cho thuê và bán lại. Trong thời gian nầy, tôi mới biết là sửa nhà… cần có giấp phép và muốn xin được giấp phép phải là kiến trúc sư có bằng hành nghề (Licensed Architect) hoặc kỹ sư chuyên nghiệp (Professional Engineer, P.Eng) được Hiệp hội Kỹ sư Chuyên nghiệp công nhận. Tôi thi vào Hiệp hội Professional Engineers of Ontario và trở thành hội viên của Hiệp hội này vào năm 1994. Trước đó tôi vẫn lập bản vẽ nhưng phải nhờ một P.Eng. khác ký tên.

Công ty của tôi có danh xưng là “The HQ System Engineering Services” chuyên đảm trách dịch vụ thiết kế, xin giấp phép xây cất, giám sát thi công và kiểm nghiệm công trình xây dựng sau khi hoàn tất công đoạn cuối cùng. Những khách hàng đầu tiên là đồng hương Việt Nam (các tiệm Phở thời 1990) sau đó thì đến cộng đồng Tàu (sau năm 1995, có đợt di dân lớn từ Hongkong qua Toronto) và năm 2000 là các câu lạc bộ ở trung tâm thành phố Toronto”, ông Quân, cho biết về tiến trình thành lậpvà phát triển “The HQ System Engineering Services”.

“Khi bắt đầu thì mình phải dựa vào cộng đồng Việt Nam. Khoảng 1988, đồng bào Việt Nam ở Toronto bắt đầu kinh doanh nhà hàng. Tôi đã vẽ cho hầu hết các tiệm của Phở Mì 99, Phở Đầu Bò lúc đó.  Khó khăn nhất là giai đoạn khởi đầu dựng nghiệp, làm sao cho khách hàng biết đến mình nên phải chấp nhận lãnh những công việc nhỏ và khó với giá rẻ, để “thâm nhập thị trường” và học hỏi kinh nghiệm. Tôi đã phải chịu đòn hơn 3 năm rồi sau đó mới ổn định”, ông Quân nhắc lại quá khứ.Với khả năng chuyên môn, thay vì theo lối mòn, tìm một công việc bình thường, thích hợp với nghề chuyên môn nhưng kỹ sư Nguyễn Hùng Quân đã chọn con đường gian nan bởi vì đó là “cá tánh, tôi quyết định việc rất nhanh và phóng lao thì phải theo lao, còn đi làm công… trước sau gì cũng bị đuổi”.

Trả ơn đời, nhớ ơn Thầy Cô

“Tháng chín năm 2016, khi tham dự văn nghệ gây quỹ cho Làng Dưỡng Lảo ở Rose Theater, trong giờ giải lao, anh Nguyễn Phan Pha chụp tôi khi ra nhận thức ăn (tôi lỡ phần khai vị vì kẹt xe đến trể) và anh nhờ tôi giúp giùm một việc… lớn. Tôi từ chối trả lời vì đang… quá đói. Anh Pha bèn gọi hai phần ăn và kiếm chổ để… vừa ăn vừa bàn. Khi xem qua điều kiện của thành phố Mississauga, tôi nhận lời ngay vì tôi biết là tôi sẽ làm được và Công ty “The HQ System Engineering Services”có thể đáp ứng các yêu cầu của City Mississauga. Sau đó tôi gặp Hội đồng Quản trị (HĐQT) Hội Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam và nhận ra những khuôn mặt rất quen như kỹ sư Đàm Trung Phán, từng cộng tác chung năm 1986, D.s Võ Thành Tân (cùng thời sinh viên… già ở Uof T) Tôi nhận lời không do dự vì đây là một dịp để đền đáp những gì mình đã nhận được từ người dân và đất nước Canada”, kỹ sư Nguyễn Hùng Quân nói về những ngày đầu đến với VBPMA.

“HĐQT có nhã ý mời tôi vào Hội đồng Quản Trị (Board of Directors- BOD) nhưng tôi từ chối vì sợ bị “mâu thuẩn về lợi ích” nhưng tôi hứa, dù không là thành viên của HĐQT, lòng tôi vẫn gắn bó với nhóm xây dựng Tượng đài.HĐQT “hỏi qua giá cả, tôi trả lời lấy giá rẻ làm quen”. Cuối cùng, tôi và HĐQT đã đồng ý làm tờ hợp đồng với giá $0.

Kỹ sư Nguyễn Thành Nguyên là trưởng công trình (project coordinator) còn tôi là kỹ sư phụ trách kỹ thuật (project engineer), sát cánh với chúng tôi còn có kỹ sư Đàm Trung Phán, với thâm niên trong nghề xây dựng và dạy học, đã đóng góp rất nhiều cho dự án tượng đài.

Tôi giúp HĐQT phỏng vấn các nhà thầu, sắp xếp dây chuyền thực hiện dự án, kiểm nghiệm tiến trình thi công công trường và đề nghị sửa chữa khi cần. Sau khi dự án hoàn thành, tôi sẽ phải nghiệm thu công trình và ký bản báo cáo gửi đến City Mississauga.Công việc chính của tôi là giao dịch với thành phố Mississauga những vấn đề liên quan đến kỹ thuật như họa đồ vị trí công trường, cấu trúc tượng đài, giới hạn về chiều cao của tượng đài… và đáp ứng những quy định về khu vực, thiết kế văn hóa, công viên và giải trí, Conservatory, dịch vụ cộng đồng, Easements, lâm viên, giao thông, điện năng, hệ thống thoát nước… 

Nhưng dần dần tôi (bị) hay nói đúng hơn là… được làm thêm chuyện khác như phụ ban gây quỹ, làm giám khảo thi tượng mẫu, và nhất là xen vô thiết kế cho các plaques (cực hơn nhiều vì tôi không rành fonts chữ tiếng Việt. Mệt nhưng mà vui).

Mười ngày trước khi lễ khánh thành, chúng tôi đã phải làm thêm giờ phụ trội để có thể hoàn tất công trình đúng hạn định và phải làm xong trước khi trời trở lạnh hơn. Rất may là dự án đã hoàn tất kịp thời hạn và không vượt quá ngân sách dự chi (một việc rất khó trong ngành xây dựng)”.

Nhìn lại đoạn đường đã đi qua, kỹ sư Nguyễn Hùng Quân, nói thế hệ trẻ mới bước vào đời, chuẩn bị khởi nghiệp: “Điều may mắn nhất cho các em cháu bây giờ là các em cháu đang được lớn lên và nuôi dưỡng trong một môi trường tốt nhất nhì thế giới. Các em cháu có đầy đủ phương tiện từ vật chất đến tinh thần. “Set a goal, build your dream and go for it”( Đặt mục tiêu, xây dựng ước mơ và thực hiện nó”. Cố gắng đừng làm việc gì đi ngược lại với luật pháp. Với những bạn trẻ muốn bước vào lãnh vực kinh doanh, tôi đề nghị mấy em đọc và theo lời hướng dẫn trong cuốn sách rất cũ “The Seven Laws of Success” của Hebert W. Armstrong, đơn giản nhưng thực tế.

Tôi quan niệm rằng cho dù đạt được thành công lớn hay nhỏ, nhưng nếu biết giữ tâm an bình, bạn sẽ thích thú với công việc hơn.

Tuy không còn dự định trong tương lai, nhưng kỹ sư Nguyễn Hùng Quân vẫn có chung một mơ ước của những người Việt trong và ngoài nước: “Tôi đã bị (được) ép về hưu vài năm trước nên không còn dự tính gì nữa. Chỗ nào vui thì tôi nhào dzô, chỗ nào lộn xộn thì dzọt Ước mơ lớn của tôi là nước VN được thật sự tự do dân chủ, dân Việt Nam trong nước không còn bị cai trị bởi chế độ độc tài đảng trị Cộng sản”.

Ông Nguyễn Hùng Quân chuộng nhiều môn thể thao: “Ước mơ nhỏ là đội hockey Toronto Maple Leafs sẽ giành được Stanley Cup năm nay sau khi Raptors The North được vô địch bóng rổ 2019, Bianca Andreescu vô địch tennis US Open, TFC vô địch bóng tròn 2017 và Blue Jays vô địch baseball 1992-1993”.

Sau những năm tranh đấu để sống còn, Nguyễn Hùng Quân tri ơn Thầy Cô, những người đã mở cánh cửa cho ông bước vào đời:“Cám ơn những Thầy Cô Việt Nam Cộng Hòa đã dạy cho tôi căn bản triết lý Nhân Bản, Khai Phóng và Dân Tộc.

Cám ơn các vị Thầy bản xứ đã không những dạy cho tôi những kỹ năng nhưng còn rèn luyện cho tôi cách sống mạnh dạn trong môi trường Bắc Mỹ.

Không có cách nào để trả ơn những vị Thầy nầy.

Tôi có đọc ở đâu đó cách trả ơn hay nhất là “Pay it forward” *

* “Pay it forward”: Thành ngữ thể hiện một triết lý sống đã có từ thời xa xưa, được nhà văn Lily Hardy Hammond nói đến trong quyển “In the Garden of Delight” xuất bản năm 1916. Cụm từ này được phổ thông hóa sau khi tiểu thuyết gia Catherine Ryan Hyde phát hành cuốn “Pay It Forward” năm 1999, sau đó quyển truyện này đã được chuyển thể thành phim cùng tên vào năm 2000. 

“Pay it forward” mang ý nghĩa nhân văn “sống là biết cho đi”, khi ai đó làm ơn hay làm một điều tốt cho mình, thay vì trả ơn cho chính ân nhân ban đầu, mình có thể trả ơn đó cho mộ t người khác. Nợ ơn đời trước, trả lại đời sau.

VPY

The Canadian South East Refugee Historical Project: Hearts of Freedom – NHỮNG TRÁI TIM CHO TỰ DO




Những Trái Tim cho Tự do:
 
 Thưa quý ông bà:
 
 Chúng tôi  xin trân trọng kính nhờ ông bà chuyển tiếp lá thư quan trọng có một không hai dưới đây.
 
 Đại học  Carleton ( Ottawa,  Canada) đang bảo trợ dự án ”Future Funder” ( tài trợ cho tương lai)  để dân chúng Canada ủng hộ cho dự án “ Những Trái Tim Cho Tự Do” ( Hearts of Freedom) .
 
Số tiền quyên được sẽ được sử dụng trong phần phỏng vấn cộng đồng (Việt Nam) tại các tỉnh bằng Miền Tây của Canada  để tiếp  nối  cho 126  phần phỏng vấn đã hoàn tất  tại Quebec, Ontario và Manitoba trong mấy tháng qua.
 
Chúng tôi cũng xin nhờ quý vị tiếp tay giúp chúng tôi liên lạc với các cộng đồng,  các hội đoàn,  các đồng sự sự,  các bà con lối xóm,  họ hàng … để họ cùng nhau biết đến chương trình tài trợ này. 
 
Nếu cá nhân quý vị  hay các hội đoàn của quý vị có Facebook,  Instagram,  hay Twitter,  quý vị có thể chuyển đến nhiều nơi trên thế giới và Đại học Carleton sẽ gửi đến những người ủng hộ tờ biên lai để họ có thể khai thuế  ít hay nhiều tùy theo phần ủng hộ.
 
Kính mời quý vị vào xem trang mạng lưới dưới đây :
 
 https://futurefunder.carleton.ca/campaigns/the-canadian-south-east-refugee-historical-project-hearts-of-freedom 
(The Canadian South East Refugee Historical Project: Hearts of Freedom)
 
Xin quý vị vui lòng ghé thăm trang mạng này và đóng góp qua chương trình “ Giving Your Day” vào ngày mùng 3 tháng 12,  2019.   Trong ngày này  đại học Carleton  sẽ trao tặng:
 
 – Can. $1000.00  cho người đóng góp đầu tiên vào đúng lúc nửa đêm và Can. $1000  cho người đóng đúng lúc 12 giờ trưa.
 
– Can. $ 1000.00 cho người đóng có ở xa nhất đại học Carleton.  
 
–   16 giải trị giá Can.$ 500.00 cho những ai dùng Instagram hay Twitter  với hashtag #TogetherForGood  trong ngày ngày mùng 3 tháng 12 năm 2009.
 
 Đây là cơ hội duy nhất để tất cả chúng ta trên toàn thế giới cùng nhau chung sức tạo một tiếng vang xây dựng cộng đồng .
 
TIN VUI:
 
Đại học Carleton sẽ góp thêm (match) Can.$ 500,000.00 ngay sau khi họ đã nhận được Can.$ 500,000.00 đầu tiên. Có nghía là phần đóng góp của Quý Vị sẽ được tăng gấp đôi nếu chúng ta đoat đươc mục tiêu này
 
Kính mời Quý Vị yểm trợ mau mắn và mạnh mẽ cho Chương Trình Tài Trợ “Hearts of Freedom” dưới đây:
 
https://futurefunder.carleton.ca/giving-tuesday-challenges/ 
 

Xin chân thành cám ơn Quý Vị đã đóng góp
 
THI BACH MAI NGUYEN
 
The Research Committee
The Canadian Southeast Asian Refugee Historical Research Project: Hearts of Freedom
School of Social Work
Carleton University
https://heartsoffreedom.org/    
 

XIN GIƠI THIỆU:

http://thuduc-ontario.ca/folder/duan-carleton/index.html

Dear Friends,   

We need your help to distribute a message about an important and time-sensitive opportunity.  Carleton University is sponsoring a Future Funder initiative to facilitate fund-raising from the general public to support the Hearts of Freedom project. These funds will be used to conduct community interviews in western provinces to supplement the 126 interviews already completed in Québec, Ontario, and Manitoba over the past few months.     We are asking you to reach out to your community networks, organizations, colleagues, neighbors and families and share the following links about this funding opportunity. If you or your organizations have Facebook, Instagram or Twitter accounts, that may be an efficient way to share the information to a larger audience across Canada and around the world. Carleton University will issue charitable donation receipts for all donations, no matter how large or small. This link provides important information about the scope and impact of the project: 

  https://futurefunder.carleton.ca/campaigns/the-canadian-south-east-refugee-historical-project-hearts-of-freedom  
The Canadian South East Refugee Historical Project: Hearts of Freedom

Hearts of Freedom is hosted in the School of Social Work at Carleton University.
And please check out the following link on the importance of making donations online on December 3, 2019, called Giving Tuesday, because Carleton University has put forth a series of exciting incentives. Here are a few examples: The first donation at midnight and at noon wins an extra $1,000; The project with the donation coming from the furthest distance to Carleton University wins an additional $1,000 – so reach out to your contacts around the world; 16 prizes of $500 will be drawn from Instagram or Twitter posts with the hashtag #TogetherForGood on that day that reinforce our social commitment to leave a mark in our community and beyond.

Please check the link for more details. And, as added incentive, Carleton University will match the first $500,000 in donations across all projects (up to $10,000 per donation), so your donations will go twice as far on that day. So get in quickly with your Hearts of Freedom donations.  

https://futurefunder.carleton.ca/giving-tuesday-challenges/  

Thank you for your continued support.  
 
THI BACH MAI NGUYEN
 
The Research Committee
The Canadian Southeast Asian Refugee Historical Research Project: Hearts of Freedom
School of Social Work
Carleton University
https://heartsoffreedom.org/    

VBPMA’S UNVEILING CEREMONY, NOV.9, 2019 – LỄ KHÁNH THÀNH TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN TẠI MISSISSAUGA, CANADA

We are pleased to invite you to view the following links and youtubes:

http://thuduc-ontario.ca/folder/khanhthanh-tdtn/index.html

( UNVEILING CEREMONY – DHS’S BULLETIN)

VBPMA’S UNVEILING CEREMONY – NOV.9, 2019 – PART 1 – Khánh Thành 1

VBPMA’S UNVEILING CEREMONY – NOV. 9, 2019 – PART 2 – Khánh Thành 2

****

GOOGLE PHOTO LINKS UNVEILING CEREMONY – NOV.9, 2019

1.0

https://photos.google.com/share/AF1QipPPp8uTB91KkFfV-5KnIcTvDPF7IlEwnnxXkt40df9yb9RHqq7KzPdK77zElKc0XA?key=NnhGbDkxRVJGcVJULWU5UGR2N2huTHRsWGViMVdR

Lễ Khánh Thành Tượng Đài Thuyền Nhân VN – Mississauga (by Đỗ Nghĩa)

2.0

_HA_9590

Lễ Khánh Thành Bức Tượng Thuyền Nhân Việt Nam tại Mississauga, Paul 20031

3.0

https://photos.google.com/share/AF1QipMPvkdVzfW4t4dWA_sohm8HYpnKjqbiNk7OA_mDlryjeodFudNyRgj3bf280HdbiQ?key=X29pcUVXVmIxSzR6V2ptZFRxZ1B5cVdEbE53MEJR

Vietnamese Boat People Monument Unveiling Ceremony/Lễ Khánh Thành Tượng Đài Thuyền Nhân VN tại Mississauga

4.0

https://photos.google.com/share/AF1QipN8jW4KqoWSeNaSz200ohT80ns1QDWclMnfa8P47XjPaRp83qZMHiNkT4HWAIjIuQ?key=M2tqWDB4TnBDREVYU3M1NFU2M3hzbGE4M2Y3Y1pR

Le Khanh Thanh Tuong Dai Thuyen Nhan 2019 – Tran Thai Luc

5.0

https://drive.google.com/drive/folders/1eo7CZ84OYr7szn_XXU3s_jkWsG_IYsjI

    Le Khanh Thanh , Tran Thong

6.0

https://photos.google.com/share/AF1QipM9gDEiwjl5QX75eUXcFWSaex-kNGL7KR0vWwyfwKeiTY3DeHgOgm3X8IxrXIr4aw?key=NGFwX2hKaTNiZmsxOTk1Nk0wbVNKZUpYaDJTejVB

Lễ Khánh Thành Tượng Đài Thuyền Nhân VN (by Phú Hữu Nguyễn)

7.0

https://photos.google.com/share/AF1QipP06PWAk-006r1gxFJXE1KAxd3Y2rZJfOEqH67fOT6E5HrkYwXM8VQZQCpcJH396w?key=akQzT2ZPYV94TGRhd1BDNjJGY19vaDNSdGJ4SkJR

Lễ Khánh Thành Tượng Đài Thuyền Nhân VN (by Max Trần)

8.0

https://photos.google.com/share/AF1QipPbr2VnDd0l8_56lt7kqASAs30uKKRBlGBxF1pmQ1UZQbTvWfiJD6UvAxM9rFiDww?key=VV8wcmFqc25RSVI3czBCQm5JbGNMTkNWc29keE9R

Tượng Đài Thuyền Nhân , Van Pham

9.0

( Diem Huong Tong Hop)

https://photos.google.com/share/AF1QipPROihYqBXUvpIe0ANV_GxhY0RpPnqC1-dpetbalCO7HyJjsAn1pFbsj-MPpEx5kQ?key=endleGphdHFMV0FBYlFBczlzV3JxZnVrX25CUzBn

Đàm Trung Phán

Những bài viết .....

Shop Mỹ Phẩm - Nước Hoa

Số 7, Lê Văn Thịnh,Bình Trưng Đông,Quận 2,HCM,Việt Nam.

Công phu Trà Đạo

Trà Đạo là một nghệ thuật đòi hỏi ít nhiều công phu

tranlucsaigon

Trăm năm trong cõi người ta...

Nhạc Nhẽo

Âm thanh.... trong ... Tịch mịch !!!

~~~~ Thơ Thẩn ~~~~

.....Chỗ Vơ Vẩn

Nguyễn Đàm Duy Trung's Blog

Trang Thơ Nguyễn Đàm Duy Trung

%d bloggers like this: